Biểu đồ Hình 6 cho thấy, khi tăng nồng độ dung dịch nitrát ban đầu (10 ÷ 300 mg L-1) thì
dung lượng hấp phụ tăng (0,28 ÷ 3,8 mg g-1) nhưng hiệu suất hấp phụ NO3- lại giảm mạnh (59,08
÷ 25,59%), phù hợp với nghiên cứu của Zhao et al. [10]. Kết quả này cũng cho thấy rằng, khả
năng hấp phụ nitrát của than sinh học lục bình phụ thuộc vào nồng độ nitrát ban đầu. Từ kết quả
trên có thể kết luận nồng độ dung dịch ở 50 mg L-1 là tối ưu nhất cho hấp phụ NO3- của than sinh
học lục bình.
Kết quả khảo sát sự phù hợp của quá trình hấp phụ nitrát trên hai mô hình đẳng nhiệt hấp phụ
Langmuir và Freundlich thể hiện qua đồ thị Hình 7.
Kết quả phân tích theo mô hình đường đẳng nhiệt Langmuir và Freundlich có hệ số tương
quan lần lượt là R2 = 0,9922 và R2 = 0,9591. Điều này chứng tỏ sự hấp phụ ion nitrát trong dung
dịch của than sinh học lục bình được mô tả theo đường đẳng nhiệt Langmuir cho thấy sự phù hợp
tốt hơn so với mô hình Freundlich, hay nói cách khác quá trình hấp phụ ion NO3- của than sinh
học lục bình là hấp phụ đơn lớp và hấp phụ trong điều kiện bề mặt vật liệu không đồng nhất.
Dung lượng hấp phụ lớn nhất theo mô hình Langmuir của than sinh học lục bình là 5,9597 mg g-1
phù hợp với nghiên cứu của Divband L. [13].
4. Kết luận
Than sinh học được sản xuất từ lục bình hấp phụ được ion NO3- trong dung dịch, dung lượng
hấp phụ cực đại của than sinh học lục bình là 5,9597 mg g-1. Giá trị pH tối ưu cho quá trình hấp
phụ nitrát của than sinh học lục bình là pH = 4, khối lượng than sinh học lục bình tối ưu cho quá
trình hấp phụ NO3- là 1g; thời gian tối ưu cho quá trình phản ứng hấp phụ là 120 phút và nồng độ
nitrát đầu vào là 50 mg NO3- L-1. Khi nồng độ dung dịch ban đầu tăng thì hàm lượng nitrát hấp
phụ tăng nhưng hiệu suất hấp phụ NO3- lại giảm mạnh ở nồng độ từ 80 ÷ 300 mg NO3- L-, sự hấp
phụ NO3- của than sinh học lục bình phù hợp với động học biểu kiến bậc một và bậc hai. Hiệu
suất loại bỏ NO3- cao nhất của than sinh học lục bình ở nồng độ 50 mg NO3- L-1 là 59,08%. Sự
hấp phụ ion nitrát trong dung dịch của than sinh học lục bình được mô tả theo đường đẳng nhiệt
Langmuir (R2 = 0,9932) cho thấy sự phù hợp tốt hơn so với mô hình Freundlich (R2 = 0,9591).
8 trang |
Chia sẻ: hachi492 | Lượt xem: 7 | Lượt tải: 0
Bạn đang xem nội dung tài liệu Nghiên cứu hấp phụ nitrát bằng than sinh học từ lục bình, để tải tài liệu về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
TNU Journal of Science and Technology 226(02): 17 - 24
17 Email: jst@tnu.edu.vn
STUDY ON ADSORPTION OF NITRATE
BY WATER HYACINTH (Eichhornia crassipes) BIOCHAR
Nguyen Dat Phuong1,2*, Do Thi My Phuong2, Nguyen Huu Chiem2,
Pham Ngoc Thoa2, Lam Van Toan2, Nguyen Xuan Loc2
1Mien Tay Construction University, Vietnam.
2Can Tho University, Vietnam
ARTICLE INFO ABSTRACT
Received: 09/11/2020 The purpose of the article is studying on adsorption capacity of nitrate
ions in solutions by biochar prepared from water hyacinth under
conditions including pH, adsorbent dosage, contact time and and
initial NO3- ion concentration. Experimental data were applied to
apparent kinetic models (pseudo-first-order model and the pseudo-
second-order model); adsorption equilibrium according to Langmuir
isotherm model and Freundlich adsorption isotherm model. The result
of the maximum adsorption capacity of nitrate ions by water hyacinth
biochar was 5.9597 mg g-1 at pH = 4; the adsorbent dosage was 1 g;
the contact time was 120 minutes and the initial nitrate ion
concentration in the solution was 50 mg NO3- L-1. The removal of
NO3- fitted both the pseudo-first-order model and pseudo-second-
order kinetic model. The Langmuir isotherm showed a better fit than
the Freundlich isotherm. Thus, water hyacinth biochar can be used to
treat nitrate ions in water or wastewater containing NO3- ions.
