KẾT LUẬN
Nghiên cứu tiến hành thử các hoạt tính
sinh học chỉ ra rằng, hoạt tính gây độc tế bào
ung thư gan: cao chiết EtOAc có hoạt tính
kháng tế bào ung thư rất mạnh (IC50 là 8,0
µg/ml), cao chiết n-hexan có hoạt tính kháng
tế bào ung thư mạnh (IC50 là 11,2 µg/ml),
riêng cao chiết MeOH chưa thấy có hoạt tính
kháng tế bào ung thư gan tại nồng độ nghiên
cứu. Kết quả hoạt tính kháng khuẩn đối với
cao chiết MeOH và n-hexan không thể hiện
hoạt tính ức chế vi sinh vật kiểm định ở nồng
độ thấp hơn hoặc bằng 256 µg/ml. Cao chiết
EtOAc có thể hiện hoạt tính ức chế nhẹ với
các chủng vi sinh vật gram (+) (IC50 là 244,4
µg/ml) và không thể hiện hoạt tính với các
chủng kiểm định khác. Ngoài ra, với hoạt tính
kháng oxi hóa, các loại cao chiết này chưa
có kết quả thể hiện rõ.
Như vậy, cao chiết từ Amaranthus lividus
L. (n-hexan và EtOAc) có hoạt tính sinh học
quý là kháng tế bào ung thư gan và kháng
khuẩn nhẹ (đối với cao chiết EtOAc). Việc thử
hoạt tính sinh học trong các loại cao chiết từ
Amaranthus lividus L. cho thấy chúng có ho
ạt tính kháng tế bào ung thư gan (đối với cao
chiết n-hexan và EtOAc). Do đó, chúng ta
cần nghiên cứu sâu hơn nữa để tạo chế phẩm
có khả năng chữa bệnh như ung thư gan.
7 trang |
Chia sẻ: hachi492 | Lượt xem: 8 | Lượt tải: 0
Bạn đang xem nội dung tài liệu Nghiên cứu hoạt tính sinh học của rau dền cơm (amaranthus lividus L) thu hái tại tỉnh Gia Lai, để tải tài liệu về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
TẠPCHÍ KHOAHỌCTRƯỜNGĐẠI HỌCTRÀVINH, SỐ 36, THÁNG 12NĂM2019 DOI: 10.35382/18594816.1.36.2019.317
NGHIÊN CỨU HOẠT TÍNH SINH HỌC CỦA RAU DỀN CƠM
(Amaranthus lividus L.) THU HÁI TẠI TỈNH GIA LAI
Phạm Thiết Quốc1, Nguyễn Trung Hiếu2, Phan Thị Thu Sương3,
Đoàn Thị Quỳnh Trâm4, Nguyễn Minh Kỳ5
STUDY OF BIOLOGICAL ACTIVITIES OF SLENDER AMARANTH
(Amaranthus lividus L.) IN GIA LAI PROVINCE
Pham Thiet Quoc1, Nguyen Trung Hieu2, Phan Thi Thu Suong3,
Doan Thi Quynh Tram4, Nguyen Minh Ky5
Tóm tắt – Rau dền cơm là loại thực
vật phổ biến ở tỉnh Gia Lai, có tác dụng
chống ung thư, chống oxi hóa và kháng
khuẩn. Nghiên cứu trình bày kết quả thử
nghiệm hoạt tính sinh học của rau dền cơm
(Amaranthus lividus L.) thu hái tại tỉnh Gia
Lai. Đánh giá hoạt tính kháng tế bào ung thư
(IC50) cho kết quả tốt lần lượt với cao chiết
EtOAc và n–hexan là 8,0 µg/ml và 11,2 µg/ml
(≤ 20 µg/ml, NCI). Kết quả so sánh cho thấy,
cao chiết EtOAc từ rau dền cơm có hoạt tính
kháng khuẩn tốt hơn so với cao chiết MeOH.
Tuy nhiên, cao chiết từ Amaranthus lividus
L. chưa có khả năng kháng oxi hóa tại nồng
độ khảo sát thấp 1-64 µg/ml. Kết quả thành
phần hoạt tính sinh học của rau dền cơm chỉ
ra triển vọng ứng dụng nguồn dược liệu có
nguồn gốc thiên nhiên.
Từ khóa: chống ung thư, hoạt tính sinh
học, rau dền cơm, tỉnh Gia Lai.
