Trong quá trình lão suy, hoạt tính auxin, gibberellin
và cytokinin giảm mạnh trong khi hoạt tính ABA tăng
cao (Bảng 3 và 4). Theo Alós và cộng sự (2019), sự
gia tăng hoạt tính ABA cảm ứng sự hoạt hóa các gene
khởi phát quá trình lão suy13. Bên cạnh đó, sự giảm
hoạt tính auxin và cytokinin tạo điều kiện cho sự tổng
hợp acid aminocyclopropane-1-carboxylic (ACC) và
chuyển đổi ACC thành ethylene để thúc nhanh quá
trình lão suy11. Do đó, việc xử lý hoa đầu cô lập với
auxin (NAA 1 – 4 mg/L) hay cytokinin (BA 2,5 – 7
mg/L) đều giúp kéo dài đời sống và gia tăng đường
kính của hoa đầu cô lập (Bảng 5 và 6). Theo Doorn
và Woltering (2008) auxin khởi phát quá trình truyền
tín hiệu để tăng cường sự sinh tổng hợp các protein
tham gia trong pha S của chu trình tế bào, trong khi
cytokinin tác động trên sự phosphoryl hóa các protein
kiểm soát quá trình lão suy tế bào9. Hơn nữa, auxin và
cytokinin còn có vai trò thu hút và phân phối các chất
dinh dưỡng (sự điều hòa nguồn - bể) bằng cách điều
hòa hoạt động của enzyme tham gia vào con đường
vận chuyển sucrose theo con đường apoplast14. Nếu
như xử lý với auxin và cytokinin giúp kéo dài đời sống
và gia tăng đường kính của hoa đầu cô lập, thì xử lý
với acid salicylic bên cạnh việc giúp hoa kéo dài đời
sống hoa đầu mà còn giúp hoa đầu giữ được màu sắc
(Bảng 5, Hình 6). Theo Aziz và Kapoor (2018), acid
salicylic giúp ngăn cản quá trình sinh tổng hợp ethylene bằng cách ức chế hoạt động của enzyme tham
gia vào quá trình tổng hợp ethylene. Đồng thời, acid
salicylic còn giúp hạn chế sự phát triển của vi khuẩn,
giúp tăng hoạt tính các enzyme chống oxy hóa và làm
giảm pH của dịch không bào, từ đó làm tăng tính bền
của sắc tố15. Chính vì vậy, xử lý phối hợp sucrose 10
g/L, BA 5 mg/L, NAA 2 mg/L và acid salicylic 20 mg/L
trong 24 giờ đã giúp kéo dài đời sống của cắt cành và
gia tăng đường kính hoa đầu (Bảng 6Hình 7).
KẾT LUẬN
Đời sống của hoa cắt cành cây cúc Sakura gồm hai giai
đoạn: (1) tăng trưởng và nở hoa và (2) lão suy cành
mang hoa. Trong quá trình lão suy của cành mang
hoa, có sự giảm mạnh hàm lượng diệp lục tố và cường
độ quang hợp của lá. Hàm lượng tinh bột và đường
tổng số giảm mạnh trước tiên ở lá và cuống và sau đó
ở hoa. Sự lão suy của hoa được dẫn trước bởi lão suy
của lá. Trong quá trình lão suy của cành mang hoa, độ
hấp thu của dịch trích sắc tố hoa hình lưỡi, hoạt tính
auxin, zeatin và gibberellin giảm trong khi cường độ
hô hấp và hoạt tính ABA tăng. Sự dùng sucrose 10 g/L,
BA 5 hay 7,5 mg/L, NAA 2 hay 4 mg/L, acid salicylic
15 hay 20 mg/L đều giúp kéo dài đời sống của hoa
đầu cô lập. Xử lý phối hợp sucrose 10 g/L, BA 5 mg/L,
NAA 2 mg/L và acid salicylic 20 mg/L trong 24 giờ
vừa giúp kéo dài đời sống của hoa cắt cành vừa giúp
gia tăng đường kính hoa đầu.
11 trang |
Chia sẻ: hachi492 | Lượt xem: 2 | Lượt tải: 0
Bạn đang xem nội dung tài liệu Nghiên cứu đời sống của hoa cúc Sakura cắt cành, để tải tài liệu về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
Tạp chí Phát triển Khoa học và Công nghệ – Khoa học Tự nhiên, 4(1):336-346
Open Access Full Text Article Bài nghiên cứu
Khoa Sinh học và Công nghệ Sinh học,
Trường ĐH Khoa học Tự nhiên,
ĐHQG-HCM, Việt Nam
Liên hệ
Trần Thanh Thắng, Khoa Sinh học và Công
nghệ Sinh học, Trường ĐH Khoa học Tự
nhiên, ĐHQG-HCM, Việt Nam
Email: trtthang@hcmus.edu.vn
Lịch sử
Ngày nhận: 19-8-2019
Ngày chấp nhận: 27-11-2019
Ngày đăng:
DOI :10.32508/stdjns.v4i1.829
Bản quyền
© ĐHQG Tp.HCM. Đây là bài báo công bố
mở được phát hành theo các điều khoản của
the Creative Commons Attribution 4.0
International license.