Revised: 30/01/2021
Published: 03/02/2021
KEYWORDS
Adsorption
Freundlich
Langmuir
NO3-
Water hyacinth biochar
NGHIÊN CỨU HẤP PHỤ NITRÁT BẰNG THAN SINH HỌC TỪ LỤC BÌNH
Nguyễn Đạt Phương1,2*, Đỗ Thị Mỹ Phượng2, Nguyễn Hữu Chiếm2,
Phạm Ngọc Thoa2, Lâm Văn Toàn2, Nguyễn Xuân Lộc2
1Trường Đại học Xây dựng Miền Tây
2Trường Đại học Cần Thơ
THÔNG TIN BÀI BÁO TÓM TẮT
Ngày nhận bài: 09/11/2020 Nghiên cứu khả năng hấp phụ ion nitrát trong dung dịch bằng than
sinh học được chế tạo từ lục bình theo các điều kiện bao gồm: pH,
khối lượng than sinh học, thời gian tiếp xúc, nồng độ ion NO3- ban
đầu. Dữ liệu thực nghiệm được áp dụng cho các mô hình động học
biểu kiến bậc 1 và bậc 2; cân bằng hấp phụ theo các mô hình đường
đẳng nhiệt hấp phụ Langmuir và Freundlich. Kết quả dung lượng hấp
phụ ion nitrát cực đại của than sinh học lục bình là 5,9597 mg g-1 ở
pH = 4; khối lượng than là 1 g; thời gian tiếp xúc là 120 phút và nồng
độ ion nitrát trong dung dịch là 50 mg NO3- L-1. Việc loại bỏ ion
NO3- phù hợp với cả hai mô hình động học biểu kiến bậc 1 và bậc 2.
Đường đẳng nhiệt Langmuir cho thấy sự phù hợp tốt hơn so với
đường đẳng nhiệt Freundlich. Tóm lại, than sinh học lục bình có thể
được ứng dụng để xử lý ion nitrát trong nguồn nước hay nước thải có
chứa ion NO3-.
Ngày hoàn thiện: 30/01/2021
Ngày đăng: 03/02/2021
TỪ KHÓA
Hấp phụ
Freundlich
Langmuir
NO3-
Than sinh học lục bình
* Corresponding author. Email: nguyendatphuong@mtu.edu.vn
TNU Journal of Science and Technology 226(02): 17 - 24
18 Email: jst@tnu.edu.vn
1. Mở đầu
Theo báo cáo của Liên hợp quốc, tính đến năm 2019 thì tổng dân số thế giới là hơn 7,7 tỷ
người và ước tính đến năm 2050 sẽ hơn 10 tỷ người. Cùng với đó, sự phát triển của ngành nông
nghiệp và công nghiệp đã tác động đến chu trình nitơ, làm tăng nồng độ nitơ vô cơ trong các thủy
vực. Nitơ dư thừa chủ yếu bắt nguồn từ phân bón đạm, phân động vật, chất thải đô thị và các cơ
sở chế biến hóa chất thải trực tiếp nitrát vào đất hoặc nước [1]. Trong các sông, hồ, kênh nếu hàm
lượng nitơ lớn hơn 500 µg L-1 và hàm lượng photpho lớn hơn 20 µg L-1 gây ra sự phú dưỡng.
Nồng độ nitrát cao trong nước có thể đe dọa sức khỏe cộng đồng, chẳng hạn như gây ung thư,
gây bệnh huyết sắc tố là tình trạng da xanh ở trẻ sơ sinh [2], tổn thương các mô thần kinh và nhận
thức [3]. Hầu hết các công nghệ hiện có để loại bỏ nitrát trong môi trường nước, chẳng hạn như
màng lọc và xử lý sinh học và hóa học rất tốn kém mà lại không hiệu quả. Hấp phụ là một
phương pháp đơn giản và hiệu quả cao để xử lý ô nhiễm môi trường nước [4]. Than sinh học
được sản xuất từ nhiệt phân sinh khối trong điều kiện hạn chế hoặc không có ôxy [5] là vật liệu
hấp phụ đang được nhiều nhà nghiên cứu quan tâm và ứng dụng.
