Nghiên cứu đặc điểm sinh học, diễn biến mật độ và biện pháp phõng trừ sâu đục cuống quả vải [(conopomorpha sinensis bradley (lepidoptera: gracillariidae)] trên vải lai chín sớm tại Phù Cừ, Hưng Yên

Năm 2017 tại Phù Cừ - Hưng Yên, trưởng thành SĐCQV trên vải lai chín sớm có 2 đỉnh cao mật độ, đỉnh cao thứ nhất di n ra vào thời điểm hoa cái vừa kết thúc thụ phấn với mật độ là 3,8 con/cành, đỉnh cao thứ hai di n ra vào thời điểm quả đỏ vai với mật độ là 5,24 con/cành. Năm 2018, trưởng thành SĐCQV trên vải lai chín sớm xuất hiện muộn hơn so với năm 2017 gần 1 tháng, đỉnh cao thứ nhất di n ra vào ngày 10/4 nhưng với mật độ thấp hơn nhiều so với năm 2017 và chỉ là 0,8 con/cành. Tuy nhiên, đỉnh cao thứ hai cũng di n ra vào thời kỳ quả vải đỏ vai nhưng mật độ là 7,67 con/cành cao hơn rất nhiều so với năm 2017 và kéo dài hơn, mật độ của chúng vẫn đạt 4,83 con/cành vào ngày 23/5/2018. Sử dụng các loại thuốc xông hơi, tiếp xúc, vị độc (Secsaigon 25 EC) phun dưới tán cây và những bụi rậm xung quanh vườn trừ trưởng thành SĐCQV trên vải lai chín sớm sau khi phun thuốc lưu dẫn, thấm sâu (Virtako 40 WP) phun chùm trên tán cây vào thời điểm sau khi trưởng thành SĐCQV lai vũ hóa 2 ngày cho hiệu lực trừ sâu tốt nhất là 83,95% sau 3 ngày. Năm 2017 đã giảm được 1 lần phun thuốc trong mô hình và năm 2018 giảm được 2 lần phun thuốc so với đối chúng, nhưng tỷ lệ quả bị hại trong mô hình vẫn thấp hơn nhiều so với đối chứng. Năm 2017 tỷ lệ quả bị hại trong mô hình chỉ là 7,14% và năm 2018 chỉ còn là 4,15 %, trong khi đó tỷ lệ quả bị hại ở đối chứng cao hơn rất nhiều và tương ứng là 32,6 % và 15,36%.

pdf7 trang | Chia sẻ: hachi492 | Lượt xem: 10 | Lượt tải: 0download
Bạn đang xem nội dung tài liệu Nghiên cứu đặc điểm sinh học, diễn biến mật độ và biện pháp phõng trừ sâu đục cuống quả vải [(conopomorpha sinensis bradley (lepidoptera: gracillariidae)] trên vải lai chín sớm tại Phù Cừ, Hưng Yên, để tải tài liệu về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
Kết quả nghiên cứu khoa học BVTV - Sè 5/2018 21 NGHIÊN CỨU ĐẶC ĐIỂM SINH HỌC, DIỄN BIẾN MẬT ĐỘ VÀ BIỆN PHÁP PHÕNG TRỪ SÂU ĐỤC CUỐNG QUẢ VẢI [(Conopomorpha sinensis Bradley (Lepidoptera: Gracillariidae)] TRÊN VẢI LAI CHÍN SỚM TẠI PHÙ CỪ, HƢNG YÊN Study on Biological Characteristics, Population Dynamic and Control Measures of Litchi Fruit Borer [(Conopomorpha sinensis, Bradley (Lepidoptera: Gracillariidae)] at Phu Cu District, Hung Yen Province Nguyễn Thị Thủy 1 , Phạm Duy Trọng 1 , Nguyễn Thị Hoa 1 , Hoàng Đình Hùng 2 Trần Duy Đông 2 , Nguyễn Thị Mai Lƣơng 1 Ngày nhận bài: 28.07.2018 Ngày chấp nhận: 16.08.2018 Abstract The life cycle of litchi fruit borer at Phu Cu District, Hung Yen province was from 23.07 days to 26.03 days at 30.4 o C and 78.2% RH; 26.8 o C and 76.24% respectively. In 2017, the adults had 2 density peaks, the first peak with 3.8 individuals/branch occurred on March, 15 th and the second peak, with 5.24 individuals/branch on May, 10 th . In 2018, the adults emerged one month later than those in 2017, the first peak with 0.9 individuals/branch