Nghiên cứu đời sống của hoa cúc Sakura (Chrysanthemum indicum
cv. Sakura) cắt cành
Trần Thanh Thắng*, Hoàng Phương Triều, Trần Thanh Hương
Use your smartphone to scan this
QR code and download this article
TÓM TẮT
Cúc Sakura làmột trong những giống cúc trồng cho hoa đẹp, được ưa chuộng nhưng hoa cắt cành
có đời sống rất ngắn. Do đó, chất lượng hoa dễ bị ảnh hưởng khi vận chuyển và bảo quản, gây trở
ngại lớn cho việc xuất khẩu hoa. Chính vì vậy, trong nghiên cứu này, các biến đổi hình thái, sinh
lý và sinh hóa trong đời sống của hoa cắt cành được phân tích. Ảnh hưởng của các chất điều hòa
tăng trưởng thực vật và sucrose ở các nồng độ khác nhau lên đời sống của hoa cắt cành được khảo
sát. Đời sống của hoa cúc Sakura cắt cành gồm hai giai đoạn: (1), tăng trưởng và nở hoa (2), lão
suy cành mang hoa. Trong giai đoạn tăng trưởng và nở hoa, các hoa hình ống có sự chuyển màu
từ xanh lá sang vàng, các hoa hình lưỡi tiếp tục mở rộng dẫn đến sự gia tăng đường kính của hoa
đầu. Sự lão suy của cành mang hoa được khởi phát bởi sự giảm hàm lượng diệp lục tố trong các
lá thuộc phần gốc, sau đó sự lão suy hoa bắt đầu với sự nhạt màu của cánh hoa hình lưỡi. Trong
giai đoạn lão suy, cường độ hô hấp và hoạt tính acid abscisic của hoa tăng liên tục. Ngược lại, hàm
lượng tinh bột, hàm lượng đường tổng số, acid salicylic, hoạt tính auxin, cytokinin và gibberellin
giảmmạnh. Xử lý phối hợp sucrose 10 g/L, NAA 2 mg/L, BA 5 mg/L và acid salicylic 20 mg/L trong
24 giờ đầu giúp kéo dài đời sống của hoa cắt cành đồng thời gia tăng đường kính của hoa đầu.
Từ khoá: chất điều hòa tăng trưởng thực vật, Chrysanthemum indicum, đời sống hoa, hoa cắt
cành, sucrose
MỞĐẦU
Cây hoa cúc (Chrysanthemum indicum L.) là một
trong những cây cho hoa cắt cành phổ biến trên thế
giới, được ưa chuộng bởi sự đa dạng về kiểu dáng,
phong phú về màu sắc và kích cỡ1. Trong đó, giống
cúc Sakura cho hoa có màu tím đặc trưng và rất được
ưa thích tại thị trường Nhật Bản. Nhật Bản là quốc
gia có nhu cầu sử dụng giống cúc Sakura rất lớn nên
hàng năm Nhật Bản phải nhập khẩu một lượng lớn
từ các nước khác trên thế giới 1. Tại nước ta, hoa cúc
Sakura phần lớn được tập trung trồng ở khu vực Đà
Lạt và là một trong những loài hoa cắt cành xuất khẩu
chủ lực. Tuy nhiên, đời sống của hoa cắt cành cây cúc
Sakura rất ngắn, thời gian vận chuyển dài làm giảm
chất lượng của hoa, gây trở ngại lớn cho việc xuất
khẩu. Chính vì vậy, trong nghiên cứu này chúng tôi
tập trung tìm hiểu ảnh hưởng của sucrose và các chất
điều hòa tăng trưởng thực vật lên sự biến đổi hình
thái và sinh lý trong đời sống của hoa cắt cành cây
cúc Sakura nhằm kéo dài đời sống của hoa.
VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP
Chuẩn bị vật liệu
Hoa cúc Sakura có chiều dài 70 cm được thu nhận tại
vườn của công ty DaLat Hasfarm. Sau khi thu hoạch,
cành mang hoa được ngâm trong dung dịch chlorine
10 mg/L và đặt ở 3 – 4oC trong 7 ngày, sau đó chuyển
sang bảo quản khô ở nhiệt độ 1 – 2oC trong 6 ngày và
cuối cùng được vận chuyển bằng xe lạnh (9 – 10oC)
trong 8 giờ về phòng thí nghiệm (mô phỏng điều kiện
xuất khẩu sang Nhật Bản). Tại phòng thí nghiệm, các
hoa cắt cành được ngâm trong nước cất 30 phút, sau
đó cànhmang hoa được cắt ngắn còn 55 cm, mang 16
lá, 12 hoa đầu và cắm vào các erlen chứa nước cất.
Quan sát các biến đổi hình thái trong đời
sống của hoa cúc cắt cành
Các cànhmanghoa sau khi chuẩn bị được cắmvào các
erlen chứa 250mLnước cất (pH5,8) và đặt ở điều kiện
32 2oC, ẩm độ 65 5%, cường độ ánh sáng 8,5
0,1mmol.m 2.s 1 (thời gian chiếu sáng 12 giờ/ngày).
Thí nghiệm được lặp lại ba lần, mỗi lần ba cành mang
hoa.
Các biến đổi hình thái trong đời sống của cành mang
hoa được theo dõi theo thời gian. Dựa trên các biến
đổi hình thái, xác định thời điểm lão suy của lá và hoa.
Xác định sự thay đổi màu sắc cánh hoa, đường kính
trung bình của 5 hoa đầu trên cùng, trọng lượng tươi
của cành mang hoa và độ dẫn điện của nước cắm hoa
ở các thời điểm: bắt đầu thí nghiệm, hoa đầu có đường
Trích dẫn bài báo này: Thắng T T, Triều H P, Hương T T. Nghiên cứu đời sống của hoa cúc Sakura
(Chrysanthemum indicum cv. Sakura) cắt cành. Sci. Tech. Dev. J. - Nat. Sci.; 4(1):336-346.
336
Tạp chí Phát triển Khoa học và Công nghệ – Khoa học Tự nhiên, 4(1):336-346
kính lớn nhất, bắt đầu lão suy hoa đầu, 50% số lá lão
suy và 50% số hoa đầu lão suy.
Sự thay đổi màu sắc cánh hoa được xác định dựa vào
độ hấp thu của dịch trích sắc tố hoa hình lưỡi thuộc
hoa đầu trên cùng (trong methanol 70% - HCl 0,1%)
tại bước sóng 527 nmbằngmáy quang phổ (UV-2602,
USA) và phần mềm UV-Vis Auto 3.102. Đường kính
của hoa đầu được xác định như sau: trên chu vi của
hoa hình đầu, chọn 5 điểm có khoảng cách tương đối
đồng đều, từ mỗi điểm kẻ một đoạn thẳng qua tâm
đến vòng hoa hình lưỡi ngoài cùng ở vị trí đối diện.
Xác định chiều dài của mỗi đoạn thẳng bằng thước
kẻ. Đường kính của hoa đầu là giá trị trung bình của
5 đoạn thẳng. Độ dẫn điện của nước cắm hoa được
xác định bằng máy đo ECWTW LF 320 cầm tay.