Lục bình là loài xâm lấn có tốc độ tăng trưởng rất nhanh, đạt 320 tấn sinh khối khô/ha/năm
[6]. Với tốc độ tăng trưởng như vậy, lục bình có thể làm cản trở dòng chảy, ảnh hưởng đến giao
thông đường thủy, làm giảm sự phát triển của thực vật thủy sinh khác và có thể giải phóng một
lượng lớn các chất dinh dưỡng khi nó bị chết và phân rã. Do đó, việc nghiên cứu xử lý lục bình
cần được thực hiện. Từ các lý do trên, than sinh học được chế tạo từ lục bình được thực hiện
nhằm mục tiêu là khảo sát khả năng hấp phụ nitrát trong dung dịch.
2. Thực nghiệm
2.1. Nguyên vật liệu
Than sinh học từ lục bình (Eichhornia crassipes) được chế tạo trong điều kiện nhiệt độ 700 oC.
Hóa chất được sử dụng gồm dung dịch NO3- được pha từ dung dịch chuẩn KNO3; NaOH 0,1
M; HCl 0,1 M. Tất cả các hóa chất được sử dụng đều có xuất xứ Merck (Đức).
2.2. Sản xuất than sinh học
Lục bình được thu gom ở các kênh rạch phường 8, thành phố Vĩnh Long; sau đó được rửa
sạch (loại bỏ rễ và lá), xay thành bột, và được nén viên. Than sinh học lục bình được điều chế
bằng phương pháp nhiệt phân (700 oC). Tốc khí nitơ được bơm vào lò nung 3 L/phút để loại bỏ
không khí từ bên trong lò. Sau đó, nhiệt độ lò được nâng lên từ nhiệt độ phòng đến 700 °C với
tốc độ gia nhiệt 10 °C/phút [7]. Nhiệt độ được giữ ở nhiệt độ mong muốn trong 2 giờ và sau đó
được làm mát đến nhiệt độ phòng. Đặc tính hóa lý của than sinh học lục bình được trình bày trên
Bảng 1.
Bảng 1. Tính chất hóa lý của than sinh học lục bình [7]
Năng suấta
(%)
pHa
ECa
(µS/cm)
CECa
(cmolc/kg)
Iodinea
(mg/g)
VM/FC
b
C/N
39,5 10,88 6.587,0 14,63 196,8 1,35 29,85
a - Giá trị trung bình của ba lần; b - Chất bay hơi/tỷ lệ các-bon cố định.
2.3. Xác định điểm điện tích không (pHpzc)
Giá trị pH tại điểm điện tích bằng không (pHpzc) của than sinh học được xác định bằng
phương pháp của Balistrier and Muray [8]. Chuẩn bị dung dịch NaCl 0,1 M, đo giá trị pH ban
đầu (pHi) của NaCl 0,1 M được điều chỉnh từ pH 2 đến pH 11 bằng cách cho thêm vào dung dịch
NaOH 0,1 M hoặc HCl 0,1 M. Cân 0,5 g than lục bình cho vào ống ly tâm, cho thêm vào 50 mL
dung dịch NaCl 0,1 M sau khi đã điều chỉnh pH. Chuyển các ống ly tâm vào máy lắc, lắc trong
24 giờ liên tục với tốc độ 190 vòng/phút. Sau đó, lọc dung dịch bằng giấy lọc Whatman có kích
thước lỗ 0,45 µm và đo pH sau cùng (pHf). Sự khác biệt giữa pH ban đầu (pHi) và pH sau cùng
TNU Journal of Science and Technology 226(02): 17 - 24
19 Email: jst@tnu.edu.vn
(pHf) là ΔpH (ΔpH = pHi − pHf); vẽ đồ thị ΔpH = f(pHi), điểm giao nhau của đường cong (ΔpH)
và pHi là pHpzc của than sinh học lục bình.
2.4. Ảnh hưởng của pH
Thí nghiệm được bố trí hoàn toàn ngẫu nhiên với 10 nghiệm thức, lặp lại 3 lần. Chuẩn bị dung
dịch có nồng độ ion nitrát 50 mg NO3- L-1, dùng NaOH 0,1 M hoặc HCl 0,1 M để thay đổi pH 2
đến 11. Cân 0,5 g than sinh học lục bình cho vào các ống ly tâm, tiếp tục đong 50 mL dung dịch
đã điều chỉnh pH vào ống đã chứa than. Sau đó đem lắc 120 phút với tốc độ 190 vòng/phút. Cuối
cùng mẫu được lọc qua giấy lọc Whatman và phân tích hàm lượng nitrát.
2.5. Ảnh hưởng của khối lượng than sinh học lục bình
Thí nghiệm được bố trí hoàn toàn ngẫu nhiên với 5 nghiệm thức, lặp lại 3 lần. Chuẩn bị dung
dịch có nồng độ ion nitrát 50 mg NO3- L-1, dùng NaOH 0,1 M và HCl 0,1 M để điều chỉnh pH = 4.
