Hàm lượng chì (Pb)
Chì là kim loại rất độc, có khả năng gây sảy thai hoặc ảnh hưởng đến hệ thần kinh trung
ương. Bằng mắt thường hoặc ngửi, qua cảm quan ta không thể phát hiện hàm lượng Chì có trong
các loại thực phẩm. Qua đánh giá bằng tiêu chuẩn AOAC 2015.01, kết quả không phát hiện Chì
trong bột sinh khối nấm Thượng Hoàng (LOD = 0,03 mg/kg).
Tương tự như các chỉ tiêu vi sinh, chưa có quy định cụ thể về hàm lượng Chì và Arsenic
được phép có mặt trong sản phẩm bột sinh khối nấm. Do đó, chúng tôi tham khảo giới hạn tối
đa cho phép kim loại trong thực phẩm đối với thực phẩm chức năng, ngũ cốc và thực phẩm đặc
biệt theo “Quy định giới hạn tối đa ô nhiễm sinh học và hóa học trong thực phẩm” được ban
hành kèm theo Quyết định số 46/2007/QĐBYT ngày 19/12/2007 của Bộ trưởng Bộ Y tế. Kết
quả tổng hợp trong bảng 2 dưới đây.
Như vậy, so sánh với quy định giới hạn tối đa cho phép gần nhất thì hàm lượng Arsenic
và Chì trong bột sinh khối nấm Thượng Hoàng nằm dưới ngưỡng giới hạn tối đa cho phép của
nhóm thức ăn đặc biệt dành cho trẻ em là nhóm có ngưỡng giới hạn thấp nhất tương ứng là 0,1
mg/kg và 0,02 mg/kg (bảng 2). Kết quả cho thấy, bột sinh khối nấm Thượng Hoàng sản xuất
theo quy trình lên men chìm là an toàn về chỉ tiêu Arsenic và Chì.
KẾT LUẬN
Nấm Thượng Hoàng có thể được nuôi trồng ở trong bình lên men sinh khối lỏng với thời
gian lên men rút ngắn hơn rất nhiều so với nuôi trồng trên giá thể thân gỗ mục. Chất lượng bột
sinh khối đạt ngưỡng an toàn về mặt vi sinh và không có Arsenic và Chì. Ngoài ra, để bột sinh
khối nấm đạt chất lượng tốt, cần cải thiện quy trình nuôi trồng để các chất có hoạt tính sinh học
cao hơn. Việc chủ động tạo ra sản phẩm nấm này có ý nghĩa rất lớn trong công nghiệp dược bởi
giá trị của nấm rất cao và tốt cho sức khỏe.
9 trang |
Chia sẻ: hachi492 | Lượt xem: 2 | Lượt tải: 0
Bạn đang xem nội dung tài liệu Nghiên cứu đánh giá an toàn vi sinh và kim loại nặng của bột sinh khối nấm thượng hoàng thu được qua lên men chìm, để tải tài liệu về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
20 Tạp chí Kiểm nghiệm và An toàn thực phẩm, Tập 3, Số 1, 2020
Nghiên cứu khoa học
Nguyễn Thị Minh Huyền1, 3*, Trần Thị Hoa1, Ninh Thị Tuyết Lan1
Phạm Thị Lệ2, Đỗ Thị Mến2, Trần Thị Hiền2
1Viện Công nghệ sinh học, Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam
2Khoa Sinh học, Đại học Khoa học Tự nhiên, Đại học Quốc gia Hà Nội
3Học viện Khoa học và Công nghệ, Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam
(Ngày đến tòa soạn: 10/01/2020; Ngày sửa bài sau phản biện: 20/02/2020; Ngày chấp nhận đăng: 22/03/2020)
Tóm tắt
Nấm Thượng Hoàng (Phellinus linteus) được biết đến là một loại nấm có nhiều công dụng
tốt cho sức khỏe của con người. Nấm được sử dụng ở hầu hết các nước châu Á như Nhật Bản,
Hàn Quốc, Trung Quốc, Thái Lan và hiện tại ở Việt Nam. Do nấm sinh trưởng chậm và bị khai
thác quá mức trong điều kiện tự nhiên nên hiện nay nấm được nuôi trồng nhân tạo ở các nước
trên. So với trồng nấm trên giá thể là thân gỗ mục thì việc trồng nấm ở dạng sinh khối trong môi
trường lỏng cũng có một số ưu thế như thời gian được rút ngắn và chủ động trong quy mô nhân
giống. Trong nghiên cứu này, sinh khối nấm Thượng Hoàng được nuôi cấy trong môi trường
lỏng đã tối ưu hóa, sấy thăng hoa, nghiền thành bột mịn và đánh giá độ an toàn về mặt vi sinh
cũng như lượng tồn dư Arsenic và Chì, để đảm bảo thành phẩm sinh khối đạt tiêu chuẩn an toàn
cho người sử dụng. Kết quả thu được như sau: tổng số vi sinh vật hiếu khí là 2,2 × 10 4 CFU/g,
Coliforms < 1,0 × 101 CFU/g, Staphylococci có phản ứng dương tính với Coagulase < 1,0 × 101
CFU/g, tổng số nấm men mốc < 1,0 × 101 CFU/g, không có E.coli, Clostridium perfringens
và Salmonella spp.. Ngoài ra không tìm thấy Arsenic và Chì trong mẫu xét nghiệm.