occurred on April, 10 th and the second peak with 7.67 individuals/branch on May, 12 nd . The highest efficacy was obtained when spraying of the stomach poison, fumigant, contact pesticide under tree canopy, and the translocation pesticides spray to upper tree canopy 2 days after peaks of the adults Keywords: Contact, Conopomorpha sinensis, early hybrid litchi, fumigant, insecticide, Litchi fruit borer, stomach poison, translocation 1. ĐẶT VẤN ĐỀ * Sâu đục cuống quả vải Conopomorpha sinensis (Bradley) là đối tượng gây hại nghiêm trọng và thường xuyên trên cây vải, chúng đặc biệt gây hại nặng trên những giống vải chín sớm (Nguy n Văn Liêm và nnk, 2014; Dương Tiến Viện, 2008; Marie Joy Schulte Martin, Joachim Sauerborn, 2007; Mitra, 2002). Sâu đục cuống quả vải (SĐCQV) không những gây thất thoát rất lớn về sản lượng mà còn gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến chất lượng vải quả. Tỷ lệ quả vải bị hại do SĐCQV trên vải chín sớm là 23,7 %-36,5%, trên vải chính vụ là từ 37,6-45,8% và trên vải vụ muộn là 65,2-78,4% (Đào Đăng Tựu và nnk,2000,2003) Huyện Phù Cừ tỉnh Hưng Yên có tổng diện tích trồng vải lai chín sớm khoảng 600 ha, tập trung chủ yếu ở hai xã Tam Đa và Minh Tiến. Vải lai chín sớm Phù Cừ do có lợi thế chín sớm từ 15 đến 20 ngày, nên giá thành vải thường cao gấp 2-3 lần so với vải thiều chính vụ. Những năm gần đây, SĐCQV phát sinh và hại nặng trên toàn diện tích vải chín sớm Phủ Cừ với tỷ lệ quả bị 1. Viện Bảo vệ thực vật. 2. Trạm Bảo vệ thực vật Phù Cừ. đục trung bình từ 25 đến 35%, cá biệt có những vườn lên tới trên 80 %. Để giúp bà con nông dân trồng vải phòng trừ SĐCQV đạt hiệu quả cao, Viện Bảo vệ thực vật đã tiến hành nghiên cứu về loài sâu hại này, nhằm đưa ra một số biện pháp phòng trừ có hiệu quả cao, an toàn với con người và môi trường trên diện tích vải lai chín sớm tại Phù Cừ, Hưng Yên. Bài báo này cung cấp các dữ liệu về đặc điểm sinh học, di n biến mật độ của SĐCQV và hiệu quả phòng trừ chúng tại Phù Cừ, Hưng Yên năm 2017 và 2018. 2. VẬT LIÊU VÀ PHƢƠNG PHÁP 2.1 Vật liệu nghiên cứu - Sâu đục cuống quả vải Conopomorpha sinensis (Bradley) - Giống vải lai chín sớm ở các độ tuổi khác nhau được trồng tại Phù Cừ, Hưng Yên. - Các loại thuốc sinh học, thuốc có nguồn gốc sinh học, các loại thuốc hóa học - Dụng cụ phun thuốc là bình máy. 2.2 Phƣơng pháp nghiên cứu 2.2.1.Nghiên cứu đặc điểm sinh học BVTV - Sè 5/2018 Kết quả nghiên cứu khoa học 22 - Được tiến hành theo các phương pháp nghiên cứu côn trùng học và phương pháp nghiên cứu bảo vệ thực vật của Viện Bảo vệ thực vật (1997). - Nuôi sinh học cá thể SĐCQV ở các điều kiện nhiệt độ trung bình là 26,8 o C; 30,4 o C và ẩm độ tương đối là 76,24%; 78,2 %,. Mỗi đợt nuôi từ 30-50 cá thể. Các chỉ tiêu theo dõi gồm thời gian phát dục của các pha, thời gian vòng đời, sức đẻ trứng, tuổi thọ của trưởng thành. 2.2.2. Phương pháp nghiên cứu di n biến mật độ - Chọn điểm điều tra: điều tra định kỳ (7 - 10 ngày/lần),mỗi địa điểm, mỗi loại tuổi cây điều tra 3 vườn vải đại diện, tại mỗi vườn điều tra theo 5 điểm chéo góc. Mỗi điểm điều tra 1 cây, mỗi cây điều tra 4 hướng, mỗi hướng điều tra ngẫu nhiên 2 cành. - Phương pháp điều tra: dùng tay đập nhẹ 2 lần trên các cành điều tra, quan sát và đếm số trưởng thành SĐCQV. 