Tiến hành cân 0,05 g; 0,5 g; 1 g; 1,5 g; 2 g than sinh học lục bình cho vào ống ly tâm, tiếp tục đong
50 mL dung dịch đã điều chỉnh pH = 4 vào ống đã chứa than. Sau đó đem lắc 120 phút với tốc độ
190 vòng/phút. Cuối cùng mẫu được lọc qua giấy lọc Whatman và phân tích hàm lượng nitrát.
2.6. Ảnh hưởng của thời gian phản ứng
Thí nghiệm được bố trí hoàn toàn ngẫu nhiên với 11 nghiệm thức, lặp lại 3 lần. Chuẩn bị dung
dịch có nồng độ ion nitrát 50 mg NO3- L-1, dùng NaOH 0,1 M và HCl 0,1 M để điều chỉnh pH =
4. Cân 1 g than sinh học lục bình cho vào ống ly tâm, tiếp tục đong 50 mL dung dịch đã điều
chỉnh pH = 4 vào ống đã chứa than. Sau đó đem lắc với tốc độ lắc 190 vòng/phút với thời gian từ
1 đến 360 phút. Cuối cùng mẫu được lọc qua giấy lọc Whatman và phân tích hàm lượng nitrát.
Các kết quả tối ưu thu được từ các thí nghiệm sơ bộ đã được sử dụng cho các nghiên cứu động
học. Hai mô hình động học đã được sử dụng là động học biểu kiến bậc một và bậc hai.
Phương trình động học hấp phụ biểu kiến bậc 1:
qt = qe(1 − e
−k1t) (1)
Phương trình động học biểu kiến bậc 2:
qt =
qe
2 k2t
1 + qek2t
(2)
Trong đó: qe, qt lần lượt là dung dịch hấp phụ tại thời điểm cân bằng và thời điểm t (mg g-1),
k1 là hằng số tốc độ hấp phụ biểu kiến bậc 1 (phút-1), k2 là hằng số tốc độ hấp phụ biểu kiến bậc 2
(g/mg/phút).
2.7. Ảnh hưởng của nồng độ ion nitrát ban đầu
Thí nghiệm được bố trí hoàn toàn ngẫu nhiên với 9 nghiệm thức, lặp lại 3 lần. Chuẩn bị dung
dịch ion nitrát có nồng độ từ 10 đến 300 mg L-1, dùng NaOH 0,1 M hoặc HCl 0,1 M để điều
chỉnh pH = 4. Tiến hành cân 1g than sinh học lục bình cho vào ống ly tâm, tiếp tục đong 50 mL
các dung dịch ở các nồng độ trên đã điều chỉnh pH = 4 vào ống đã chứa than. Sau đó đem lắc 120
phút với tốc độ lắc 190 vòng/phút. Cuối cùng mẫu được lọc qua giấy lọc Whatman và phân tích
hàm lượng nitrát.
Các kết quả tối ưu thu được từ các thí nghiệm sơ bộ đã được sử dụng cho các nghiên cứu đẳng
nhiệt. Cân bằng hấp phụ sử dụng hai mô hình đẳng nhiệt là Langmuir và Freundlich.
Phương trình hấp phụ đẳng nhiệt Langmuir:
qe =
qmax. KL. Ce
1 + KL. Ce
(3)
TNU Journal of Science and Technology 226(02): 17 - 24
20 Email: jst@tnu.edu.vn
Trong đó: KL: Hằng số (cân bằng) hấp phụ Langmuir; qe: Dung lượng hấp phụ (mg g-1); qmax:
Dung lượng hấp phụ tối đa của chất hấp phụ (mg g-1); Ce: Nồng độ dung dịch hấp phụ.
Phương trình hấp phụ đẳng nhiệt Freundlich:
qe = KF. Ce
1/n
(4)
Trong đó: KF: Hằng số hấp phụ Freundlich; 1/n: Có thể được tính toán từ slope và intercept
của phương trình ln qe và ln Ce.
Phân tích sai số:
Để tìm ra các mô hình đẳng nhiệt và động học phù hợp nhất, hàm sai số đã được sử dụng là hệ
số xác định (R2). Trong mỗi trường hợp, các thông số được xác định bằng cách giảm thiểu các
hàm lỗi tương ứng bằng cách sử dụng Solver add-in Excel. Dưới đây là các biểu thức tính toán
của các hàm lỗi được sử dụng.