Từ khóa: Sinh khối, nấm Thượng Hoàng, nuôi cấy, môi trường lỏng, vi sinh, kim loại nặng,
an toàn.
1. ĐẶT VẤN ĐỀ
Nấm Thượng Hoàng (Phellinus linteus) hay còn được biết tới với tên gọi là nấm Hoàng
Sơn, có tác dụng trong hỗ trợ điều trị các bệnh ung thư, đái tháo đường, bệnh truyền nhiễm do
vi khuẩn,... [13]. Bột nấm sử dụng liên tục trong thời gian dài sẽ tăng cường hệ miễn dịch cho
cơ thể, tốt cho tim mạch đặc biệt loại nấm này rất phù hợp cho những người cao tuổi, người
chịu nhiều áp lực, người mắc bệnh béo phì, cao huyết áp. Hiện nay, có rất nhiều nghiên cứu chú
trọng đến các chất có hoạt tính sinh học [4, 6] và xác định cũng như phân lập các thành phần có
hoạt tính sinh học, chức năng kháng u và các cơ chế dược lý của nấm Thượng Hoàng [5, 7, 8].
Đây là các loài nấm mọc nhiều năm, lớp thụ tầng năm sau chồng lên lớp thụ tầng năm trước.
Nấm Thượng Hoàng mọc ở những vùng rừng sâu, núi cao hiểm trở, các khu rừng nguyên sinh,
tuổi nấm có khi đến vài chục năm. Do nguồn nguyên liệu tự nhiên đã cạn kiệt bởi sự khai thác
quá mức của con người. Người ta đã đầu tư và thực hiện trồng hoặc sản xuất các loại nguyên
liệu để chủ động phục vụ, nâng cao sức khỏe, giúp kéo dài cuộc sống của con người. Trước đây,
nhân nuôi sinh khối nấm Thượng Hoàng cũng như các loại nấm sợi khác được tiến hành trên
thân gỗ và các giá thể, thực chất là thực hiện lên men trên môi trường xốp (hay còn gọi là môi
trường bán rắn). Việc nuôi trồng nấm sợi trên thân gỗ và các giá thể mất rất nhiều công sức và
đặc biệt là thời gian. Hiện nay, với sự phát triển của công nghệ lên men, người ta có thể nuôi
trồng nấm hoàn toàn ở môi trường lỏng do ưu thế rút ngắn về thời gian và chủ động được quy
mô sản xuất. Sinh khối tạo ra cũng có một số hoạt chất hữu ích cho sức khỏe [911].
NGHIÊN CỨU ĐÁNH GIÁ AN TOÀN VI SINH VÀ KIM LOẠI NẶNG CỦA BỘT
SINH KHỐI NẤM THƯỢNG HOÀNG THU ĐƯỢC QUA LÊN MEN CHÌM
*Điện thoại: 0947479978 Email: ntminhhuyen@ibt.ac.vn
21Tạp chí Kiểm nghiệm và An toàn thực phẩm, Tập 3, Số 1, 2020
Nguyễn Thị Minh Huyền, Trần Thị Hoa, Ninh Thị Tuyết Lan... Trần Thị Hiền
Ở Việt Nam các nghiên cứu về nấm Thượng Hoàng chưa nhiều. Với mục tiêu phát triển và tạo
sinh khối nấm Thượng Hoàng để sử dụng nâng cao sức khỏe, nghiên cứu này trình bày kết quả
nhân nuôi sinh khối trong môi trường lỏng và nghiên cứu đánh giá an toàn về mặt vi sinh và tồn
dư Arsenic và Chì của bột sinh khối nấm Thượng Hoàng thu được.
2. VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1. Vật liệu
Chủng nấm Thượng Hoàng GC được cung cấp bởi Viện Công nghệ Sinh học, Viện Hàn
lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam.
2.2. Phương pháp nghiên cứu
2.2.1. Phương pháp nhân giống trong đĩa thạch
Giống nấm được bảo quản trên môi trường PDA ở 4oC. Thành phần cho 1 lít môi trường
PDA: dịch chiết khoai tây (200 g khoai tây thái nhỏ đun sôi 30 phút, thu dịch) bổ sung 20 g
glucose, 15 g agar, 1g cao nấm men, thêm nước cho đủ 1 L môi trường. Khử trùng môi trường
ở 121oC trong 15 phút và đổ đĩa petri.
Trước các thí nghiệm, giống nấm cần được làm mới bằng cách cấy giống nấm kích thước
1 × 0,7 cm trên đĩa petri chứa 15 20 mL môi trường thạch PDA, ủ trong tủ ấm ở nhiệt độ
28oC, nấm mọc kín đĩa trong vòng 10 15 ngày. Tiếp tục cấy chuyển sang môi trường lỏng để
dùng trong các thí nghiệm và nghiên cứu tiếp theo.