Abstract – Slender amaranth (Amaranthus
lividus L.) is a popular plant in Gia Lai
Province, with anti-cancer, antioxidant and
1,2,3Trường THPT Hà Huy Tập, huyện Kông Chro,
tỉnh Gia Lai
4,5Trường Đại học Nông Lâm TP. Hồ Chí Minh
Ngày nhận bài: 30/9/2019; Ngày nhận kết quả bình duyệt:
5/2/2020; Ngày chấp nhận đăng: 4/3/2020
Email: nmky@hcmuaf.edu.vn
1,2,3Ha Huy Tap High School, Kông Chro District,
Gia Lai Province
4,5Nong Lam University Ho Chi Minh City
Received date: 30th September 2019; Revised date: 5th
February 2020; Accepted date: 4th March 2020
antibacterial properties. The study presents
the experimental results of biological activity
of Amaranthus lividus L. collected in Gia Lai
Province. Evaluation of anti-tumor activity
(IC50) showed good results with EtOAc and
n–hexane with extracts of 8.0 µg/ml and 11.2
µg/ml (≤ 20 µg/ml, NCI) respectively. The
comparison results showed that the EtOAc
extract from Amaranthus lividus L. has better
antibacterial activity than the MeOH extract.
However, the investigated extracts from Ama-
ranthus lividus L. were incapable of inhibit-
ing oxidation at low concentrations of 1-64
µg/ml. Results of biologically active ingre-
dients in Amaranthus lividus L. illustrated
the applied prospects of natural medicine
sources.
Keywords: Amaranthus lividus L., anti-
cancer, biological activities, Gia Lai
Province.
I. MỞ ĐẦU
Song song với sự tăng trưởng kinh tế mạnh
mẽ, tình trạng mắc bệnh ung thư ngày càng
diễn biến phức tạp [1]. Các nhà khoa học
hiện đang tìm kiếm các nguồn dược phẩm
có nguồn gốc thực vật có khả năng đẩy lùi
chứng bệnh ung thư. Việt Nam thuộc vùng
nhiệt đới gió mùa nên phong phú về thực vật,
có nhiều loài được sử dụng trong y học cổ
truyền [2] - [3]. Rau dền là tên gọi chung các
loài chi dền, mọc hoang dại nhiều và dễ tìm
kiếm. Theo các tài liệu được công bố, thành
64
TẠP CHÍ KHOA HỌC TRƯỜNG ĐẠI HỌC TRÀ VINH, SỐ 36, THÁNG 12 NĂM 2019 NÔNG NGHIỆP - THỦY SẢN
phần lá rau dền cơm (Amaranthus viridis L.)
chứa 84,5% nước, 3,4% protein, 1,4% gluxit,
1,6% xenlulozo; ngoài ra, 100 g lá dền cơm
có chứa 63 mg vitamin C, 10,5 mg caroten,
0,36 mg vitamin B2, 1,3 mg vitamin PP [4] –
[5]. Amaranthus viridis L. được thấy ở nhiều
vùng khí hậu khác nhau, từ đồng bằng tới
vùng núi ở độ cao 1.000 m. Hơn nữa, các
hợp chất có hoạt tính sinh học được tìm thấy
từ thiên nhiên có thể dùng trực tiếp trong y
học [3]. Amaranthus viridis L. còn được sử
dụng để điều trị táo bón, viêm nhiễm, các
bệnh mụn nhọt ở da, thiếu máu [2], [4]. Đây
là loại rau phổ biến ở nhiều tỉnh thành của
Việt Nam, rau có thể thu hái quanh năm, rửa
sạch, phơi khô và sử dụng cả rễ, thân, lá
[6]. Các nghiên cứu về sinh học và dược lí
hiện đại cho thấy rễ, thân, lá cây rau dền
có chứa các vitamin, các hợp chất steroids,
saponin, flavonoids, lipid [7]. Đây là chủ đề
nghiên cứu của nhiều tác giả [4] – [5], [8],
tuy nhiên, hiện tại chúng ta chưa có công
trình nghiên cứu về hoạt tính sinh học trong
cao chiết của rau dền cơm trên địa bàn đặc
thù vùng Tây Nguyên như ở tỉnh Gia Lai. Do
đó, đề tài “Nghiên cứu hoạt tính sinh học của
rau dền cơm (Amaranthus lividus L.) thu hái
tại tỉnh Gia Lai” có ý nghĩa thực tiễn. Mục
tiêu nghiên cứu nhằm khảo sát và so sánh
hoạt tính sinh học (kháng tế bào ung thư gan,
kháng khuẩn và kháng oxi hóa) trong các loại
cao chiết MeOH, n-hexan, EtOAc từ rau dền
cơm.
II. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
A. Đặc điểm rau dền cơm
* Rau dền: Chi dền là những loài cây thân
thảo, bộ rễ khỏe, ăn sâu, khả năng chịu hạn
và ngập nước. Rau dền thường có một thân
thẳng, cành vươn vừa phải, lá mọc đơn, có
thể mọc đối hay so le, mép lá nhẵn hay có
khía, không có lá kèm. Hoa mọc đơn hoặc
thành từng cụm hình xim, thường là hoa hoàn
hảo (lưỡng tính) và đối xứng tỏa tia. Hoa có
4-5 cánh nhỏ, có 1-5 nhị hoa. Nhụy hoa dạng
dưới bầu, có 3-5 lá đài kết nối với nhau. Quả
có thể là quả bế, quả hạch, hay quả nang nứt
theo đường vòng [6], [9].
* Nguyên liệu: Rau dền cơm Amaranthus
lividus L. được thu thập ở địa bàn xã Chư
Long và thị trấn Kông Chro, huyện Kông
Chro, tỉnh Gia Lai. Nguyên liệu được tuyển
chọn với những cây khỏe, sạch, không bị sâu
bọ.
Hình 1: Rau dền cơm trước và sau thái nhỏ
* Xử lí sơ bộ nguyên liệu: Nguyên liệu sau
khi thu hái, rửa sạch cẩn thận để quá trình
chiết tách đạt hiệu quả cao, đồng thời loại bỏ
những cây bị hư trước khi phơi khô và thái
nghiền nhỏ.
B. Phương pháp xử lí mẫu, chiết xuất và tạo
cao chiết
* Lấy mẫu và xử lí mẫu: Amaranthus
lividus L. được thu hái, rửa sạch, phơi khô,
thái nhỏ để tạo mẫu nguyên liệu khô.
Hình 2: Rau dền cơm trước và sau thái nhỏ
* Phương pháp chiết mẫu và tạo cao chiết:
Mẫu khô (3 kg) được nghiền nhỏ, sau đó
được ngâm chiết với dung môi MeOH. Quá
trình chiết được thực hiện ba lần, thời gian 24
h/lần. Dịch chiết của ba lần chiết được gom
lại và tiến hành cất loại dung môi dưới áp
suất giảm ở nhiệt độ ≤45oC, thu được cao
chiết. Cao chiết tổng được pha loãng bằng
nước cất sau đó chiết phân bố lần lượt với
các dung môi n-hexan và EtOAc. Cất loại
65
TẠP CHÍ KHOA HỌC TRƯỜNG ĐẠI HỌC TRÀ VINH, SỐ 36, THÁNG 12 NĂM 2019 NÔNG NGHIỆP - THỦY SẢN
hết dung môi từ các dịch thu được ba cao
chiết: MeOH, n-hexan và EtOAc [10].
C. Phương pháp thử hoạt tính sinh học
Thử kháng độc tế bào bằng phương pháp
thử độ độc tế bào in vitro được Viện Ung thư
Quốc gia Hoa Kì (NCI) xác nhận là phép thử
độ độc tế bào chuẩn nhằm sàng lọc, phát hiện
các chất có khả năng kìm hãm sự phát triển
hoặc diệt tế bào ung thư ở điều kiện in vitro
[11]. Giá trị IC50 được tính dựa trên kết quả
số liệu phần trăm kìm hãm sự phát triển của
tế bào bằng phần mềm máy tính. Thí nghiệm
hoạt tính kháng nấm, kháng khuẩn được kiểm
định theo phương pháp khuếch tán trong bản
thạch và phương pháp pha loãng đa nồng độ
để xác định IC50 [12]. Nguyên tắc thử hoạt
tính kháng oxi hóa sử dụng 1,1-diphenyl-2-
picrylhydrazyl (DPPH) [13]. Hình 3 thể hiện
đường chuẩn biểu thị mối tương quan giữa
nồng độ DPPH và mật độ quang học.