R2 =
qe,exp − q̅e,cal
2
∑ (qe,exp − q̅e,cal)2 + (qe,exp − qe,cal)2
n
i=1
(5)
Trong đó: n: Số lượng điểm; qe,exp: Khả năng hấp phụ theo thí nghiệm (mg g-1); qe,cal: Khả năng hấp
phụ theo tính toán (mg g-1); q̅e,cal: Khả năng hấp phụ theo tính toán trung bình (mg g
-1).
2.8. Phương pháp phân tích
- pH đo bằng máy pH METER HM-31P.
- NO3- phân tích bằng phương pháp Salicylate, APHA (Máy HITACHI U-2900 - Japan).
2.9. Phương pháp xử lí số liệu
Lượng NO3- hấp phụ trên trọng lượng than sinh học ở trạng thái cân bằng và hiệu quả loại bỏ
NO3- được tính theo công thức:
qe =
Co − Ce
m
V (6)
H =
100(Co − Ce)
Co
(7)
Trong đó: qe: Dung lượng hấp phụ ở thời điểm cân bằng (mg g-1); m: Khối lượng than (g); Co:
Nồng độ ban đầu của chất bị hấp phụ (mg L-1); Ce: Nồng độ chất bị hấp phụ ở thời điểm cân bằng
(mg L-1); V: Thể tích dung dịch của chất bị hấp phụ (ml); H: Hiệu suất hấp phụ (%).
3. Kết quả và thảo luận
3.1. pHpzc của than sinh học lục bình
Điểm của điện tích bằng không (pHpzc) có thể được định nghĩa là pH mà tại đó bề mặt của
chất hấp phụ là trung tính, tức là, chứa cùng một lượng các hàm bề mặt tích điện dương so với
các điện tích âm. Theo Tan, X., et al. [9], khi pH < pHpzc bề mặt than mang điện tích dương, quá
trình hấp phụ xảy ra theo cơ chế trao đổi ion chiếm ưu thế hơn so với cơ chế hút tĩnh điện, cụ thể
ion H+ trong nhóm chức axít (R-COOH), hoặc ion Na+ trong muối axít (R-COONa) trên than đã
trao đổi ion với ion NH4+ theo phản ứng sau: RCOOH + NH4+ → RCOONH4+ + H+ hoặc
RCOONa + NH4+ → RCOONH4+ + Na+. Tuy nhiên, khi pH > pHpzc bề mặt than mang điện tích
âm, quá trình hấp phụ xảy ra theo cơ chế hút tĩnh điện chiếm ưu thế hơn so với cơ chế trao đổi
ion. Hình 1 cho thấy ở nồng độ NaCl 0,1M, giá trị pHpzc của than sinh học là 10,1.
TNU Journal of Science and Technology 226(02): 17 - 24
21 Email: jst@tnu.edu.vn
Hình 1. Đồ thị xác định pHpzc của than sinh học lục bình Hình 2. Ảnh hưởng của pH lên khả hấp phụ
3.2. Ảnh hưởng của pH
Giá trị pH là một trong những yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến quá trình hấp phụ ion nitrát
của than sinh học. Kết quả được trình bày ở Hình 2.
Kết quả Hình 2 cho thấy khi pH dung dịch tăng từ 2 ÷ 4 thì dung lượng hấp phụ và hiệu suất
hấp phụ nitrát tăng nhẹ nhưng không có sự khác biệt có ý nghĩa 5%; tại pH = 4 với dung lượng
hấp phụ đạt 2,41 mg g-1, hiệu suất hấp phụ nitrát đạt 45,9 % là cao nhất. Kết quả này phù hợp với
nghiên cứu của Fidel et al. [1] khi sử dụng than sinh học gỗ sồi đỏ và thân cây ngô ở nhiệt độ
nhiệt phân 600 oC để hấp phụ NO3- thì dung lượng hấp phụ cực đại là (1,4 ÷ 1,5 mg g-1) trong
khoảng pH (3,5 ÷ 4). Điều này có thể giải thích bởi pHpzc của than sinh học lục bình là 10,1 lớn
hơn pH của dung dịch bị hấp phụ nên điện tích bề mặt của than mang điện tích dương. Do đó pH
của dung dịch bị hấp phụ càng nhỏ thì khả năng hấp phụ của than càng lớn bởi vì chất bị hấp phụ
mang điện tích âm (NO3-). Khi pH tăng, nồng độ OH- tăng; do đó, bề mặt than sinh học tích điện
cùng dấu với NO3- dẫn đến tác dụng đẩy nên dung lượng hấp phụ và hiệu suất hấp phụ giảm. Tại
pH = 11, dung lượng hấp phụ nitrát là 0,5 mg g-1 và hiệu suất hấp phụ nitrát là 8,30 % là thấp
nhất. Khi pH lớn hơn 7, có một sự cạnh tranh giữa OH- và NO3-, dẫn đến giảm khả năng hấp phụ
NO3-; điều này cũng phù hợp với nghiên cứu của Chintala et al. [5]. Kết quả trên cho thấy giá trị
pH = 4 là tốt cho hấp phụ nitrát của than sinh học lục bình, nên được chọn để thực hiện các thí
nghiệm hấp phụ nitrát tiếp theo.