2.2.2. Phương pháp nhân giống và nhân sinh khối trên môi trường lỏng
Môi trường lỏng phù hợp cho chủng nấm phát triển tốt nhất đã được nhóm nghiên cứu
tối ưu thành phần (cho 1 lít môi trường) gồm có: glucose 30 g, cao nấm men 15g, K2HPO4
0,46 g, KH2PO4 1 g, MgSO4.7H2O 0,5 g, MnCl2 0,0036 g, ZnCl2 0,03 g, FeCl2 0,01 g,
CuSO4.7H2O 0,005 g. Môi trường được khử trùng ở điều kiện 121
oC; 1 atm trong 15 phút.
Nấm Thượng Hoàng được nuôi lắc trong bình tam giác dung tích 250 mL chứa 100 mL
môi trường tối ưu. Thời gian nuôi cấy trong 15 ngày ở 27oC với tốc độ lắc 150 rpm (nấm được
nuôi trong bình tam giác có thể cấy từ đĩa thạch sang hoặc chuyển từ lỏng sang lỏng).
Sau 15 ngày nấm mọc đặc bình tam giác, cấy chuyển sang bình dung tích 5 L chứa 3,5
L môi trường tối ưu có hệ thống sục khí. Thời gian nuôi cấy khoảng 07 ngày có bổ sung chất
kháng bọt dùng trong thực phẩm (SGA*720 Sillicone antifoam emulsion) nồng độ cuối cùng là
50 ppm.
Nấm phát triển tốt trong bình 5 L, mọc dày đặc sẽ được cấy chuyển sang nồi lên men
dung tích 100 L chứa 65 L môi trường tối ưu. Thời gian nuôi cấy 15 ngày bổ sung chất kháng
bọt nồng độ cuối là 50 ppm ở nhiệt độ 28oC tốc độ sục khí là 1 vvm. Sau 15 ngày lên men, thu
sinh khối và bảo quản ở tủ lạnh 20oC. Sau đó sinh khối được sấy đông khô (sấy thăng hoa) và
nghiền thành bột mịn để sử dụng cho các mục đích tiếp theo.
2.2.3. Phương pháp xét nghiệm vi sinh
Các xét nghiệm vi sinh cho bột sinh khối nấm Thượng Hoàng được thực hiện tại phòng
thử nghiệm Vi sinh của Trung tâm Kỹ thuật Tiêu chuẩn đo lường chất lượng 1, Tổng cục Tiêu
chuẩn đo lường chất lượng.
Tổng số vi sinh vật hiếu khí được đánh giá bằng phương pháp định lượng vi sinh vật
theo tiêu chuẩn ISO 48331 : 2003 Microbiology of the food chain Horizontal method for the
enumeration of microorganisms.
Số lượng Coliforms trong bột sinh khối nấm Thượng Hoàng được đánh giá theo tiêu
chuẩn ISO 4832:2006 Microbiology of food and animal feeding stuffs Horizontal method for
the enumeration of Coliforms.
22 Tạp chí Kiểm nghiệm và An toàn thực phẩm, Tập 3, Số 1, 2020
Nghiên cứu đánh giá an toàn vi sinh và kim loại nặng của bột sinh khối nấm thượng hoàng...
Số lượng E.coli trong bột sinh khối nấm Thượng Hoàng được đánh giá theo tiêu chuẩn
ISO 166492:2001 Microbiology of food and animal feeding stuffs Horizontal method for the
enumeration of betaglucuronidasepositive Escherichia coli.
Staphylococci có phản ứng dương tính với Coagulase được đánh giá theo tiêu chuẩn ISO
68881:1999 Microbiology of food and animal feeding stuffs Horizontal method for the enumer
ation of coagulasepositive staphylococci (Staphylococcus aureus and other species).
Tổng số nấm men mốc được đánh giá theo tiêu chuẩn ISO 215271, 2: 2008 Microbiology
of food and animal feeding stuffs Horizontal method for the enumeration of yeasts and moulds.
Clostridium perfringens được đánh giá theo tiêu chuẩn ISO 7937:2004 Microbiology of food
and animal feeding stuffs Horizontal method for the enumeration of Clostridium perfringens.
Salmonella spp. được đánh giá theo tiêu chuẩn ISO 65791:2017 Microbiology of the food
chain Horizontal method for the detection, enumeration and serotyping of Salmonella.
2.2.4. Phương pháp xét nghiệm Arsenic và Chì
Các xét nghiệm tồn dư Arsenic và Chì trong bột sinh khối nấm Thượng Hoàng dưới đây
được thực hiện tại phòng thử nghiệm Môi trường và Hóa chất thuộc Trung tâm Kỹ thuật Tiêu
chuẩn đo lường chất lượng 1, Tổng cục Tiêu chuẩn đo lường chất lượng.