2.2.3. Phương pháp nghiên cứu biện pháp phòng trừ Các thí nghiệm đánh giá hiệu quả của các loại thuốc sinh học, thuốc có nguồn gốc sinh học, thuốc hóa học, các phương pháp phun thuốc khác nhau được tiến hành theo tiêu chuẩn ngành 10 TCN 581-2003. Thời điểm phun của tất cả các thí nghiệm là sau khi trưởng thành vũ hóa rộ 2 ngày (Nguy n Văn Liêm và nnk, 2014). Chọn điểm thử nghiệm: Vườn vải lai sử dụng trong nghiên cứu là vườn vải kinh doanh có độ tuổi từ 5-7 tuổi. Thí nghiệm diện hẹp, mỗi công thức thử nghiệm là một ô 3 cây, 3 lần nhắc lại. Phương pháp điều tra, đánh giá: Mỗi ô chọn 1 cây, mỗi cây điều tra 4 hướng, mỗi hướng điều tra 2 cành, trên mỗi cành đếm số trưởng thành sống. Điều tra số trưởng thành sống trước xử lý, sau xử lý 1, 3, 5, 7 ngày. 2.2.4. Phương pháp xây dựng mô hình Mô hình được xây dựng với diện tích là 3 ha trên các vườn vải sẵn có của nông dân ở các độ tuổi 7- 9 tuổi và 10-15 năm. Áp dụng đồng bộ các kết quả về sinh học, sinh thái và các biện pháp phòng trừ có hiệu quả. Áp dụng các tiến bộ kỹ thuật trong canh tác vải, phòng trừ sâu hại vải của một số cơ quan nghiên cứu như Viện Khoa học Nông nghiệp Việt Nam, Học viện Nông nghiệp Việt Nam. Vườn đối chứng là những vườn cùng độ, cùng điều kiện đất đai và áp dụng kỹ thuật canh tác cũng như bảo vệ thực vật của nông dân Chỉ tiêu theo dõi: Số lần phun thuốc, tỷ lệ quả bị hại, năng suất (kg/ha) 2.3 Xử lý số liệu - Hiệu lực của thuốc được tính theo công thức Henderson – Tilton - Số liệu được xử lí trên phần mềm MS Excel và SAS 9.1. 3. KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 3.1 Thời gian phát dục các pha của sâu đục cuống quả vải Trong năm 2017 đã tiến hành nuôi sinh học 2 đợt sâu đục cuống quả vải ở hai điều kiện nhiệt độ và ẩm độ khác nhau, kết quả được thể hiện ở bảng 1. Bảng 1.Thời gian phát dục các pha của sâu đục cuống quả vải (Phù Cừ-Hưng Yên, 2017) Giai đoạn phát dục Thời gian trung bình (ngày) Đợt TN 1 Đợt TN 2 Trứng 3,23 0,68 2,83 0,46 Sâu non 12,1 0,55 11,1 0,85 Tiền nhộng 1,37  0,49 1,17  0,38 Nhộng 7,96  0,13 6,86  0,43 Tiền đẻ trứng 1,36  0,61 1,1  0,31 Trưởng thành 7,57  0,56 6,97 0,85 Vòng đời 26,03 1,22 23,07 1,01 Nhiệt độ (T o C) 26,8 30,4 Ẩm độ (RH%) 76,24 78,2 Ghi chú: TN: thí nghiệm Kết quả nghiên cứu khoa học BVTV - Sè 5/2018 23 Trong điều kiện nhiệt độ 26,8 o C, độ ẩm 76,24%, thời gian trứng là 3,23 0,68 ngày, sâu non là 12,1 0,55 ngày, nhộng 7,96  0,13 ngày,thời gian sống trưởng thành là 7,57  0,56 ngày và thời gian vòng đời SĐCQV là 26,03 1,22 ngày. Trong điều kiện nhiệt độ là 30,4 o C, độ ẩm 78,2% thời gian trứng 2,83 0,46 ngày, sâu non 11,1 0,85 ngày, nhộng 6,86  0,43 ngày, thời gian sống trưởng thành là 6,97 0,85 ngày và vòng đời SĐCQV là 23,07 1,01 ngày.Kết quả này tương tự với nghiên cứu của Nguy n Văn Tuất và nnk (2011) khi nuôi ở điều kiện vụ xuân hè nhiệt độ từ 29,19 o C đến 30,2 o C, ẩm độ 76,25% – 