Phân tích cácbiếnđổi sinh lý trongđời sống
của hoa cắt cành
Xácđịnhhàmlượngdiệp lục tốvàcarotenoid:
Diệp lục tố a, b, carotenoid trong lá thứ 16 (tính từ
trên xuống) được ly trích bằng ethanol 96%, đo OD
bằng máy đo quang phổ (UV-2602, USA) ở các bước
sóng 470 nm, 649 nm, 664 nm và xác định theo công
thức sau3:
Diệp lục tố a = 13,36.A664 – 5,19.A648
Diệp lục tố b = 27,43.A648 – 8,12.A664
Carotenoid = (1000.A470 – 2,13.Chla –
97,64.Chlb)/209
Xác định cường độ quang hợp
Cường độ quang hợp (mmol O2/cm2 lá/giờ) của lá
thứ 16 (tính từ trên xuống) được xác định bằng điện
cực oxygen dựa trên sự tăng oxygen trong buồng đo
(LeafLab2, Hansatech) theo thời gian, ở 30oC với
cường độ ánh sáng 2000 lux.
Xác định cường độ hô hấp
Cường độ hô hấp (mg CO2/g trọng lượng tươi/giờ)
của hoa đầu trên cùng được xác định bằng hệ thống
dòng khí ở 30oCdựa trên sự hấp thuCO2 thải ra do hô
hấp bởi Ba(OH)2 và lượng dư Ba(OH)2 được chuẩn
độ bằng acid oxalic với chất chỉ thị phenolphthalein 4.
Xác định hàm lượng đường tổng số và tinh
bột
Đường tổng số, tinh bột trong lá thứ 16 (tính từ
trên xuống) và hoa đầu trên cùng được ly trích
bằng ethanol 96 %, thực hiện phản ứng màu với
H2SO4:phenol (9:1 theo thể tích), đo OD bằng máy
đo quang phổ (UV-2602, USA) ở bước sóng 490 nm
và xác định hàm lượng bằng cách so sánh với đường
chuẩn sucrose (hàm lượng đường tổng số) hay glucose
(hàm lượng tinh bột)5.
Xác định hàm lượng acid salicylic
Acid salicylic trong lá thứ 16 (tính từ trên xuống), hoa
đầu trên cùng được ly trích bằng nước, thực hiện phản
ứng màu với FeCl3, đo OD bằng máy đo quang phổ
(UV-2602, USA) ở bước sóng 540 nmvà xác định hàm
lượng bằng cách so sánh với đường chuẩn acid sali-
cylic6.
Ly trích và xác định hoạt tính chất điều hòa
tăng trưởng thực vật
Auxin, cytokinin, gibberellin và acid abscisic (ABA)
trong mẫu được ly trích và cô lập bằng cách dùng các
dungmôi thích hợp và thực hiện sắc ký trên bảnmỏng
silica gel 60 F254 (mã số 1.05554, Merck), ở nhiệt độ
29oC với dung môi di chuyển chloroform:methanol:
acid acetic (80:15:5 theo thể tích). Vị trí của các chất
điều hòa tăng trưởng thực vật được phát hiện bằng
cách quan sát trực tiếp dưới tia UV. Hoạt tính các chất
điều hòa tăng trưởng thực vật được đo bằng sinh trắc
nghiệm: diệp tiêu lúa (Oryza sativa L.) cho auxin và
acid abscisic, tử diệp dưa leo (Cucumis sativus L.) cho
cytokinin và cây mầm xà lách (Lactuca sativa L.) cho
gibberellin7,8.
Khảo sát ảnh hưởng của sucrose ở các nồng
độ khác nhau lên sự kéo dài đời sống của
hoa đầu cô lập
Các hoa đầu có đường kính 4,05 0,02 cm được cô
lập với phần cuống còn 1 cmvà cắm tronghộp chứa 60
mL dung dịch sucrose 10, 20 hay 30 g/L. Thí nghiệm
được đặt ở 32 2oC, ẩm độ 65 5%, cường độ ánh
sáng 8,5 0,1 mmol.m 2.s 1 (thời gian chiếu sáng
12 giờ/ngày). Mỗi nghiệm thức được lặp lại ba lần,
mỗi lần ba hoa đầu. Quan sát các biến đổi hình thái
của hoa đầu cô lập theo thời gian. Xác định thời gian
lão suy hoa đầu (hoa hình lưỡi lớp ngoài cùng héo và
nhạt màu), đường kính hoa đầu và sự thay đổi màu
sắc cánh hoa dựa vào độ hấp thu của dịch trích sắc tố
hoa hình lưỡi tại thời điểm 50% hoa đầu của nghiệm
thức đối chứng lão suy.
Khảo sát ảnh hưởng của các chất điều hòa
tăng trưởng thực vật lên sựkéodài đời sống
của hoa đầu cô lập
Các hoa đầu có đường kính 4,05 0,02 cm được cô
lập với phần cuống còn 1 cm và cắm trong hộp chứa
60 mL dung dịch BA 2,5; 5 hay 7,5 mg/L; NAA 1, 2
hay 4 mg/L hoặc acid salicylic 10, 15 hay 20mg/L.Thí
nghiệm được đặt ở 32 2oC, ẩm độ 65 5%, cường
độ ánh sáng 8,5 0,1mmol.m 2.s 1 (thời gian chiếu
sáng 12 giờ/ngày). Mỗi nghiệm thức được lặp lại ba
lần, mỗi lần ba hoa đầu. Quan sát các biến đổi hình
337
Tạp chí Phát triển Khoa học và Công nghệ – Khoa học Tự nhiên, 4(1):336-346
thái của hoa đầu cô lập theo thời gian. Xác định thời
gian lão suy hoa đầu (hoa hình lưỡi lớp ngoài cùng
héo và nhạt màu), đường kính hoa đầu và sự thay đổi
màu sắc cánh hoa dựa vào độ hấp thu của dịch trích
sắc tố hoa hình lưỡi tại thời điểm 50% hoa đầu của
nghiệm thức đối chứng lão suy.