Hàm lượng Arsenic (As) trong bột sinh khối nấm Thượng Hoàng được đánh giá theo
tiêu chuẩn AOAC 2015.01.
Hàm lượng Chì (Pb) trong bột sinh khối nấm Thượng Hoàng được đánh giá theo tiêu
chuẩn AOAC 2015.01.
2.3. Thời gian và địa điểm nhân giống
Quá trình nhân giống nấm Thượng Hoàng được thực hiện từ cuối năm 2018 đến nay tại
phòng thí nghiệm Viện Công nghệ Sinh học,Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam.
3. KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN
3.1. Nhân giống nấm Thượng Hoàng trong đĩa thạch và trong môi trường lỏng
Nấm Thượng Hoàng phát triển trên đĩa thạch ở dạng sợi màu vàng sáng, hình 1a dưới
đây cho thấy sợi nấm phát triển trên đĩa thạch sau khi cấy sẽ lan đều tạo ra khuẩn lạc tròn, bề
mặt sợi mịn và màu vàng sáng. Mặt sau của đĩa nấm sợi lan trên thạch và tạo màu vàng sẫm
hơn (hình 1b). Ảnh chụp dưới kính hiển vi cho thấy sợi nấm phát triển lan đều, có vách ngăn,
đa bào, nảy chồi mới bằng cách phân nhánh bên (hình 2). Vách ngăn có thể nhìn thấy rõ bởi
màu sắc đậm hơn, ngăn trục sợi nấm thành các phần khác nhau, hình thành hai tế bào riêng
biệt (hình 2).
a. b.
Hình 1. Nấm được nuôi cấy trên đĩa petri trong môi trường thạch khoai tây
a. Mặt trước của đĩa thạch, nấm mọc lan trên mặt thạch. b. Mặt sau của đĩa
23Tạp chí Kiểm nghiệm và An toàn thực phẩm, Tập 3, Số 1, 2020
Nguyễn Thị Minh Huyền, Trần Thị Hoa, Ninh Thị Tuyết Lan... Trần Thị Hiền
Hình 2. Ảnh chụp sợi nấm dưới kính hiển vi
a. Sợi nấm mọc trong môi trường thạch (ảnh chụp dưới kính hiển vi quang học, vật kính 40x)
b. Sợi nấm được cố định trên lam kính và nhuộm với thuốc tím kết tinh
Trong môi trường lỏng, sợi nấm mọc thành các khối hình cầu hoặc hình trụ có tua dài
và phát triển đều xung quanh khối nấm sợi này (hình 3a). Nghiên cứu trên thế giới cho thấy
nấm nuôi theo mô hình lên men sinh khối đạt chất lượng tốt và cho các hoạt chất tương tự
như với nấm trồng thông thường trên giá thể thân gỗ mục [911]. Ngoài ra ưu điểm của
phương pháp nhân nuôi sinh khối là quá trình trồng nấm có thời gian ngắn hơn rất nhiều so
với trồng nấm trên thân gỗ (thường là 4 đến 6 năm). Trong nghiên cứu của chúng tôi, nấm
Thượng Hoàng được nuôi trong môi trường lỏng nhằm mục đích thu sinh khối, đánh giá
chất lượng của sinh khối và hướng tới sử dụng như thực phẩm chức năng. Thời gian nhân
giống lên men theo mẻ và mỗi mẻ kéo dài khoảng 15 đến 20 ngày, sinh khối thu được được
sấy thăng hoa (đông khô, hình 3b) và nghiền thành bột (hình 3c). Lượng sinh khối thu được
trung bình là khoảng 30g khô/lít môi trường. Phương pháp sấy thăng hoa có ưu điểm là việc
làm khô được thực hiện ở nhiệt độ thấp vì thế chất lượng nấm thu được cao, không mất
nhiều giá trị dinh dưỡng. Bột sinh khối nấm Thượng Hoàng thu được có màu vàng nâu,
mùi thơm dịu, ngọt.
Hình 3. a. Nấm được cấy trong môi trường lỏng; b. Thu sinh khối và sấy thăng hoa;
c. Và nghiền thành bột mịn
3.2. Mức độ an toàn vi sinh của bột sinh khối nấm Thượng Hoàng thu được thông qua
nuôi cấy trên môi trường lỏng
Bột sinh khối nấm Thượng Hoàng được kiểm tra một số chỉ tiêu vi sinh nhằm mục đích
đánh giá độ an toàn về mặt vi sinh của sản phẩm cho các mục đích sử dụng tiếp theo.
3.2.1. Tổng số vi sinh vật hiếu khí
Đây là chỉ số thể hiện số vi sinh vật chỉ sinh trưởng trong điều kiện có oxy, nó còn là chỉ
a. b.
24 Tạp chí Kiểm nghiệm và An toàn thực phẩm, Tập 3, Số 1, 2020
Nghiên cứu đánh giá an toàn vi sinh và kim loại nặng của bột sinh khối nấm thượng hoàng...
thị mức độ vệ sinh của thực phẩm; đánh giá chất lượng của mẫu về vi sinh vật, nguy cơ hư hỏng,
thời hạn bảo quản của sản phẩm, mức độ vệ sinh trong quá trình chế biến, bảo quản sản phẩm.