77,9 %, pha trứng có thời gian trung bình 3,68 ngày, thời gian sâu non trung bình 12,86 ngày, thời gian nhộng trung bình 6,42 ngày, vòng đời khá dài trung bình 26-27 ngày. 3.2 Diễn biến mật độ sâu đục cuống quả vải trên vải lai chín sớm Sâu non của SĐCQV có tập tính ngay sau khi nở đục thẳng vào quả vải lai qua phần tiếp giáp giữa trứng và vỏ quả vải, trưởng thành trú ngụ ở những vườn vải có độ ẩm cao, trong tán cây rậm rạp, ít ánh sángvà thường tập trung ở mặt dưới của các cành la, kết quả quan sát được cũng phù hợp với nghiên cứu của Nguy n Văn Tuất và nnk (2011). Hình 1. Diễn biến mật độ trƣởng thành SĐCQV trên vải lai chín sớm tại Phù Cừ- Hƣng Yên (2017- 2018) Năm 201,7 trưởng thành SĐCQV bắt đầu xuất hiện trên vải lai chín sớm tại Phù Cừ - Hưng Yên từ 20 tháng 2 nhưng với mật độ rất thấp. Sau đó, mật độ của chúng tăng dần và hình thành cao điểm thứ nhất vào ngày 15/3 và kéo dài đến ngày 25/3 tùy thuộc từng vườn với mật độ là 3,8 con/cành thời kỳ này trùng với thời điểm kết thúc nở hoa cái. Cao điểm thứ 2 xuất hiện từ ngày 10/5 và kéo dài đến ngày 20/5 với mật độ lên tới 5,24 con/cành trùng với giai đoạn quả vải đỏ cuống (báo chín), sau đó mật độ giảm dần ở các tháng tiếp theo chỉ từ 0,1-0,2 con/cành. Mật độ của chúng có xu hướng tăng nhẹ khi cây vải phát triển lộc thu (khoảng cuối tháng 9 đầu tháng 10) với mật độ là 0,37 con/cành. Kết quả này phù hợp với nghiên cứu của Nguy n Văn Tuất và nnk (2011) khi nghiên cứu di n biến của trưởng thành SĐCQV tại Lục Ngạn Bắc Giang cũng cho thấy trưởng thành SĐCQV xuất hiện trên các vườn vải vụ sớm từ trung tuần tháng 2, tích lũy số lượng và tiếp tục gây hại cho vải và đạt đỉnh cao khi quả vải lai bắt đầu đỏ cuống với mật độ trung bình từ 9,5-9,61 con/cành. Niên vụ 2017 -2018 do có mùa đông lạnh, nhiệt độ có ngày xuống thấp dưới 10 0 C, vì vậy di n biến của trưởng thành SĐCQV tương đối phức tạp. Trưởng thành SĐCQV xuất hiện muộn hơn gần 1 tháng so với năm 2017, với đỉnh cao thứ nhất xuất hiện vào ngày 10/4 và mật độ cũng BVTV - Sè 5/2018 Kết quả nghiên cứu khoa học 24 thấp hơn nhiều so với năm 2017 (0,9 con/cành so với 3,8 con/cành). Tuy nhiên, đỉnh cao thử 2 mật độ trưởng thành SĐCQV năm 2018 lại cao hơn nhiều so với năm 2017, lên tới 7,67 con/cành (12/5/2018). Hơn nữa, khoảng thời gian mật độ cao của chúng năm 2018 kéo dài hơn so năm 2017, vẫn đạt 4,83 con/cành vào 23/5/2018. 3.3 Các biện pháp phòng trừ Kết quả nghiên cứu về tập tính gây hại của sâu non SĐCQV cho thấy, nếu phòng trừ sâu non sẽ không cho hiệu quả do tập tính của sâu non khi nở đục thắng vào trong quả sinh sống và gây hại cho đến khi đẫy sức ra ngoài hóa nhộng. Vì vậy, hiệu quả phòng trừ đối với sâu non là rất thấp, ngay cả đối với những thuốc nội hấp mạnh. Do vậy, việc theo dõi di n biến mật độ trưởng thành có ý nghĩa rất quan trọng và việc phun thuốc trừ trưởng thành có ý nghĩa quyết định trong việc hạn chế tác hại của chúng. Thời điểm phun có hiệu quả nhất là sau khi trưởng thành vũ hóa rộ 2 ngày (Nguy n Văn Liêm và nnk, 2014) và phun đồng đều toàn bộ cây trong vườn cũng như cây bụi