Áp dụng phối hợp sucrose và các chất điều
hòa tăng trưởng thực vật nhằm kéo dài đời
sống của hoa cắt cành
Các cành mang hoa sau khi chuẩn bị (theo mô tả ở
mục chuẩn bị vật liệu) được cắm vào các erlen chứa
250 mL nước cất (đối chứng) hay hỗn hợp dung dịch
sucrose 10 g/L, NAA 2 mg/L, BA 5 mg/L và acid sal-
icylic 20 mg/L trong thời gian 24 hay 48 giờ và sau
đó chuyển sang nước cất. Thí nghiệm được bố trí ở
32 2oC, ẩm độ 65 5%, cường độ ánh sáng 8,5
0,1mmol.m 2.s 1 (thời gian chiếu sáng 12 giờ/ngày).
Mỗi nghiệm thức được lặp lại ba lần, mỗi lần ba cành
mang hoa. Theo dõi đời sống và xác định thời gian
lão suy của của cành mang hoa.
Xử lý thống kê
Kết quả thí nghiệm được phân tích bằng phần mềm
SPSS (Statistical Package for the Social Sciences) dùng
cho Window phiên bản 20.0. Sự khác biệt có ý nghĩa
95% của giá trị được thể hiện bởi cácmẫu tự kèm theo.
KẾT QUẢ
Các biến đổi hình thái trong đời sống của
hoa cắt cành
Đời sống của hoa cắt cành cây cúc Sakura kéo dài
207,67 giờ, bao gồm hai giai đoạn: tăng trưởng và nở
hoa (65,67 giờ) và lão suy của cành hoa (141,95 giờ).
Giai đoạn tăng trưởng và nở hoa được biểu hiện bởi
sự gia tăng tiếp tục đường kính hoa đầu cho đến khi
hoa đầu đạt đường kính lớn nhất (Bảng 1). Giai đoạn
lão suy của cành mang hoa bắt đầu khi các lá ở phần
gốc có hiện tượng cong xuống và hoàng hóa, sau đó
cánh hoa hình lưỡi nhạt màu (Hình 1). Vào giai đoạn
lão suy, đường kính của hoa đầu và trọng lượng tươi
của cành mang hoa giảm trong khi độ dẫn điện của
nước cắm hoa tăng liên tục (Bảng 1).
Các biến đổi sinh lý trong đời sống của hoa
cắt cành
Hàm lượng diệp lục tố và carotenoid
Hàm lượng diệp lục tố a và b trong lá thứ 16 đều giảm
dần trong suốt đời sống của hoa cắt cành trong khi
hàm lượng carotenoid gia tăng ở thời điểm bắt đầu
lão suy lá và giảm ở thời điểm bắt đầu lão suy hoa đầu
(Hình 2).
Độ hấp thu dịch trích sắc tố hoa hình lưỡi
Độ hấp thu của dịch trích sắc tố hoa hình lưỡi thuộc
hoa đầu trên cùng ở bước sóng 527 nmgiảmdần trong
suốt đời sống của hoa cắt cành (Hình 3).
Cường độ hô hấp của hoa đầu và cường độ
quang hợp của lá
Cường độ hô hấp của hoa đầu gia tăng liên tục trong
giai đoạn tăng trưởng và nở hoa cho đến khi bắt đầu
lão suy hoa đầu, trong khi cường độ quang hợp của
lá lại giảm dần trong suốt đời sống của hoa cắt cành
(Hình 4 và 5).
Hàm lượng đường tổng số và tinh bột
Hàm lượng đường tổng số trong hoa đầu, cuống và lá
đều tăngmạnh trong giai đoạn tăng trưởng và nở hoa,
sau đó giảm dần khi hoa bắt đầu lão suy. Hàm lượng
tinh bột trong hoa đầu đạt cao nhất tại thời điểm bắt
đầu thí nghiệm, sau đó giảm dần trong suốt đời sống
của hoa cắt cành. Trong khi đó, hàm lượng tinh bột
trong cuống và lá tăng nhẹ tại thời điểm hoa đầu có
đường kính lớn nhất, sau đó giảm mạnh khi hoa đầu
bắt đầu lão suy (Bảng 2).
Hoạt tính các chất điều hòa tăng trưởng thực
vật và hàm lượng acid salicylic
Trong suốt đời sống của hoa cắt cành, hoạt tính
auxin, cytokinin, gibberellin và hàm lượng acid sali-
cylic trong lá và hoa đều giảm, trong khi hoạt tính acid
abscisic tăng dần. Hoạt tính auxin, cytokinin, ABA
và hàm lượng acid salicylic trong hoa luôn cao hơn
trong lá. Trong khi đó, hoạt tính gibberellin ở hoa cao
hơn trong lá vào thời điểm bắt đầu thí nghiệm, sau đó
không có sự khác biệt vào thời điểm hoa đạt đường
kính lớn nhất và lão suy hoa (Bảng 3).
Ảnh hưởng của sucrose ở các nồng độ khác
nhau lên sự kéodài đời sống của hoađầu cô
lập
Tất cả các xử lý với sucrose đều giúp kéo dài đời sống
của hoa đầu cô lập, gia tăng đường kính hoa đầu và
độ hấp thu của dịch trích sắc tố hoa hình lưỡi so với
đối chứng. Ở nồng độ 10 g/L, sucrose giúp đời sống
của hoa đầu được kéo dài nhất và độ hấp thu của dịch
trích sắc tố hoa hình lưỡi ở bước sóng 527 nm cao
nhất (Bảng 4).