Hoạt tính kháng oxi hóa của mẫu thử được
đánh giá dựa trên khả năng loại bỏ gốc tự do
thông qua việc làm giảm màu của DPPH; xác
định bằng độ hấp thu quang của dung dịch
sau phản ứng đo tại bước sóng λ = 517 nm.
Quercetin được sử dụng như chất đối chứng
dương. Trong đó, các mẫu chất thử được pha
với dãy nồng độ lần lượt tương ứng 256, 64,
16, 4, 1 µg/ml. Những thí nghiệm về thử hoạt
tính sinh học như kháng tế bào ung thư gan,
kháng khuẩn và kháng oxi hóa được thực hiện
tại Viện Hóa học, Viện Hàn lâm Khoa học
và Công nghệ Việt Nam.
III. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
VÀ BÀN LUẬN
A. Kết quả thử hoạt tính gây độc tế bào ung
thư gan
Nhìn chung, cây rau dền có tác dụng chống
ung thư, chống oxi hóa và kháng khuẩn [8].
Dịch chiết rau dền thể hiện chức năng ức chế
enzym α-amylase, tác dụng chống viêm tốt,
có khả năng bảo vệ gan cũng như chống oxi
hóa [14], [15]. Nghiên cứu tiến hành thử hoạt
tính gây độc tế bào ung thư gan đối với từng
cao chiết với những nồng độ khác nhau thu
được kết quả ở Hình 4.
Năm 2015, nhóm nhà khoa học người
Philippines đã báo cáo phân lập được các hợp
chất như squalene, spinasterol, trilinolein,
polyprenol và phytol từ lá và rễ cây Ama-
ranthus [7]. Đây là các hợp chất có hoạt tính
sinh học đáng quan tâm như spinasterol có
tác dụng chống ung thư (ung thư vú, ung
thư tử cung), chống viêm và kháng khuẩn.
Squalene cũng có tác dụng chống ung thư
phổi, trực tràng, da và tác dụng chống oxi
hóa. Trilinolein có tác dụng chống ung thư,
kháng viêm, chống đông máu. Polyprenol có
tác dụng chống ung thư vú và kích thích
miễn dịch [2]. Trong nghiên cứu này, các
phép thử được lặp lại ba lần để đảm bảo tính
chính xác. Ellipticine được sử dụng như là
chất đối chứng dương. Chất đối chứng dương
Ellipticine hoạt động ổn định trong quá trình
thí nghiệm. IC50 của các cao chiết n-hexan,
EtOAc đều lớn hơn so với chất đối chứng
dương ellipticine. Căn cứ giá trị IC50 được
tính dựa trên kết quả số liệu phần trăm kìm
hãm sự phát triển của tế bào ung thư cho
thấy: cao chiết EtOAc có hoạt tính kháng tế
bào ung thư rất cao (IC50 = 8,0 µg/ml); cao
chiết n-hexan có thể hiện hoạt tính kháng tế
bào ung thư ở mức cao (IC50 =11,2 µg/ml).
Theo tiêu chuẩn của NCI, cao chiết được
đánh giá có hoạt tính tốt với giá trị IC50 ≤ 20
µg/ml [11]. Kết quả chỉ ra IC50 trong các loại
cao chiết n-hexan và EtOAc từ Amaranthus
lividus L. thu hái tại tỉnh Gia Lai thấp hơn so
với nghiên cứu trước với IC50 = 43,45 µg/ml
[4]. Điều này biểu thị các loại cao chiết n-
hexan và EtOAc từ Amaranthus lividus L. thu
hái tại tỉnh Gia Lai có nồng độ các chất
kháng tế bào ung thư gan cao. Cao chiết
MeOH không thể hiện hoạt tính gây độc tế
bào ung thư tại nồng độ 256 (µg/ml) hoặc
thấp hơn. Mặt khác, rau dền cơm có thể được
dùng trong việc bào chế thực phẩm bổ sung
và thực phẩm ăn kiêng, cũng như chế biến
thức ăn dinh dưỡng cho trẻ [16]. Do rau dền
mọc hoang nhiều, dễ tìm kiếm nên thuận
lợi cho người dân thường xuyên tiếp xúc, sử
dụng để nâng cao sức khỏe, hạn chế bệnh tật
và chất lượng cuộc sống.