quanh vườn sẽ cho tỷ lệ quả bị hại thấp nhất. Kết quả nghiên cứu tại Phù Cừ tương tự với kết quả nghiên cứu của Nguy n Văn Tuất và nnk (2011) tại Lục Ngạn – Bắc Giang. Các tác giả cũng đưa ra khuyến cáo về một số thuốc có hiệu quả trong phòng trừ trưởng thành SĐCQV như Cypermethrin+ Profenofos, Fipronil, Chlorpyrifos methyl, Abamectin + Emamectin, Azadirachtin+ Abamectin + Emamectin. Hiệu lực của một số loại thuốc sinh học và hóa học đối với trưởng thành SĐCQV Kết quả thử nghiệm hiệu lực của một số loại thuốc sinh học trừ trưởng thành SĐCQV trên lai chín sớm năm 2017được thể hiện trong bảng 2. Bảng 2. Hiệu lực phòng trừ trƣởng thành SĐCQV của một số thuốc sinh học (Phù Cừ - Hưng Yên, 2017) Công thức Mật độ trước phun (con/8 cành) Hiệu lực sau phun (%) 1 ngày 3 ngày 5 ngày 7 ngày Anisaf SH-01 95 18,02 b 12,56 c 10,13 c 9,83 c Bitadin WP 101 26,20b 30,30 b 24,61 b 20,16 bc Vineem 0,15 EC 93 51,55 a 54,77 a 42,66 a 33,12 a Sokupi 0,36 AS 108 42,09 a 47,06 a 34,32 a 28,65 ab ĐC 102 - - - - CV% 11,5 11,77 10,4 15,48 Ghi chú: + Phun chùm cả trên tán lần dưới tán và những bụi rậm xung quanh vườn + Liều lượng sử dụng thuốc theo khuyến cáo của nhà sản xuất + Thời điểm phun: 2 ngày sau khi trưởng thành vũ hóa rộ + Các số trong cùng một cột có cùng chữ cái không sai khác nhau ở mức P = 95% Trong 4 loại thuốc sinh học được thử nghiệm, thuốc Vineem 0,15EC có hiệu lực trừ trưởng thành SĐCQV trên vải lai chín sớm cao nhất và là 54,77%, sau đó là thuốc Sokupi 0,36AS có hiệu lực 47,06% sau 3 ngày phun. Hai thuốc còn lại là Anisaf SH-01 và Bitadin WP có hiệu lực trừ trưởng thành SĐCQV trên vải lai chín sớm thấp hơn, chỉ đạt tương ứng là 12,56 và 30,3% sau 3 ngày phun. Kết quả đánh giá hiệu lực của một số thuốc hóa học trong phòng trừ trưởng thành SĐCQV trên vải lai chín sớm tại Phù Cừ, được thể hiện ở bảng 3. Trong 6 loại thuốc hóa học được thử nghiệm chỉ có thuốc Secsaigon 25EC đạt hiệu lực trừ trưởng thành SĐCQV cao nhất sau 3 ngày phun là 68,87%. Tiếp theo là thuốc Virtako 40 WG có hiệu lực trừ trưởng hành là 57,11% sau 1 ngày phun. Hai loại thuốc là Actara 25 WG, Voliam Targo 063 SC cho kết quả trừ trưởng thành SĐCQV đạt hiệu lực sau 3 ngày phun là 53,78% và 57,65%. Hai thuốc Koben 15 EC, Trebon 10 EC có hiệu lực trừ sâu ĐCQV dưới 50%, lần lượt là 43,55% và 46,96%. Sau 7 ngày phun thì hiệu lực của tất cả các thuốc chỉ còn từ 29,36% - 38,28%. Kết quả nghiên cứu khoa học BVTV - Sè 5/2018 25 Bảng 3. Hiệu lực phòng trừ trƣởng thành SĐCQV của một số thuốc hóa học (Phù Cừ - Hưng Yên, 2017) Công thức Mật độ trước phun (con/8 cành) Hiệu lực sau phun (%) 1 ngày 3 ngày 5 ngày 7 ngày Actara 25 WG 89 47,64 abc 53,78 bc 40,72 abc 31,13 ab Secsaigon 25EC 92 58,47 a 68,87 a 45,66 a 41,17 a Virtako 40 WG 101 57,11 a 54,78 b 41,56 ab 36,21 ab Koben 15 EC 97 38,90 c 43,55 c 35,16 c 29,36 b Voliam Targo 063 SC 105 55,52 ab 57,60 b 42,53 abc 38,28 ab Trebon 10 EC 103 45,97 bc 46,96 bc 37,03 bc 30,22 ab ĐC 107 - - - - CV% 9,9 17,1 15,3 11,7 Ghi chú: + Phun chùm cả trên tán lẫn dưới tán và những bụi rậm xung quanh vườn + Liều