3.3. Ảnh hưởng của khối lượng than sinh học lục bình
Bên cạnh điều kiện pH, khối lượng vật liệu hấp phụ cũng là một trong những yếu tố quyết
định đến hiệu quả hấp phụ. Kết quả được trình bày ở Hình 3.
Hình 3. Ảnh hưởng của lượng than lên khả
năng hấp phụ
Hình 4. Ảnh hưởng của thời gian phản ứng lên khả
năng hấp phụ
Qua đồ thị Hình 3 cho thấy khi tăng khối lượng than sinh học thì hiệu suất hấp phụ nitrát tăng
từ 9,59 ÷ 60,39 %. Ngược lại, dung lượng hấp phụ giảm dần từ 4,87 ÷ 0,77 mg g-1, kết quả này
phù hợp với nghiên cứu của Zhao et al., [10]. Điều này có thể giải thích rằng, khi tăng khối lượng
chất hấp phụ thì số tâm hấp phụ tăng. Nhưng khi khối lượng chất hấp phụ tăng tới ngưỡng nào đó
thì số tâm hấp phụ tính trên khối lượng chất hấp phụ bị giảm. Cụ thể, khi khối lượng tăng từ 0,05
÷ 2 g thì hiệu suất hấp phụ tăng từ 9,59 ÷ 60,39 % và dung lượng hấp phụ giảm từ 4,87 ÷ 0,77
mg g-1. Kết quả này tương đồng với nghiên cứu của Hafshejania et al. [11]. So với than sinh học
TNU Journal of Science and Technology 226(02): 17 - 24
22 Email: jst@tnu.edu.vn
bã mía biến tính thì than sinh học lục bình có hiệu suất hấp phụ thấp hơn, điều này có thể là do
than sinh học bã mía biến tính có nhiều vị trí hấp phụ hơn. Để xác định khối lượng hấp phụ tốt
nhất, sử dụng thống kê với phép kiểm định Tukey ở mức 5 %; kết quả cho thấy, ở các khối lượng
1 g, 1,5 g và 2 g thì hiệu suất hấp phụ nitrát của than sinh học lục bình lần lượt là 57,09 %, 58,06
% và 60,39 % không khác biệt về mặt thống kê (p > 0,05); kết quả này phù hợp với nghiên cứu
của Yang L., et al. [12]. Vì vậy, khối lượng than sinh học lục bình là 1 g được chọn bố trí các thí
nghiệm hấp phụ nitrát tiếp theo.
3.4. Ảnh hưởng của thời gian phản ứng
Kết quả khảo sát ảnh hưởng của thời gian được thể hiện qua đồ thị Hình 4.
Qua đồ thị Hình 4 dễ thấy quá trình hấp phụ xảy ra hai giai đoạn: Giai đoạn đầu, tốc độ hấp
phụ nhanh (1 ÷ 120 phút) và giai đoạn tiếp theo chậm hơn (120 ÷ 360 phút). Ở giai đoạn đầu, tốc
độ hấp phụ nhanh có thể do tâm hấp phụ nhiều và gradien nồng độ của NO3- và pha rắn của than
sinh học cao. Sau đó, tốc độ hấp phụ giảm chậm gần như đạt cân bằng. Kết quả này tương đồng
với nghiên cứu của Hafshejania et al. [11] và Zhao et al. [10], sự hấp phụ ammonium cũng có hai
giai đoạn: Tốc độ hấp phụ nhanh ở giai đoạn đầu rồi chậm dần và đạt cân bằng. Tuy nhiên trong
nghiên cứu của Hafshejania et al. [11] thì quá trình cân bằng diễn ra nhanh ở phút thứ 60. Sự
chênh lệch tốc độ hấp phụ có thể là do trong nghiên cứu của Hafshejania et al. [11] chỉ dùng 0,1
g than sinh học bã mía biến tính dẫn đến số tâm hấp phụ ít nên quá trình cân bằng hấp phụ diễn ra
nhanh. Theo kết quả phân tích thống kê với phép kiểm định Tukey ở mức 5%, hiệu suất hấp phụ
ở các khoảng thời gian 120 phút, 240 phút và 360 phút lần lượt là 95,73 %, 95,74 % và 95,83 %
không khác biệt về mặt thống kê. Từ kết quả của thí nghiệm này, thời gian 120 phút được chọn
để tiến hành các thí nghiệm hấp phụ nitrát tiếp theo.