66
TẠP CHÍ KHOA HỌC TRƯỜNG ĐẠI HỌC TRÀ VINH, SỐ 36, THÁNG 12 NĂM 2019 NÔNG NGHIỆP - THỦY SẢN
Hình 3: Tương quan mật độ quang học và DPPH
Hình 4: Kết quả thử hoạt tính gây độc tế bào ung thư gan
B. Kết quả thử hoạt tính kháng khuẩn
Nghiên cứu trước đây cho thấy rằng Ama-
ranthus không chỉ có tác dụng chống ung thư,
chống oxi hóa mà còn có khả năng kháng
khuẩn [8]. Bảng 1 trình bày kết quả thử hoạt
tính kháng khuẩn các loại cao chiết từ rau
dền cơm được thu hái tại tỉnh Gia Lai.
Ảnh hưởng của các cao chiết lên sự phát
triển của vi khuẩn, nấm được khảo sát chỉ ra
ở các mẫu thử 1 (cao chiết MeOH), 2 (cao
chiết n-hexan) không thể hiện hoạt tính ức
chế vi sinh vật kiểm định ở nồng độ thấp hơn
hoặc bằng 256 µg/ml. Mẫu thử 3 (cao chiết
EtOAc) có thể hiện hoạt tính ức chế nhẹ với
các chủng vi sinh vật gram (+) và không thể
hiện hoạt tính với các chủng kiểm định khác.
Kết quả so sánh cho thấy, cao chiết EtOAc
từ rau dền cơm có hoạt tính kháng khuẩn tốt
hơn so với cao chiết MeOH. Chúng ta có thể
nhận thấy cao chiết rau dền có dấu hiệu diệt
một số chủng vi khuẩn và nấm kiểm định ở
mức độ thấp. Như vậy, việc nghiên cứu hoạt
tính sinh học của rau dền không những giúp
67
TẠP CHÍ KHOA HỌC TRƯỜNG ĐẠI HỌC TRÀ VINH, SỐ 36, THÁNG 12 NĂM 2019 NÔNG NGHIỆP - THỦY SẢN
Bảng 1: Kết quả thử hoạt tính kháng khuẩn
sử dụng dược liệu một cách hiệu quả mà trên
cơ sở đó còn có thể xác định được những
hoạt chất quý. Qua đó, nghiên cứu phần nào
bổ sung vào dữ liệu khoa học cho việc tìm
ra sản phẩm dược liệu điều trị các bệnh liên
quan.
C. Kết quả thử hoạt tính kháng oxi hóa
Các dạng oxi hoạt động (ROS) là nguyên
nhân gây ra nhiều bệnh tật nguy hiểm như
ung thư, bệnh tim mạch, hen suyễn, viêm
gan, tổn thương gan và các bệnh suy giảm
miễn dịch [17]. Các hợp chất chống oxi hóa
như polyphenol và flavonoid có tác dụng làm
sạch các gốc tự do như peroxide, hydroperox-
ide hoặc lipid peroxide và do đó ức chế các
cơ chế oxi hóa dẫn đến các bệnh thoái hóa
[18]. Ashok et al. (2011) cũng chứng minh
dịch chiết cây Amaranthus còn thể hiện tác
dụng bảo vệ gan, chống oxi hóa [14]. Một số
thành phần hóa học trong Amaranthus được
xác định bằng phương pháp sắc kí lỏng hiệu
năng cao (HPLC) như các flavonoid, rutin,
quercetin [4]. Cao chiết dền cơm đã được
khảo sát thành phần hoá học như tannin,
ankaloid và flavonoid [19] – [20]. Flavonoid
là một nhóm của lớp chất phenolic, đặc trưng
bởi ít nhất một nhân benzen liên kết với ít
nhất một nhóm OH ở dạng tự do. Flavonoid
có khả năng kìm hãm các quá trình oxi hóa
dây chuyền gây ra bởi các gốc tự do hoạt
động. Như vậy, hoạt động kháng khuẩn và
kháng oxi hoá của các cao chiết dền cơm có
thể do tác động của flavonoid. Trong nghiên
cứu này, chúng tôi tiến hành thử hoạt tính
kháng oxi hóa đối với từng cao chiết, kết quả
như Bảng 2.