lượng sử dụng thuốc theo khuyến cáo của nhà sản xuất + Thời điểm phun: 2 ngày sau khi trưởng thành vũ hóa rộ + Các số trong cùng một cột có cùng chữ cái không sai khác nhau ở mức P = 95% Phương pháp phun phòng trừ Tất cả các thuôc sinh học và hóa học được thử nghiệm để phòng trừ trưởng thành SĐCQV trên vải lai chín sớm tại Phù Cừ- Hưng Yên đều có hiệu quả, nhưng hiệu quả phòng trừ thực sự chưa cao, hiệu quả cao nhất chỉ đạt 68,87% khi phun Secsaigon 25 EC sau 3 ngày. Trưởng thành SĐCQV trên vải lai chín đẻ trứng trên lộc non, hoa và quả vải. Nếu trứng đẻ lên trên lá non, sau khi nở sâu non đục thẳng vào và gây hại trong gân lá. Khi trứng được đẻ trên quả non, sâu non sau khi nở đục vào quả và ăn hết phần cơm hạt. Giai đoạn quả đã có cùi (vỏ hạt cứng), sâu non đục vào gây hại phần gỗ cuống quả làm quả rụng. Do đặc điểm gây hại của sâu non SĐQCV như vậy nên việc phòng trừ đối với trưởng thành SĐCQV ngoài phương pháp phun thông thường như trên thì phương pháp phun phù hợp cũng đã được thử nghiệm nhằm đưa ra một số thuốc cũng như cách phun trừ trưởng thành đạt hiệu quả cao nhất. Năm 2018, một thí nghiệm được tiến hành với hai loại thuốc là thuốc Secsaigon 25EC (Cypermethrin) có tác dụng tiếp xúc, vị độc và thuốc Virtako 40WG (Chlorantraniliprole + Thiamethoxam) có tác dụng lưu dẫn, thấm sâu. Hai loại thuốc trên được thiết kế theo 4 phương pháp phun khác nhau (bảng 4). Bảng 4. Hiệu lực phòng trừ trƣởng thành SĐCQV lai bằng các phƣơng pháp phun khác nhau (Phù Cừ- Hưng Yên, 2018) Công thức Mật độ trước phun (con/8 cành) Hiệu lực sau phun (%) 1 ngày 3 ngày 5 ngày 7 ngày CT 1 86 77,87 a 83,95 a 68,09 a 61,47 a CT 2 85 62,35 b 69,78 b 52,88 b 43,19 b CT 3 92 59,02 b 67,35 b 40,95 c 35,85 b CT4 81 49,14 c 45,88 c 36,79 d 17,84 c ĐC 87 - - - - CV% 13,5 14,7 8,4 15,0 + CT1: Phun Virtako 40WG chùm trên tán, sau đó phun Secsaigon 25EC dưới tán cây và những bụi rậm xung quanh vườn BVTV - Sè 5/2018 Kết quả nghiên cứu khoa học 26 + CT2: Hỗn hợp Virtako 40WG với Secsaigon 25EC phun cả trên tán cây và dưới tán, những bụi rậm xung quanh vườn + CT3: Chỉ phun Secsaigon 25EC dưới tán và những bụi rậm xung quanh vườn + CT4: Chỉ phun Phun Virtako 40WG chùm trên tán,và phun toàn bộ cây trong vườn, những bụi rậm xung quanh vườn + Thời điểm phun: 2 ngày sau khi trưởng thành vũ hóa rộ + Liều lượng sử dụng thuốc theo khuyến cáo của nhà sản xuất + Các số trong cùng một cột có cùng chữ cái không sai khác nhau ở mức P = 95% Kết quả được ghi nhận ở bảng 4 cho thấy, hầu hết các công thức đều cho hiệu lực trừ trưởng thành SĐCQV trên vải lai chín sớm cao nhất sau 3 ngày phun thuốc. Công thức cho hiệu quả cao nhất là CT1 sau 3 ngày đạt 83,95%, công thức có hiệu lực thấp nhất là CT4 chỉ đạt 45,88 %. Hai công thức CT2 và CT3 có hiệu lực lần lượt là 69,78% và 67,35% sau 3 ngày phun. Từ kết quả đạt được cho thấy, phương pháp phun thuốc và phối trộn thuốc có ảnh hưởng rất lớn tới hiệu lực trừ trưởng thành SĐCQV trên vải lai chín sớm. Sử dụng thuốc có tác dụng tiếp xúc, vị độc (cụ thể là trong thí nghiệm là thuốc Secsaigon 25 EC) phun dưới