Qua đánh giá bằng tiêu chuẩn ISO 48331:2013 về vi sinh vật trong chuỗi thực phẩm thu được
kết quả là 2,2 × 10 4 CFU/g.
3.2.2. Coliforms
Đây là nhóm thường thấy có trong hệ tiêu hóa của người, có khả năng phân giải nhiều
loại cơ chất khác nhau: carbohydrate, chất hữu cơ sinh năng lượng, các hợp chất chứa nitơ đơn
giản, gây hư hỏng thực phẩm. Qua đánh giá bằng tiêu chuẩn ISO 4832:2006 thu được kết quả
nhỏ hơn 1,0 × 101 CFU/g.
3.2.3. E.coli
Đây là vi sinh vật ký sinh trong đường ruột của động vật, xuất hiện trong môi trường chỉ
thị cho ô nhiễm phân. Phần lớn các chủng E.coli là vô hại, chỉ có một số ít gây tiêu chảy như
E. coli O157:H7. Qua đánh giá bằng tiêu chuẩn ISO:166492:2001 thu được kết quả là không
có E.coli trong mẫu.
3.2.4. Staphylococci có phản ứng dương tính với Coagulase
Đây là nhóm cầu khuẩn gram dương, nó sinh ra độc tố đường ruột enterotoxin bền nhiệt
và khó bị phân hủy ở nhiệt độ cao, chúng lên men và phân giải đường nhưng không tạo mùi vị
khó chịu cho sản phẩm. Một số loài trong nhóm này có khả năng gây bệnh như Staphyloccocus
aureus, có thể dẫn đến nhiều biến chứng có thể nguy hại đến sức khỏe của con người. Qua đánh
giá bằng tiêu chuẩn ISO 68881:1999 thu được kết quả Staphylococci có phản ứng dương tính
với coagulase nhỏ hơn 1,0 × 101 CFU/g.
3.2.5. Tổng số nấm men mốc
Nấm mốc là vi nấm có khả năng tạo sợi nấm, sinh sản bằng bào tử hay khuẩn ty. Nấm
men là những tế bào đơn tính sinh sản chủ yếu dạng vô tính theo kiều nảy chồi. Chúng có khả
năng gây độc tố và gây bệnh khi vào cơ thể. Qua đánh giá bằng tiêu chuẩn ISO 215271,2:2008
thu được kết quả tổng số nấm men mốc nhỏ hơn 1,0 × 101 CFU/g.
3.2.6. Clostridium perfringens
Đây là nhóm vi khuẩn gram dương, kị khí, sinh nội bào tử gây bệnh. Đôi khi, chúng có
thể gây ngộ độc thực phẩm khi có mặt trong thức ăn chưa được chế biến kỹ lưỡng. Qua đánh
giá bằng tiêu chuẩn ISO 7937:2004, kết quả cho thấy không có Clostridium perfringens trong
bột sinh khối nấm.
3.2.7. Salmonella spp.
Đây là nhóm trực khuẩn gram âm, chúng phát triển trong khoảng nhiệt độ tương đối rộng
từ 6 45,6oC và trong pH từ 4,1 9,0. Khi xâm nhiễm vào cơ thể, chúng sẽ gây bệnh cho cả
người và động vật, chúng cũng là tác nhân chủ yếu gây ngộ độc thực phẩm khi chưa đảm bảo
an toàn trong chế biến thực phẩm. Qua đánh giá bằng tiêu chuẩn ISO 65791:2017 thì không
phát hiện thấy Salmonella spp.
Hiện nay chưa có quy định về ngưỡng an toàn vi sinh cho sản phẩm bột sinh khối
của nấm, do đó nhóm nghiên cứu tham khảo quy chuẩn quy định giới hạn tối đa cho phép
vi sinh vật trong ngũ cốc và sản phẩm ngũ cốc gồm có: 1. Sản phẩm có xử lý nhiệt trước
khi sử dụng; 2. Dùng trực tiếp, không qua xử lý nhiệt trước khi sử dụng; 3. Thức ăn dinh
dưỡng cho trẻ em phải xử lý nhiệt trước khi sử dụng theo “Quy định giới hạn tối đa ô
nhiễm sinh học và hóa học trong thực phẩm” được ban hành kèm theo Quyết định số
25Tạp chí Kiểm nghiệm và An toàn thực phẩm, Tập 3, Số 1, 2020
Nguyễn Thị Minh Huyền, Trần Thị Hoa, Ninh Thị Tuyết Lan... Trần Thị Hiền
46/2007/QĐBYT ngày 19/12/2007 của Bộ trưởng Bộ Y tế, làm kết quả đối chứng. Kết
quả các chỉ tiêu đánh giá chất lượng vi sinh của bột sinh khối nấm Thượng Hoàng được
tổng hợp ở Bảng 1 dưới đây.