Quercetin thể hiện hoạt tính chống oxi hóa
DPPH với giá trị EC50 là 8,23 µg/ml. Trong
nghiên cứu này, các hợp chất phân lập thể
hiện hoạt tính chống oxi hóa mạnh thuộc lớp
chất flavonoid. Hiệu quả kháng oxi hóa dựa
trên sự trung hòa gốc tự do DPPH của cao
được li trích từ các bộ phận cây dền cơm
được so sánh dựa trên hiệu quả trung hòa
50% gốc tự do, gọi là giá trị EC50 (Effective
68
TẠP CHÍ KHOA HỌC TRƯỜNG ĐẠI HỌC TRÀ VINH, SỐ 36, THÁNG 12 NĂM 2019 NÔNG NGHIỆP - THỦY SẢN
Bảng 2: Kết quả thử hoạt tính kháng oxi hóa
Concentration of 50%). Hiệu quả loại bỏ
50% gốc tự do cho thấy phần trăm có hiệu
quả trung hòa gốc tự do DPPH của cao chiết
MeOH và EtOAc ở nồng độ 256 µg/ml lần
lượt tương ứng 12% và 15%. Kết quả nghiên
cứu bước đầu thể hiện nguồn tiềm năng chất
chống oxi hóa của rau dền cơm Amaranthus
lividus L. thu hái trên địa bàn tỉnh Gia Lai
[21]. Tuy vậy, trong tương lai, chúng ta cần
tiến hành nghiên cứu chuyên sâu khả năng
kháng oxi hóa của các cao chiết ở dãy nồng
độ khảo sát cao hơn.
IV. KẾT LUẬN
Nghiên cứu tiến hành thử các hoạt tính
sinh học chỉ ra rằng, hoạt tính gây độc tế bào
ung thư gan: cao chiết EtOAc có hoạt tính
kháng tế bào ung thư rất mạnh (IC50 là 8,0
µg/ml), cao chiết n-hexan có hoạt tính kháng
tế bào ung thư mạnh (IC50 là 11,2 µg/ml),
riêng cao chiết MeOH chưa thấy có hoạt tính
kháng tế bào ung thư gan tại nồng độ nghiên
cứu. Kết quả hoạt tính kháng khuẩn đối với
cao chiết MeOH và n-hexan không thể hiện
hoạt tính ức chế vi sinh vật kiểm định ở nồng
độ thấp hơn hoặc bằng 256 µg/ml. Cao chiết
EtOAc có thể hiện hoạt tính ức chế nhẹ với
các chủng vi sinh vật gram (+) (IC50 là 244,4
µg/ml) và không thể hiện hoạt tính với các
chủng kiểm định khác. Ngoài ra, với hoạt tính
kháng oxi hóa, các loại cao chiết này chưa
có kết quả thể hiện rõ.
Như vậy, cao chiết từ Amaranthus lividus
L. (n-hexan và EtOAc) có hoạt tính sinh học
quý là kháng tế bào ung thư gan và kháng
khuẩn nhẹ (đối với cao chiết EtOAc). Việc thử
hoạt tính sinh học trong các loại cao chiết từ
Amaranthus lividus L. cho thấy chúng có ho
ạt tính kháng tế bào ung thư gan (đối với cao
chiết n-hexan và EtOAc). Do đó, chúng ta
cần nghiên cứu sâu hơn nữa để tạo chế phẩm
có khả năng chữa bệnh như ung thư gan.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
[1] Nigel H. Cancer survival data emphasise importance
of early diagnosis. BMJ. 2019;p. 364: l408.
[2] Đỗ Tất Lợi. Những cây thuốc và vị thuốc Việt Nam.
Hà Nội: Nhà Xuất bản Y học; 2004.
[3] Nguyễn Văn Đàn, Ngô Ngọc Khuyến. Hợp chất thiên
nhiên dùng làm thuốc. Hà Nội: Nhà Xuất bản Y học;
2009.
[4] Lê Nguyễn Thành, Cao Thị Huệ, Bùi Thu Hà, Nguyễn
Văn Quyền, Phan Thanh Thư. Nghiên cứu đặc điểm
sinh học và hoạt tính sinh học của cây Rau dền cơm
(Amaranthus lividus L.) thu hái tại Hưng Yên. Hội
nghị khoa học toàn quốc về sinh thái và tài nguyên
sinh vật lần thứ 7; 2017. 1468-1474.
[5] Phạm Mạnh Hùng. Nghiên cứu đặc tính sinh hóa sinh
dược của cao chiết n- hexan ở cây rau dền cơm
(Amaranthus viridis L.) [Luận văn Thạc sĩ]. Trường Đ
ại học Sư phạm Hà Nội 2; 2017.