tán cây và những bụi rậm xung quanh vườn phun sau khi phun thuốc có tác dụng lưu dẫn thấm sâu như Vitarko 40 WG phun chùm trên tán cây sẽ cho hiệu lực phòng trừ cao nhất. 4. KẾT QUẢ XÂY DỰNG MÔ HÌNH Từ những kết quả nghiên cứu về đặc điểm sinh học, sinh thái, tập tính gây hại và biện pháp phòng trừ đạt được ở trên, đã áp dụng trên mô hình phòng trừ sâu SĐCQV được xây dựng tại 2 xã Tam Đa và Minh Tiến - Phù Cừ từ năm 2017- 2018 với tổng diện tích là 3ha. Kết quả được thể hiện ở bảng 5. Bảng 5. Kết quả thực hiện mô hình trừ sâu SĐCQV tại Phù Cừ- Hƣng Yên (2017-2018) TT Chỉ tiêu Năm 2017 Năm 2018 Mô hình Đối chứng Mô hình Đối chứng 1 Số lần phun 4 5 3 5 2 Chi phí 1 bình thuốc (công + thuốc) 51.500 44.000 51.500 45.000 3 Chi phí BVTV cho sâu đục quả cho 1ha (đồng) 17.510.000 18.700.000 13.132.500 19.125.000 4 Tỉ lệ quả bị hại (%) 7,14 32,60 4,15 15,36 5 Năng suất (kg/ha) 9.900 8.400 9.700 8.300 6 Gía vải bình quân (đồng/kg) 18.000 15.000 8.500 6.000 - Số lần phun thuốc: Trong mô hình năm 2018 số lần phun là 3 lần/năm giảm 1 lần so với năm 2017 (4 lần/năm). Số lần phun trong mô hình năm 2017 giảm 1 lần/năm so với đối chứng và năm 2018 giảm 2 lần/năm so với đối chứng. - Tỉ lệ quả bị hại trong mô hình và đối chứng có sự chênh lệch rõ rệt. Trong mô hình năm 2017 tỉ lệ quả bị đục bởi SĐCQV là 7,14%, thấp hơn rất nhiều so với đối chứng là 32,6%. Tỉ lệ quả bị hại bởi SĐCQV trong mô hình năm 2018 chỉ còn 4,15% so với đối chứng là 15,36%. Năng suất trong mô hình trong 2 năm (9.900 kg/ha năm 2017 và 9.700 kg/ha năm 2018) đều cao hơn so với đối chứng (tương ứng là 8.400 kg/ha và 8.300 kg/ha). Do tỷ lệ quả bị đục bởi SĐCQV ở vườn đối chứng cao nên giá bán thường thấp hơn nhiều so với mô hình từ 2 đến 3 ngàn đồng/kg. 4. KẾT LUẬN Ở điều kiện nhiệt độ 26,8 o C, độ ẩm 76,24%, thời gian pha trứng của SĐCQV là 3,23 ngày, pha sâu non là 12,1 ngàyvà thời gian vòng đời là Kết quả nghiên cứu khoa học BVTV - Sè 5/2018 27 26,03 ngày. Ở điều kiện nhiệt độ 30,4 o C, độ ẩm 78,2%, thời gian pha trứng của chúng là 2,83 ngày, pha sâu non là 11,1 ngày và thời gian vòng đời là 23,07 ngày. Năm 2017 tại Phù Cừ - Hưng Yên, trưởng thành SĐCQV trên vải lai chín sớm có 2 đỉnh cao mật độ, đỉnh cao thứ nhất di n ra vào thời điểm hoa cái vừa kết thúc thụ phấn với mật độ là 3,8 con/cành, đỉnh cao thứ hai di n ra vào thời điểm quả đỏ vai với mật độ là 5,24 con/cành. Năm 2018, trưởng thành SĐCQV trên vải lai chín sớm xuất hiện muộn hơn so với năm 2017 gần 1 tháng, đỉnh cao thứ nhất di n ra vào ngày 10/4 nhưng với mật độ thấp hơn nhiều so với năm 2017 và chỉ là 0,8 con/cành. Tuy nhiên, đỉnh cao thứ hai cũng di n ra vào thời kỳ quả vải đỏ vai nhưng mật độ là 7,67 con/cành cao hơn rất nhiều so với năm 2017 và kéo dài hơn, mật độ của chúng vẫn đạt 4,83 con/cành vào ngày 23/5/2018. Sử dụng các loại thuốc xông hơi, tiếp xúc, vị độc (Secsaigon 25 EC) phun dưới tán cây và những bụi rậm xung quanh vườn trừ trưởng thành SĐCQV trên vải lai chín sớm sau khi phun thuốc lưu dẫn, thấm sâu (Virtako 40 WP) phun chùm trên tán cây vào thời điểm sau khi trưởng