338
Tạp chí Phát triển Khoa học và Công nghệ – Khoa học Tự nhiên, 4(1):336-346
Hình 1: Các biến đổi hình thái trong đời sống của hoa cắt cành theo thời gian: A. Hoa cắt cành tại thời điểm hoa
đầu có đường kính lớn nhất; B. Hoa cắt cành tại thời điểm bắt đầu lão suy lá với các lá thứ 16, 15, 14 cong xuống (mũi
tên); C. Hoa cắt cành tại thời điểm 50% hoa đầu lão suy với màu sắc hoa nhạt dần và lá cong xuống (mũi tên);D. Hoa
cắt cành tại thời điểm tất cả các hoa đầu lão suy với cánh hoa hóa nâu và lá hoàng hóa (mũi tên)
Bảng 1: Độ dài đời sống và các thay đổi của hoa cắt cành được cắm trong nước cất theo thời gian
Thời điểm Độ dài đời sống của
hoa cắt cành (giờ)
Đường kính
hoa đầu (cm)
Trọng lượng tươi của
hoa cắt cành (g)
Độ dẫn điện của nước
cắm hoa (mS/cm)
Bắt đầu thí nghiệm 3,91 c 45,58 a 105,90 d
Hoa đầu có đường
kính lớn nhất
65,67 d 4,15 a 41,40 b 109,70 c
Hoa bắt đầu lão
suy
120,00 c 4,05 b 39,66 c 112,17 b
50 % số lá lão suy 184,70 b 3,83 c 35,87 d 113,53 b
50 % số hoa lão suy 207,67 a 3,61 d 32,85 e 115,20 a
Các giá trị trung bình trong cùng một cột với các mẫu tự khác nhau khác biệt có ý nghĩa ở mức p 0,05
Hình 2: Hàm lượng diệp lục tố và carotenoid trong lá ở các thời điểm khác nhaua
aCác mẫu tự ở các cột khác nhau trong cùng một chỉ tiêu khác biệt có ý nghĩa ở mức p 0,05
339
Tạp chí Phát triển Khoa học và Công nghệ – Khoa học Tự nhiên, 4(1):336-346
Hình 3: Độ hấp thu của dịch trích sắc tố hoa hình lưỡi tại bước sóng 527 nm ở các thời điểm khác nhaua
aCác mẫu tự ở các cột khác nhau khác biệt có ý nghĩa ở mức p 0,05
Hình 4: Sự thay đổi cường độ hô hấp của hoa đầu trên cùng ở các thời điểm khác nhaua
aCác mẫu tự ở các cột khác nhau có ý nghĩa ở mức p 0,05
340
Tạp chí Phát triển Khoa học và Công nghệ – Khoa học Tự nhiên, 4(1):336-346
Bảng 2: Hàm lượng đường tổng số và tinh bột ở hoa đầu, cuống và lá ở các thời điểm khác nhau
Cơ quan Hàm lượng đường tổng số (mg/g TLT) Hàm lượng tinh bột (mg/g TLT)
Bắt
đầu thí
nghiệm
Hoa đầu
có đường
kính lớn
nhất
Bắt đầu lão
suy hoa
đầu
Bắt đầu thí nghiệm Hoa đầu
có đường
kính lớn
nhất
Bắt đầu lão suy
hoa đầu
Hoa đầu 102,14
a2
124,94 a1 98,68 a23 2,62 a1 2,58 b2 1,27 b3
Cuống 78,24 c2 108,56 b1 37,09 c3 2,20 b2 3,14 a1 1,86 a3
Lá 89,99 b2 105,72 c1 48,69 b3 1,20 c2 1,32 c1 1,04 c3
Các giá trị trong cùng một cột với các mẫu tự hay cùng một hàng với các số khác nhau khác biệt có ý nghĩa ở mức p 0,05
Bảng 3: Sự thay đổi hoạt tính các chất điều hòa tăng trưởng thực vật và hàm lượng acid salicylic trong hoa và lá
ở các thời điểm khác nhau
Chất điều hòa
tăng trưởng thực
vật
Bộ phận cây Bắt đầu thí nghiệm Hoa đầu có đường
kính lớn nhất
Bắt đầu lão suy hoa
đầu
Auxin (mg/L) Hoa 0,43 a 0,27 b 0,19 c
Lá 0,25 a 0,20 b 0,07 c
Cytokinin
(mg/L)
Hoa 0,51 a 0,45 b 0,36 c
Lá 0,38 a 0,34 b 0,28 c
Gibberellin
(mg/L)
Hoa 0,31 a 0,23 b 0,14 c
Lá 0,27 a 0,22 b 0,12 c
ABA (mg/L) Hoa 0,40 c 0,47 b 0,80 a
Lá 0,11 c 0,38 b 0,42 a
Acid salicylic
(mg/g)
Hoa 227,33 a 197,81 b 163,76 c
Lá 156,38 a 135,42 b 82,80 c
Các giá trị trong cùng một hàng với các mẫu tự khác nhau khác biệt có ý nghĩa ở mức p 0,05
(*), các giá trị trong cùng một cột với cùng một chỉ tiêu phân tích khác biệt có ý nghĩa ở mức p 0,05
Bảng 4: Ảnh hưởng của sucrose lên sự kéo dài đời sống của hoa đầu cô lập
Xử lý (g/L) Thời gian 50% hoa
đầu lão suy (giờ)
Đường kính hoa đầu
ở thời điểm 50% hoa
lão suy (cm)
Độ hấp thu của dịch
trích sắc tố hoa hình
lưỡi tại 527 (nm)
Đối chứng 56,00 d 4,53 c 0,16 c
Sucrose 10 360,00 a 4,77 b 0,25 a
20 304,00 b 5,13 a 0,24 a
30 160,00 c 5,01 a 0,20 b
Các giá trị trong cùng một cột với các mẫu tự khác nhau khác biệt có ý nghĩa ở mức p 0,05
341
Tạp chí Phát triển Khoa học và Công nghệ – Khoa học Tự nhiên, 4(1):336-346
Hình 5: Sự thay đổi cường độ quang hợp của lá thứ 16 (từ trên xuống) ở các thời điểm khác nhaua
aCác mẫu tự ở các cột khác nhau có ý nghĩa ở mức p 0,05
Ảnh hưởng của các chất điều hòa tăng
trưởng thực vật lên sự kéo dài đời sống của
hoa đầu cô lập
So với đối chứng, đời sống của hoa đầu cô lập cao nhất
khi xử lý với NAA 2 hay 4 mg/L, đường kính hoa đầu
đạt lớn nhất khi xử lý với BA5hay 7,5mg/L hoặcNAA
2 hay 4 mg/L. Độ hấp thu của dịch trích sắc tố hoa
hình lưỡi ở bước sóng 527 nm đạt cao nhất khi xử lý
với acid salicylic 20 mg/L (Hình 6Bảng 5).