Bảng 1. Kết quả thử nghiệm vi sinh bột sinh khối nấm Thượng Hoàng
1*: Mục 6.5. Quy định giới hạn cho phép vi sinh vật trong ngũ cốc và sản phẩm ngũ cốc, Phần
1: Sản phẩm chế biến từ ngũ cốc, khoai, củ, đậu đỗ: bột, miến, mỳ sợi (có xử lý nhiệt trước khi
sử dụng).
2*: Mục 6.5. Quy định giới hạn cho phép vi sinh vật trong ngũ cốc và sản phẩm ngũ cốc, Phần
2: Sản phẩm chế biến từ ngũ cốc, khoai, củ, đậu đỗ: bột, miến, mỳ sợi (dùng trực tiếp, không
qua xử lý nhiệt trước khi sử dụng).
3*: Mục 6.9. Quy định giới hạn cho phép vi sinh vật trong thức ăn đặc biệt. Phần 1: Thức ăn
khô và thức ăn dinh dưỡng cho trẻ em, thức ăn thay thế đặc biệt (phải xử lý nhiệt trước khi sử
dụng).
ND: Không quy định
Như vậy so với cả 03 nhóm tham khảo, phần lớn các nội dung xét nghiệm của bột sinh
khối nấm Thượng Hoàng đều có chỉ số nằm dưới ngưỡng giới hạn. Chỉ có chỉ tiêu tổng số sinh
vật hiếu khí cao hơn so với giới hạn tối đa cho phép tại mục chỉ tiêu tham khảo 2*. Việc xuất
hiện vi sinh vật hiếu khí chỉ có thể xảy ra sau khi lên men do quá trình thu mẫu và đông khô hay
nghiền bột đều làm thủ công, không qua hệ thống tiệt trùng liên hoàn. Tuy nhiên, cách dùng
thông thường của nấm Thượng Hoàng là sắc với nước nóng và uống do đó bột nấm Thượng
Hoàng không phải là sản phẩm sử dụng trực tiếp không qua xử lý nhiệt. Việc này làm giảm nguy
cơ ảnh hưởng đến sức khỏe của các vi sinh vật hiếu khí có hại (nếu như có) trong sản phẩm bột
nấm. Do đó, có thể cho rằng bột nấm sau các quá trình nghiên cứu của chúng tôi đạt sự an toàn
về mặt vi sinh và có thể dùng cho các nghiên cứu tiếp theo.
STT Tên ch͑ tiêu Ph˱˯ng pháp th͵ K͇t qu̫
Giͣi h̩n t͙i ÿa cho phép
theo QĈ 46/2007/QĈ-BYT
1* 2* 3*
1 Tәng sӕ VSV hiӃu khí (CFU/g) ISO 4833-
1:2013
2,2 × 104 106 104 105
2 Coliforms (CFU/g) ISO
4832:2006
< 1,0 × 101 103 10 102
3 E.coli (CFU/g) ISO 16649-
2:2001
Không có 102 3 10
4
Staphylococci có phҧn ӭng dѭѫng
tính vӟi Coagulase (CFU/g)
ISO 6888-
1:1999
< 1,0 × 101 102 10 102
5
Tәng sӕ bào tӱ nҩm men mӕc
(CFU/g)
ISO 21527-
1,2:2008
< 1,0 × 101 103 102 ND
6 C.perfringens (CFU/g) ISO
7937:2004
Không có 102 10 10
7 Salmonella spp /25g ISO 6579-
1:2017
Không phát
hiӋn ND ND
Không
có
26 Tạp chí Kiểm nghiệm và An toàn thực phẩm, Tập 3, Số 1, 2020
Nghiên cứu đánh giá an toàn vi sinh và kim loại nặng của bột sinh khối nấm thượng hoàng...
3.3. Mức độ an toàn đối với Arsenic và Chì của bột sinh khối nấm Thượng Hoàng thu được
thông qua nuôi cấy trên môi trường lỏng
Nguy cơ nhiễm Arsenic và Chì là khá phổ biến do chúng có mặt trong nhiều môi trường
khác nhau và ở nồng độ cao có thể gây hại cho sức khỏe của con người. Sinh khối nấm Thượng
Hoàng được nhân nuôi trong môi trường lỏng, với nước là nguồn nước máy của Thành phố và
các hóa chất khác chưa hoàn toàn tinh khiết. Do đó, ngoài các chỉ tiêu vi sinh, các chỉ tiêu
Arsenic, Chì cũng được kiểm tra để đánh giá độ an toàn của sản phẩm bột nấm. Kết quả đánh
giá được đưa ra dưới đây.
3.3.1. Hàm lượng Arsenic (As)
Arsenic được tìm thấy trong tự nhiên ở nguồn nước ngầm trên toàn thế giới và có thể gây
ra nhiều nguy hiểm đối với sức khỏe con người như gây độc cho hệ tuần hoàn và ung thư da...