thành SĐCQV lai vũ hóa 2 ngày cho hiệu lực trừ sâu tốt nhất là 83,95% sau 3 ngày. Năm 2017 đã giảm được 1 lần phun thuốc trong mô hình và năm 2018 giảm được 2 lần phun thuốc so với đối chúng, nhưng tỷ lệ quả bị hại trong mô hình vẫn thấp hơn nhiều so với đối chứng. Năm 2017 tỷ lệ quả bị hại trong mô hình chỉ là 7,14% và năm 2018 chỉ còn là 4,15 %, trong khi đó tỷ lệ quả bị hại ở đối chứng cao hơn rất nhiều và tương ứng là 32,6 % và 15,36%. TÀI LIỆU THAM KHẢO 1. Nguy n Văn Liêm, Trần Thanh Tháp, Nguy n Việt Hà, Nguy n Văn Tuất, Nguy n Hồng Sơn, Trân Đình Phả, Nguy n Huy Mạnh (2014). Thời gian phát dục pha nhộng của sâu đục cuống quả vải Conopomorpha sinnensis Bradley (Lep.: Glacillariidae), ứng dụng trong dự tính dự báo và phòng trừ. Hội nghị Côn trùng học quốc gia lần thứ 8, tr 461-469. 2. Đào Đăng Tựu, Trần Huy Thọ và CTV (2000). Một sô kết quả nghiên cứu về sâu hại nhãn vải và biện pháp phòng trừ, Tuyển tập công trình nghiên cứu bảo vệ thực vật 1996-2000. NXB Nông nghiệp, tr 48-56. 3. Đào Đăng Tựu, Lê Văn Trịnh, Trần Huy Thọ (2003). Một số kết quả nghiên cứu sâu hại nhãn vải và biện pháp phòng trừ. Kỷ yếu Hội thảo Khoa học BVTV Phục vụ chủ trương chuyên đổi cơ cấu cây trồng ở các tỉnh Miền Bắc và Miền Trung. NXB. Nông nghiệp, Hà Nội, tr 34-41. 4. Nguy n Văn Tuất, Nguy n Văn Liêm, Trần Thanh Tháp, Nguy n Kim Hoa, Bùi Thị Hải Yến, Nguy n Việt Hà, Nguy n Hồng Sơn, Trần Đình Phả, Nguy n Huy Mạnh (2011). Một số đặc điểm sinh học và tập tính của sâu đục cuống quả vải Conopomorpha sinensis Bradlye (Lepidoptera: Glacillariidae). Hội nghị côn trùng học toàn quốc lần thứ 7,tr 712-719. 5. Nguy n Văn Tuất, Nguy n Văn Liêm, Trần Thanh Tháp, Nguy n Kim Hoa, Bùi Thị Hải Yến, Nguy n Việt Hà, Nguy n Hồng Sơn, Trần Đình Phả, Nguy n Huy Mạnh (2011). Di n biến mật độ trưởng thành sâu đục cuống quả vải Conopomorpha sinensis Bradlye (Lepidoptera: Glacillariidae) tại lục Ngạn (Bắc Giang) và hiệu quả phòng trừ chúng bằng biện pháp hóa học. Hội nghị côn trùng học toàn quốc lần thứ 7,tr 719-727. 6. Dương Tiến Viện (2008). Kết quả nghiên cứu sâu hại vải và biện pháp phòng trừ một số loài gây hại chính tại Mê Linh- Vĩnh phúc. Hội nghị côn trùng học toàn quốc lần thứ 6, tr 790-795. 7. 10 TCN 581(2003). Quy phạm khảo nghiệm trên đồng ruộng hiệu lực phòng trừ sâu đục quả (Conopomorpha sinensis, Bradley) hại nhãn, vải của các thuốc trừ sâu. 8. Marie Joy Schulte Martin, Joachim Sauerborn (2007). Biology and control of the fruit borer, Conopomorpha sinensis Bradley on litchi (Litchi chinensis Sonn.) in northern Thailand. Insect Science, Vol, 14 (6): P. 525-529 9. Mitra. S.K., (2002). Overview of Litchee production in Asia-Pacific region. Litchee Production in Asia-Pacific region (ed. Minas K.P. and Frank J.D., 2002). Food and Agriculture organization of the United nation regional office for Asia and the Pacific Bankok, Thailand. March 2002. RAP publication 2002/04. Phản biện: TS. Nguyễn Văn Liêm

Các file đính kèm theo tài liệu này:

  • pdfnghien_cuu_dac_diem_sinh_hoc_dien_bien_mat_do_va_bien_phap_p.pdf
Tài liệu liên quan