Áp dụng phối hợp sucrose và chất điều hòa
tăng trưởng thực vật nhằmkéodài đời sống
của hoa cắt cành
So với đối chứng, xử lý phối hợp sucrose 10 g/L, NAA
2mg/L, BA5mg/L và acid salicylic 20mg/L trong thời
gian 24 giờ giúp kéo dài đời sống của hoa cắt cành và
gia tăng đường kính của hoa đầu. Trong khi đó, xử lý
hoa cắt cành ở thời gian dài hơn (48 giờ) làm đời sống
của hoa và đường kính hoa đầu đều giảm (Bảng 6,
Hình 7).
THẢO LUẬN
Đời sống của hoa cắt cành cây cúc Sakura gồmhai giai
đoạn: (1) tăng trưởng và nở hoa, và (2) lão suy cành
mang hoa. Trong giai đoạn tăng trưởng và nở hoa, các
hoa hình lưỡi gia tăng kích thước và nở dẫn đến sự
gia tăng đường kính của hoa đầu. Tại thời điểm hoa
đầu đạt đường kính lớn nhất, độ dẫn điện của nước
cắm hoa bắt đầu gia tăng (Bảng 1). Theo Doorn và
Woltering (2008), độ dẫn điện của nước cắm hoa tăng
là do sự thay đổi tính thấmcủamàng tế bào dẫnđến sự
thoát ion ra môi trường. Đây là một trong những dấu
hiệu đầu tiên cho thấy quá trình lão suy diễn ra ởmức
tế bào9. Sự thoát ion ra khỏi tế bào làm giảm áp suất
thẩm thấu và sự hấp thu nước của cànhmang hoa. Có
lẽ đây là nguyên nhân làm trọng lượng tươi của cành
mang hoa lão suy giảm mạnh (Bảng 1). Sự giảm hấp
thu nước dẫn đến sự héo của lá, và khi lá vượt quá
điểm héo vĩnh viễn, lá có dấu hiệu lão suy với sự giảm
hàm lượng diệp lục tố và sau đó là hoàng hóa (Hình 1
và 2). Sau khi lá lão suy, các cánh hoa hình lưỡi ở lớp
ngoài cùng của hoa đầu bắt đầu có hiện tượng cong
xuống và nhạt màu (Hình 1). Độ hấp thu của dịch
trích sắc tố hoa hình lưỡi tại bước sóng 527 nm cũng
giảm mạnh trong quá trình lão suy (Hình 3). Sắc tố
cánh hoa giảm là do sự thay đổi pH nội bào dẫn đến
thay đổi liên kết của các protein với phân tử sắc tố10.
Các phân tích sinh lý học cho thấy, trong suốt quá
trình lão suy của hoa cắt cành, hàm lượng đường
tổng số của hoa đầu rất cao so với trong cuống và lá
(Bảng 2). Theo Bùi Trang Việt (2016), hoa là một bể
mạnh, do đó dòng dinh dưỡng từ các cơ quan khác
được thu hút về để cung cấp cơ chất cho quá trình
hô hấp11. Thật vậy, trong quá trình lão suy của cành
342
Tạp chí Phát triển Khoa học và Công nghệ – Khoa học Tự nhiên, 4(1):336-346
Bảng 5: Ảnh hưởng của BA, NAA và acid salicylic lên sự kéo dài đời sống của hoa đầu cô lập
Xử lý (mg/L) Thời gian 50% hoa đầu lão suy (giờ) Đường kính hoa đầu
ở thời điểm 50% hoa
lão suy (cm)
Độ hấp thu của dịch
trích sắc tố hoa hình
lưỡi tại 527 (nm)
Đối chứng 56,00 e 4,28 c 0,08 c
BA 2,5 112,00 c 4,58 b 0,11 c
5 180,00 b 4,96 a 0,12 b
7,5 176,00 b 5,13 a 0,13 b
NAA 1 128,00 c 4,64 b 0,12 b
2 200,00 a 5,08 a 0,13 b
4 208,00 a 4,94 a 0,11 b
Acid salicylic 10 80,00 d 4,66 b 0,13 b
15 136,00 c 4,70 b 0,11 b
20 160,00 b 4,62 b 0,17 a
Các giá trị trong cùng một cột với các mẫu tự khác nhau khác biệt có ý nghĩa ở mức p 0,05
Hình 6: Ảnh hưởng của sucrose và các chất điều hòa tăng trưởng thực vật lên sự thay đổi hình thái của hoa đầu
cô lập (A) . Đối chứng; (B). Sucrose 10 g/L; (C). BA 5mg/L; (D). NAA 2mg/L; (E). Acid salicylic 20mg/L
343
Tạp chí Phát triển Khoa học và Công nghệ – Khoa học Tự nhiên, 4(1):336-346
Bảng 6: Ảnh hưởng của phối hợp sucrose 10 g/L, NAA 2mg/L, BA 5mg/L và acid salicylic 20mg/L trong các thời
gian khác nhau lên sự kéo dài đời sống của hoa cắt cành của cây cúc Sakura
Thời điểm Đời sống hoa cắt cành (giờ) Đường kính hoa đầu (cm)
Đối chứng Xử lý 24 giờ Xử lý 48 giờ Đối chứng Xử lý 24 giờ Xử lý 48 giờ
Hoa đầu có
đường kính
lớn nhất
88,78 d2 131,44 d1 70,17 d3 5,10 a1 5,13 a1 4,93 a2
Bắt đầu lão
suy hoa đầu
205,00 c3 254,00 c1 98,17 c4 4,98b2 5,09 b1 4,66 b3
50% số lá lão
suy
270,33 b2 294,22 b1 147,33 b3 4,86 c2 5,05 b1 4,35 c3
50% số hoa
đầu lão suy
294,33 a2 318,00 a1 178,50 a3 4,81 d2 4,99 c1 4,20 d3
Ghi chú: Các giá trị trong cùng một cột với các mẫu tự hay cùng một hàng với các số khác nhau khác biệt có ý nghĩa ở mức p 0,05
Hình 7: Ảnh hưởng của xử lý phối hợp sucrose 10 g/L, NAA 2mg/L, BA 5mg/L và acid salicylic 20mg/L lên sự thay
đổi hình thái của hoa cắt cành sau 12 ngày. (A). Đối chứng: 50% số hoa đầu lão suy (B). Xử lý 24 giờ: bắt đầu lão suy
hoa đầu (C). Xử lý 48 giờ: lão suy hoa hoàn toàn
mang hoa, hàm lượng đường tổng số ở lá và cuống
giảmmạnh đi kèm với sự gia tăng mạnh cường độ hô
hấp ở hoa (Hình 4). Sự giảm hàm lượng đường tổng
số và tinh bột xảy ra đầu tiên ở lá, sau đó đến cuống
và cuối cùng ở hoa (Bảng 2). Sự lão suy lá làm giảm
mạnh cường độ quang hợp là nguyên nhân dẫn đến
thiếu hụt đường và các chất biến dưỡng cần cho sự suy
trì đời sống của hoa (Hình 5). Điều này cho thấy sự
lão suy của hoa được dẫn trước bởi sự lão suy của lá.