Kết quả sự hấp phụ nitrát của than sinh học lục bình theo hai mô hình động học biểu kiến bậc
1 và bậc 2 được trình bày ở Hình 5.
Hình 5. Động học hấp phụ của nitrát Hình 6. Ảnh hưởng của nồng độ nitrát ban đầu lên
khả năng hấp phụ
Bảng 2. Các thông số động học hấp phụ nitrát của than sinh học lục bình
Động học biểu kiến bậc 1 Động học biểu kiến bậc 2
qe, exp
(mg g-1)
qe, cal
(mg g-1)
k1
(1 phút-1)
R2 qe, cal (mg g-1) qe, cal (mg g-1)
k2
(g/mg/phút)
R2
2,469 2,469 0,083 0,971 2,541 2,638 0,028 0,961
Bảng 2 cho thấy kết quả động học biểu kiến bậc 1 (R2 = 0,971) và bậc 2 (R2 = 0,961) chứng tỏ
quá trình hấp phụ ion NO3- của than sinh học lục bình phù hợp với cả hai mô hình động học biểu
kiến bậc 1 và bậc 2.
3.5. Ảnh hưởng của nồng độ nitrát ban đầu
Kết quả khảo sát sự ảnh hưởng của nồng độ nitrát ban đầu đến khả năng hấp phụ nitrát của
than sinh học lục bình được thể hiện qua biểu đồ Hình 6.
TNU Journal of Science and Technology 226(02): 17 - 24
23 Email: jst@tnu.edu.vn
Biểu đồ Hình 6 cho thấy, khi tăng nồng độ dung dịch nitrát ban đầu (10 ÷ 300 mg L-1) thì
dung lượng hấp phụ tăng (0,28 ÷ 3,8 mg g-1) nhưng hiệu suất hấp phụ NO3- lại giảm mạnh (59,08
÷ 25,59%), phù hợp với nghiên cứu của Zhao et al. [10]. Kết quả này cũng cho thấy rằng, khả
năng hấp phụ nitrát của than sinh học lục bình phụ thuộc vào nồng độ nitrát ban đầu. Từ kết quả
trên có thể kết luận nồng độ dung dịch ở 50 mg L-1 là tối ưu nhất cho hấp phụ NO3- của than sinh
học lục bình.
Kết quả khảo sát sự phù hợp của quá trình hấp phụ nitrát trên hai mô hình đẳng nhiệt hấp phụ
Langmuir và Freundlich thể hiện qua đồ thị Hình 7.
Hình 7. Đường đẳng nhiệt Langmuir và Freudlich
Bảng 3. Các thông số mô hình hấp phụ đẳng nhiệt nitrát
Langmuir
KL (L mg-1) qmax (mg g-1) R2
0,0065 5,9597 0,9922
Freundlich
KF n R2
0,0278 0,9932 0,9591
Kết quả phân tích theo mô hình đường đẳng nhiệt Langmuir và Freundlich có hệ số tương
quan lần lượt là R2 = 0,9922 và R2 = 0,9591. Điều này chứng tỏ sự hấp phụ ion nitrát trong dung
dịch của than sinh học lục bình được mô tả theo đường đẳng nhiệt Langmuir cho thấy sự phù hợp
tốt hơn so với mô hình Freundlich, hay nói cách khác quá trình hấp phụ ion NO3- của than sinh
học lục bình là hấp phụ đơn lớp và hấp phụ trong điều kiện bề mặt vật liệu không đồng nhất.
Dung lượng hấp phụ lớn nhất theo mô hình Langmuir của than sinh học lục bình là 5,9597 mg g-1
phù hợp với nghiên cứu của Divband L. [13].
4. Kết luận
Than sinh học được sản xuất từ lục bình hấp phụ được ion NO3- trong dung dịch, dung lượng
hấp phụ cực đại của than sinh học lục bình là 5,9597 mg g-1. Giá trị pH tối ưu cho quá trình hấp
phụ nitrát của than sinh học lục bình là pH = 4, khối lượng than sinh học lục bình tối ưu cho quá
trình hấp phụ NO3- là 1g; thời gian tối ưu cho quá trình phản ứng hấp phụ là 120 phút và nồng độ
nitrát đầu vào là 50 mg NO3- L-1. Khi nồng độ dung dịch ban đầu tăng thì hàm lượng nitrát hấp
phụ tăng nhưng hiệu suất hấp phụ NO3- lại giảm mạnh ở nồng độ từ 80 ÷ 300 mg NO3- L-, sự hấp
phụ NO3- của than sinh học lục bình phù hợp với động học biểu kiến bậc một và bậc hai. Hiệu
suất loại bỏ NO3- cao nhất của than sinh học lục bình ở nồng độ 50 mg NO3- L-1 là 59,08%. Sự
hấp phụ ion nitrát trong dung dịch của than sinh học lục bình được mô tả theo đường đẳng nhiệt
Langmuir (R2 = 0,9932) cho thấy sự phù hợp tốt hơn so với mô hình Freundlich (R2 = 0,9591).