Nước được sử dụng để cấp cho hệ thống lên men nấm Thượng Hoàng là nước máy được lấy
qua hệ thống cấp nước của Thành phố, do đó vẫn có khả năng tồn dư Arsenic. Qua đánh giá
bằng tiêu chuẩn AOAC 2015.01 cho kết quả là không phát hiện Arsenic trong bột sinh khối nấm
Thượng Hoàng (LOD = 0,01 mg/kg).
3.3.2. Hàm lượng chì (Pb)
Chì là kim loại rất độc, có khả năng gây sảy thai hoặc ảnh hưởng đến hệ thần kinh trung
ương. Bằng mắt thường hoặc ngửi, qua cảm quan ta không thể phát hiện hàm lượng Chì có trong
các loại thực phẩm. Qua đánh giá bằng tiêu chuẩn AOAC 2015.01, kết quả không phát hiện Chì
trong bột sinh khối nấm Thượng Hoàng (LOD = 0,03 mg/kg).
Tương tự như các chỉ tiêu vi sinh, chưa có quy định cụ thể về hàm lượng Chì và Arsenic
được phép có mặt trong sản phẩm bột sinh khối nấm. Do đó, chúng tôi tham khảo giới hạn tối
đa cho phép kim loại trong thực phẩm đối với thực phẩm chức năng, ngũ cốc và thực phẩm đặc
biệt theo “Quy định giới hạn tối đa ô nhiễm sinh học và hóa học trong thực phẩm” được ban
hành kèm theo Quyết định số 46/2007/QĐBYT ngày 19/12/2007 của Bộ trưởng Bộ Y tế. Kết
quả tổng hợp trong bảng 2 dưới đây.
Bảng 2. Kết quả thử nghiệm tồn dư Arsenic và Chì của bột sinh khối nấm Thượng Hoàng
1*: Phần 5.2. Arsenic, ngũ cốc; Phần 5.4 Chì, ngũ cốc, đậu đỗ
2*: Phần 5.2. Arsenic, thực phẩm chức năng; Phần 5.4 Chì, thực phẩm chức năng
3*: Phần 5.2. Arsenic, thực phẩm đặc biệt; Phần 5.4 Chì, thức ăn cho trẻ dưới 1 tuổi
Như vậy, so sánh với quy định giới hạn tối đa cho phép gần nhất thì hàm lượng Arsenic
và Chì trong bột sinh khối nấm Thượng Hoàng nằm dưới ngưỡng giới hạn tối đa cho phép của
nhóm thức ăn đặc biệt dành cho trẻ em là nhóm có ngưỡng giới hạn thấp nhất tương ứng là 0,1
mg/kg và 0,02 mg/kg (bảng 2). Kết quả cho thấy, bột sinh khối nấm Thượng Hoàng sản xuất
theo quy trình lên men chìm là an toàn về chỉ tiêu Arsenic và Chì.
STT Tên ch͑ tiêu Ph˱˯ng pháp th͵ K͇t qu̫
Giͣi h̩n t͙i ÿa cho phép theo
QĈ 46/2007/QĈ-BYT
1* 2* 3*
1 Asen (mg/kg) AOAC 2015.01
Không phát hiӋn
(LOD = 0,01)
1 5 0,1
2 Chì (mg/kg) AOAC 2015.01
Không phát hiӋn
(LOD = 0,03)
0,2 10 0,02
r ic (mg/kg)
27Tạp chí Kiểm nghiệm và An toàn thực phẩm, Tập 3, Số 1, 2020
Nguyễn Thị Minh Huyền, Trần Thị Hoa, Ninh Thị Tuyết Lan... Trần Thị Hiền
4. KẾT LUẬN
Nấm Thượng Hoàng có thể được nuôi trồng ở trong bình lên men sinh khối lỏng với thời
gian lên men rút ngắn hơn rất nhiều so với nuôi trồng trên giá thể thân gỗ mục. Chất lượng bột
sinh khối đạt ngưỡng an toàn về mặt vi sinh và không có Arsenic và Chì. Ngoài ra, để bột sinh
khối nấm đạt chất lượng tốt, cần cải thiện quy trình nuôi trồng để các chất có hoạt tính sinh học
cao hơn. Việc chủ động tạo ra sản phẩm nấm này có ý nghĩa rất lớn trong công nghiệp dược bởi
giá trị của nấm rất cao và tốt cho sức khỏe.
LỜI CẢM ƠN
Nghiên cứu này hoàn thành nhờ tài trợ kinh phí từ đề tài Bộ Công Thương mã số
ĐT.04.18/CNSHCB. Nhóm nghiên cứu xin chân thành cảm ơn sự giúp đỡ của Viện Công nghệ
HAUI, Trường Đại học Công nghiệp Hà Nội đã hỗ trợ nhân lực và hợp tác để thực hiện nghiên
cứu này.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
[1] J. G. Han, M. W. Hyun, C. S. Kim, J. W. Jo , J. H. Cho , K. H. Lee, W. S. Kong, S. K. Han,
J. Oh and G. H. Sung, “Species identity of Phellinus linteus (sanghuang) extensively used
as a medicinal mushroom in Korea”, Journal of Microbiology, vol 54, no. 4, pp. 290295, 2016.