Theo Azad và cộng sự (2008), sự thiếu hụt đường là
một trong những nguyên nhân dẫn đến lão suy sớm ở
hoa cắt cành 12. Chính vì vậy, sự bổ sung sucrose vào
môi trường không những giúp gia tăng đường kính
hoa đầu mà còn giúp kéo dài đời sống của hoa đầu cô
lập (Bảng 5, Hình 6).
Trong quá trình lão suy, hoạt tính auxin, gibberellin
và cytokinin giảmmạnh trong khi hoạt tínhABA tăng
cao (Bảng 3 và 4). Theo Alós và cộng sự (2019), sự
gia tăng hoạt tính ABA cảm ứng sự hoạt hóa các gene
khởi phát quá trình lão suy13. Bên cạnh đó, sự giảm
hoạt tính auxin và cytokinin tạo điều kiện cho sự tổng
hợp acid aminocyclopropane-1-carboxylic (ACC) và
chuyển đổi ACC thành ethylene để thúc nhanh quá
trình lão suy11. Do đó, việc xử lý hoa đầu cô lập với
auxin (NAA 1 – 4 mg/L) hay cytokinin (BA 2,5 – 7
mg/L) đều giúp kéo dài đời sống và gia tăng đường
kính của hoa đầu cô lập (Bảng 5 và 6). Theo Doorn
vàWoltering (2008) auxin khởi phát quá trình truyền
344
Tạp chí Phát triển Khoa học và Công nghệ – Khoa học Tự nhiên, 4(1):336-346
tín hiệu để tăng cường sự sinh tổng hợp các protein
tham gia trong pha S của chu trình tế bào, trong khi
cytokinin tác động trên sự phosphoryl hóa các protein
kiểm soát quá trình lão suy tế bào 9. Hơnnữa, auxin và
cytokinin còn có vai trò thu hút và phân phối các chất
dinh dưỡng (sự điều hòa nguồn - bể) bằng cách điều
hòa hoạt động của enzyme tham gia vào con đường
vận chuyển sucrose theo con đường apoplast14. Nếu
như xử lý với auxin và cytokinin giúp kéo dài đời sống
và gia tăng đường kính của hoa đầu cô lập, thì xử lý
với acid salicylic bên cạnh việc giúp hoa kéo dài đời
sống hoa đầu mà còn giúp hoa đầu giữ được màu sắc
(Bảng 5, Hình 6). Theo Aziz và Kapoor (2018), acid
salicylic giúp ngăn cản quá trình sinh tổng hợp ethy-
lene bằng cách ức chế hoạt động của enzyme tham
gia vào quá trình tổng hợp ethylene. Đồng thời, acid
salicylic còn giúp hạn chế sự phát triển của vi khuẩn,
giúp tăng hoạt tính các enzyme chống oxy hóa và làm
giảm pH của dịch không bào, từ đó làm tăng tính bền
của sắc tố15. Chính vì vậy, xử lý phối hợp sucrose 10
g/L, BA 5mg/L, NAA 2mg/L và acid salicylic 20mg/L
trong 24 giờ đã giúp kéo dài đời sống của cắt cành và
gia tăng đường kính hoa đầu (Bảng 6Hình 7).
KẾT LUẬN
Đời sống của hoa cắt cành cây cúc Sakura gồmhai giai
đoạn: (1) tăng trưởng và nở hoa và (2) lão suy cành
mang hoa. Trong quá trình lão suy của cành mang
hoa, có sự giảmmạnh hàm lượng diệp lục tố và cường
độ quang hợp của lá. Hàm lượng tinh bột và đường
tổng số giảmmạnh trước tiên ở lá và cuống và sau đó
ở hoa. Sự lão suy của hoa được dẫn trước bởi lão suy
của lá. Trong quá trình lão suy của cànhmang hoa, độ
hấp thu của dịch trích sắc tố hoa hình lưỡi, hoạt tính
auxin, zeatin và gibberellin giảm trong khi cường độ
hôhấp và hoạt tínhABA tăng. Sự dùng sucrose 10 g/L,
BA 5 hay 7,5 mg/L, NAA 2 hay 4 mg/L, acid salicylic
15 hay 20 mg/L đều giúp kéo dài đời sống của hoa
đầu cô lập. Xử lý phối hợp sucrose 10 g/L, BA 5mg/L,
NAA 2 mg/L và acid salicylic 20 mg/L trong 24 giờ
vừa giúp kéo dài đời sống của hoa cắt cành vừa giúp
gia tăng đường kính hoa đầu.
LỜI CẢMƠN
Chân thành cảm ơn công ty DaLat Hasfarm (Đơn
Dương, Lâm Đồng) đã hỗ trợ nguồn vật liệu cho
nghiên cứu.
DANHMỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
TLT: Trọng lượng tươi
BA: 6-Benzyl aminopurine
NAA: Acid 1-naphtalene acetic
IAA: Acid indol acetic
ABA: Acid abscisic
XUNGĐỘT LỢI ÍCH
Tác giả xác định không có bất cứ xung đột lợi ích nào.