Lời cám ơn
Đề tài này được tài trợ bởi Dự án Nâng cấp Trường Đại học Cần Thơ VN14-P6 bằng nguồn
vốn vay ODA từ Chính phủ Nhật Bản.
TNU Journal of Science and Technology 226(02): 17 - 24
24 Email: jst@tnu.edu.vn
TÀI LIỆU THAM KHẢO/ REFERENCES
[1] R. B. Fidel, D. A. Laird, and K. A. Spokas, “Sorption of ammonium and nitrate to biochars is
electrostatic and pH-dependent,” Nature Scientific Reports, vol. 8, no. 1, pp.1-10, 2018.
[2] J. A. Camargo, and Á. Alonso, “Ecological and toxicological effects of inorganic nitrogen pollution in
aquatic ecosystems: A global assessment,” Environment International, vol. 32, no. 6, pp. 831-849,
2006.
[3] W. K. Lefferts, W. E. Hughes, C. N. White, T. D. Brutsaert, and K. S. Heffernan, “Effect of acute
nitrate supplementation on neurovascular coupling and cognitive performance in hypoxia,” Applied
Physiology Nutrition and Metabolism, vol. 41, no. 2, pp. 133-141, 2016.
[4] A. Olgun, N. Atar, and S. Wang, “Batch and column studies of phosphate and nitrate adsorption on
waste solids containing boron impurity,” Chemical Engineering Journal, vol. 222, pp. 108-119, 2013.
[5] R. Chintala, J. Mollinedo, T. E. Schumacher, S. K. Papiernik, D. D. Malo, D. E.Clay, S. Kumar, and D.
W. Gulbrandson, “Nitrate sorption and desorption in biochars from fast pyrolysis,” Microporous
Mesoporous Mater, vol. 179, no. 2-13, pp. 250-257, 2013.
[6] C. C. Gunnarsson, and C. M. Petersen, "Water hyacinths as a resource in agriculture and energy
production: a literature review," Waste Manag, vol. 27, no. 1, pp. 117-129, 2007.
[7] L. X. Nguyen, P. T. M. Do, C. H. Nguyen, R. Kose, T. Okayama, T. N. Pham, P. D. Nguyen, and T.
Miyanishi, “Properties of Biochars Prepared from Local Biomass in the Mekong Delta, Vietnam,”
Bioresources, vol. 13, pp. 7325-7344, 2018.
[8] L. Balistrieri, and J. Murray, “The Surface Chemistry of Goethite (a-FeOOH) in Major Ion Seawater,”
American Journal of Science, vol. 281, pp. 788-806, 1981.
[9] X. Tan, Y. Liu, G. Zeng, X. Wang, X. Hu, Y. Gu, and Z. Yang, “Application of biochar for the removal
of pollutants from aqueous solutions,” Chemosphere, vol. 125, pp. 70-85, 2015.
[10] H. Zhao, Y. Xue, L. Long, and X. Hu, “Adsorption of nitrate onto biochar derived from agricultural
residuals,” Water Science &Technology, vol. 77, no. 2, pp. 548-554, 2018.
[11] L. D. Hafshejania, A. Hooshmanda, A. A. Naseria, A. Soltani Mohammadia, F. Abbasi, and A.
Bhatnagar, “Removal of nitrate from aqueous solution by modified sugarcane,” Ecological
Engineering, vol. 95, pp. 101-111, 2016.
[12] L. Yang, M. Y. I., Ping Xu, X. Zhao, H. Bai, and H. Li, “Characteristics of Nitrate Removal from
Aqueous Solution by Modified Steel Slag,” Water, vol. 9, no. 10, p. 757, 2017.
[13] L. Divband, "Removal of nitrate from aqueous solution by modified sugarcane bagasse biochar,"
Ecological Engineering, vol. 59, pp. 101-111, 2016.
Các file đính kèm theo tài liệu này:
nghien_cuu_hap_phu_nitrat_bang_than_sinh_hoc_tu_luc_binh.pdf