[2] J. J. Pei, Z. B. Wang, H. L. Ma, J. K. Yan, “Structural features and antitumor activity of a
novel polysaccharide from alkaline extract of Phellinus linteus mycelia,” Carbohydrate
Polymers, vol. 115, pp. 472477, 2015.
[3] C. J. Lin, H. M. Lien, H. Y. Chang, C. L. Huang, J. J. Liu, Y. C. Chang, C. C. Chen and C.
H. Lai, “Biological evaluation of Phellinus linteusfermented broths as antiinflammatory
agents”, Journal of Bioscience and Bioengineering, vol. 118, no. 1, pp. 8893, 2014.
[4] I. K. Lee and B. S Yun, “Highly oxygenated and unsaturated metabolites providing a diversity
of hispidin class antioxidants in the medicinal mushrooms Inonotus and Phellinus”, Bioor
ganic & Medicinal Chemistry, vol 15, no. 10, pp. 33093314, 2007.
[5] T. Zhu, S. H. Kim and C. Y. Chen, “A medicinal mushroom: Phellinus linteus”, Current
Medicinal Chemistry, vol 15, no 13, pp. 13301335, 2008.
[6] J. E. Ramberg, E. D. Nelson, R. A. Sinnott, “Immunomodulatory dietary polysaccharides: a
systematic review of the literature”, Nutrition Journal, vol. 9, no. 54, 2010.
[7] I. K. Lee and B. S. Yun, “Styrylpyroneclass compounds from medicinal fungi Phellinus and
Inonotus spp., and their medicinal importance”, The Journal of Antibiotics (Japan), vol. 64,
no. 5, pp. 349359, 2011.
[8] I. H. Park, S. Y. Jeon, H. J. Lee, S. I. Kim and K. S. Song, “A betasecretase (BACE1)
inhibitor hispidin from the mycelial cultures of Phellinus linteus”, Planta Medica, vol. 70,
no. 2, pp. 143146, 2004.
[9] H. J. Hwang, S. W. Kima, J. W. Choi and J. W. Yun, “Production and characterization of
exopolysaccharides from submerged culture of Phellinus linteus KCTC 6190”, Enzyme and
Microbial Technology, vol. 33, no. 23, pp. 309319, 2003.
[10] W. S. Jo, Y. H. Rew, S. G. Choi, G. S. Se, J. M. Sung and J. Y. Uhm, “The culture conditions for
the mycelial growth of Phellinus spp.”, Mycrobiology, vol. 34, no. 4, pp. 200205, 2006.
[11] J. W. Lee, S. J. Baek and Y. S. Kim, “Submerged culture of Phellinus linteus for mass
production of polysaccharides”, Mycrobiology, vol. 36, no. 3, pp.178182, 2008.
28 Tạp chí Kiểm nghiệm và An toàn thực phẩm, Tập 3, Số 1, 2020
Nghiên cứu đánh giá an toàn vi sinh và kim loại nặng của bột sinh khối nấm thượng hoàng...
Summary
EVALUATION OF MICROBIOLOGICAL AND HEAVY METAL SAFETY ASSESSMENT OF
PHELLINUS LINTEUS MASS POWDER FROM SUBMERGED FERMENTATION
Nguyen Thi Minh Huyen1, 3, Tran Thi Hoa1, Ninh Thi Tuyet Lan1
Pham Thi Le2, Do Thi Men2, Tran Thi Hien2
1 Institute of Biotechnology, Vietnam Academy of Science and Technology
2 Falcuty of Biology, VNU University of Science, Vietnam National University, Hanoi
3 Graduate University of Science and Technology, Vietnam Academy of Science and Technology
Phellinus linteus is known to be a medicinal mushroom which is very good to human
health. They are used as medicinal mushroom in many Asian countries such as Japan, Korea,
China, Thailand and Vietnam. Because of long time growth and overhavest by humans in natural
conditions, they are artificially cultured in these countries. There were advances of liquid culture
of mushroom such as time saving and scaleable in culture in comparison with culturing of
mushroom in decaying wood. In this study, Phellinus linteus is cultured in optimum liquid
medium, lyophilized, ground into fine powder and evaluated for microbiological and total of
Arsenic and Lead to ensure the biomass product will meet safety standards for users. Results
are as follows: Total of anaerobic bacteria 2,2 × 10 4 CFU/g, Coliforms < 1,0 × 101 CFU/g,
Coagulase positive with Staphylococci < 1,0 × 101 CFU/g, total amount of yeast mold < 1,0
× 101 CFU/g, not detected of E.coli, Clostridium perfringens and Salmonella spp.. Furthermore,
we did not find any Arsenic and Lead which are supposed to remain in our sample.
Keywords: biomass, phellinus linteus, culture, liquid medium, microbiology, heavy metals,
safety.
Các file đính kèm theo tài liệu này:
nghien_cuu_danh_gia_an_toan_vi_sinh_va_kim_loai_nang_cua_bot.pdf