ĐÓNGGÓP CỦA CÁC TÁC GIẢ
Tác giả Hoàng Phương Triều tiến hành thí nghiệm,
thu thập và xử lý số liệu. Tác giả Trần Thanh Thắng
và TrầnThanh Hương phân tích, giải thích kết quả và
viết bản thảo.
TÀI LIỆU THAMKHẢO
1. International Statistics Flowers and Plants (ISPF). Statistical
Yearbook. International Association of Horticultural Produc-
ers (AIPH). 2017;.
2. Yanga RZ, Wei XL, Gaoa FF, Wanga LS, Zhanga HJ, Xuc YJ, et al.
Simultaneous analysis of anthocyanins and flavonols in petals
of lotus (Nelumbo) cultivars by high-performance liquid chro-
matography photodiode array detection/electrospray ioniza-
tion mass spectrometry. Journal of Chromatography A.
2009;1216(1):106–112.
3. Lichtenthaler HK. Chlorophylls and carotenoids: pigments of
photosynthetic biomembranes. In Methods in enzymology.
Academic Press. 1987;148:350–382.
4. Bonner J, GalstonAW. Principles of plant physiology. Freeman.
1959;p. 499.
5. Coombs J, Hind G, Leegood GC, Tieszen LL, Vonshak A. Tech-
noques in bioproductivity and photosynthesis. In: Measure-
ment of starch and sucrose in leaves. Pergamon press. 1987;.
6. Warrier RR, Paul M, Vineetha MV. Estimation of salicylic acid
in Eucalyptus leaves using spectrophotometric methods. Ge-
netics and Plant Physiology. 2013;31:90–97.
7. Meidner H. Class experiments in Plant Physiology. George
Allen and Unwin London. 1984;.
8. Bui TV. Tìm hiểu hoạt động của các chất điều hòa sinh trưởng
thực vật thiên nhiên trong hiện tượng rụng ”bông” và ”trái
non” Tiêu (Piper nigrum L.). Tập san khoa học ĐHTH TPHCM.
1992;1:155–165.
9. Doorn WG, Woltering EJ. Physiology and molecular biol-
ogy of petal senescence. Journal of Experimental Botany.
2008;59(3):453–480.
10. Basílio N, Pina F. Chemistry and photochemistry of antho-
cyanins and related compounds: a thermodynamic and ki-
netic approach. Molecules. 2016;21(11):1502.
11. BT V. Sinh lý thực vật đại cương; 2016.
12. Azad AK, Ishikawa T, Sawa Y, Shibata H. Intracellular energy
depletion triggers programmedcell deathduringpetal senes-
cence in tulip. Journal of Experimental Botany. 2008;59:2085–
2095.
13. Alós E, Rodrigo MJ, Zacarias L. Ripening and Senescence In
Postharvest Physiology and Biochemistry of Fruits and Veg-
etables. Woodhead Publishing. 2019;.
14. Li P, Chang T, Chang S, Ouyang X, Qu M, Song Q, et al. Sys-
tems model-guided rice yield improvements based on genes
controlling source, sink, and flow. Journal of Integrative Plant
Biology. 2018;60(12):1154–1180.
15. Aziz A, Kapoor D. Salicylic Acid: It’s physiological role and
interactions. Research Journal of Pharmacy and Technology.
2018;11(7):3171–3177.
345
Science & Technology Development Journal – Natural Sciences, 4(1):336-346
Open Access Full Text Article Research Article
Faculty of Biology and Biotechnology,
University of Science, VNU-HCM,
Vietnam
Correspondence
Tran Thanh Thang, Faculty of Biology
and Biotechnology, University of
Science, VNU-HCM, Vietnam
Email: trtthang@hcmus.edu.vn
History
Received: 19-8-2019
Accepted: 27-11-2019
Published: 20-3-2020
DOI : 10.32508/stdjns.v4i1.829
Copyright
© VNU-HCM Press. This is an open-
access article distributed under the
terms of the Creative Commons
Attribution 4.0 International license.
Study on the vase life of Chyrsanthemum indicum cultivar Sakura
cutting flower
Tran Thanh Thang*, Hoang Phuong Trieu, Tran Thanh Huong
Use your smartphone to scan this
QR code and download this article
ABSTRACT
Chrysanthemum indicum cultivar Sakura is one of the daisy cultivars. It is beautiful but the vase life
of cutting flowers is very short. The decrease of the flower quality during the storage and trans-
portation is a big proplem in the flower export. In this study, the morphological, physiological
and biochemical changes during the vase life of cutting flower were analyzed. The effects of plant
growth regulators and sucrose at different concentrations on the vase life of cut flowers were inves-
tigated. The vase life of Sakura cutting flower includes two stages: (1), the growing and blooming
of flower, (2) senescence of cutting flowers. During the growing and blooming, the color of disk
flowers changed from green to yellow, the ray flowers continued to expand the dimension leading
to increase the diameter of the head flower. The senescence of cutting flowers was initiated by the
reducing of chlorophyll content in the leaf which was located at the base. Then, the ray flowers
were discolored. In the senescence stage, the respiration rate and the content of abscisic acid of
head flower increased continuously. In contrast, the water absorption, the content of starch, total
sugar, salicylic acid, auxin, cytokinin, and gibberellin decreased strongly. The treatment of 10 g/L
sucrose, 2 mg/L NAA, 5 mg/L BA and 20 mg/L salicylic acid in 24 hours extended the vase life of
Sakura cutting flowers and the diameter of head flower.
Key words: plant growth regulators, Chrysanthemum indicum, vase life, cutting flower, sucrose
Cite this article : Thanh Thang T, Phuong Trieu H, Thanh Huong T. Study on the vase life of Chyrsanthe-
mum indicum cultivar Sakura cutting flower. Sci. Tech. Dev. J. - Nat. Sci.; 4(1):336-346.
346
Các file đính kèm theo tài liệu này:
nghien_cuu_doi_song_cua_hoa_cuc_sakura_cat_canh.pdf