[6] Võ Văn Chi. Từ điển cây thuốc Việt Nam. Hà Nội:
Nhà Xuất bản Y học; 2012.
[7] Ragasa C Y, Austria J P M, Subosa A F, Torres O B,
Shen C C. Chemical Constituents of Amaranthus vi-
ridis. Chemistry of Natural Compounds. 2015;51(1):
146–147.
[8] Jin Y S, Xuan Y, Chen M, Chen J, Jin Y, Piao J, et al.
Antioxidant, antiinflammatory and anticancer activit-
ies of Amaranthus viridis L. Extracts. Asian Journal
of Chemistry. 2013;25(16):8901–8904.
[9] Phạm Hoàng Hộ. Cây cỏ Việt Nam 2. Thành phố Hồ
Chí Minh: Nhà Xuất bản Trẻ; 2000.
[10] Nguyễn Kim Phi Phụng. Phương pháp cô lập hợp
chất hữu cơ. Thành phố Hồ Chí Minh: Nhà Xuất bản
Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh; 2007.
69
TẠP CHÍ KHOA HỌC TRƯỜNG ĐẠI HỌC TRÀ VINH, SỐ 36, THÁNG 12 NĂM 2019 NÔNG NGHIỆP - THỦY SẢN
[11] Monks A, Scudiero D, Skehan P, Shoemake R,
Paull K, Vistica D, et al. Feasibility of a high-
flux anticancer drug screen using a diverse panel of
cultured human tumor cell lines. Journal of National
Cancer Institute. 1991;11:757.
[12] Hadacek F, Greger H. Test of antifungal natural
products methodolagies, comparability of result and
assay choise. Phytochem Anal. 2000;90:137–147.
[13] Kai M, Klaus H V, Sebastian L, Ralf H, An-
dreas R, Ulf-Peter H. Determination of DPPH
Radical Oxidation Caused by Methanolic Extracts of
some Microalgal Species by Linear Regression Anal-
ysis of Spectrophotometric Measurements. Sensors.
2007;7:2080–2095.
[14] Ashok B S, Lakshman K, Narayan V B, Arun P A,
Sheshadri S D, Manoj B, et al. Hepatoprotective and
antioxidant activities of Amaranthus viridis L. Mace-
donian Journal of Medical Sciences. 2011;4(2):125–
130.
[15] Vivek K R, Satish K, Shashidhara S, Anitha S.
Invitro Antioxidant, AntiAmylase, Anti-Arthritic and
Cytotoxic Activity of Important Commonly Used
Green Leafy Vegetables. Int J PharmTech Res.
2011;3(4):2096–2103.
[16] Cao T H, Nguyen T M H, Le N T, Alekseeva E I,
Nguyen V H. Study on preparation and characteriza-
tion of protein hydrolysate from amaranth seed using
a commercial protease. The Vietnamese journal of
Science and Technology. 2015;53(2A):1–7.
[17] Lee J, Koo N, Min D B. Reactive oxygen species, ag-
ing, and antioxidative nutraceuticals. Comprehensive
reviews in food science and food safety. 2004;3(1):21–
33.
[18] Wu Y Y, Li W, Xu Y, Jin E H, Tu Y Y. Evaluation of
the antioxidant effects of four main theaflavin deriva-
tives through chemiluminescence and DNA damage
analyses. Journal of Zhejiang University Science.
2011;12(9):744–751.
[19] Nazish N, Sonia M, Rajinder K G. Nutritional
and phytochemical evaluation of A. lividus L. syn.
Amaranthus blitum subsp. oleraceus (L.) Costea
leaves. Indian Journal of Traditional Knowledge.
2016;15(4):669–674.
[20] Erlund I. Review of the flavonoids quercetin, hes-
peretin, and naringenin. Dietary sources, bioactivities,
bioavailability, and epidemiology. Nutrition Research.
2004;24:851.
[21] Ozsoy N, Yilmaz T, Kurt O, Can A, Yanardag R.
In vitro antioxidant activity of Amaranthus lividus L.
Food Chemistry. 2009;116(4):867–872.
70
Các file đính kèm theo tài liệu này:
nghien_cuu_hoat_tinh_sinh_hoc_cua_rau_den_com_amaranthus_liv.pdf