Kết luận
Nhân giống Tre ngọt bằng chiết cành có sử
dụng các chất kích thích sinh trưởng khác
nhau với nồng độ khác nhau có ảnh hưởng
đến khả năng nhân giống bằng phương pháp
chiết cành. Kết quả cho thấy có sự ảnh hưởng
khác biệt của việc lựa chọn các loại thuốc
kích thích sinh trưởng với các nồng độ khác
nhau và có sự khác biệt khá xa so với công
thức đối chứng. Trong đó sử dụng chất KTST
IBA cho kết quả vượt trội về tỷ lệ ra rễ và
chất lượng rễ.
Đặc biệt, nhân tố thời vụ có ảnh hưởng đến
hiệu quả của việc nhân giống. Kết quả nghiên
cứu chiết gốc cành Tre ngọt vào vụ Xuân và
vụ Thu có sự khác biệt. Vụ Xuân sử dụng
chất kích thích sinh trưởng IBA ở nồng độ
1500 ppm cho kết quả: tỷ lệ sống sau 28
ngày đạt 97,8%, số lượng chồi/gốc cành
chiết là 3,61 chồi, số rễ/gốc cành chiết là 20
rễ, chiều dài rễ đạt 6,9 cm và tỷ lệ sống sau
giâm hom tại vườn ươm đạt 92% là tốt nhất.
Sử dụng hỗn hợp ruột bầu có thành phần 68%
đất tầng mặt + 2% NPK + 30% rơm rạ băm
nhỏ cho kết quả số rễ TB/gốc cành chiết là
6,4 rễ và chiều dài rễ là 4,5 cm là cao nhất.
8 trang |
Chia sẻ: hachi492 | Lượt xem: 5 | Lượt tải: 0
Bạn đang xem nội dung tài liệu Nghiên cứu kỹ thuật nhân giống chiết gốc cành loài tre ngọt, để tải tài liệu về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
TNU Journal of Science and Technology 225(11): 193 - 200
Email: jst@tnu.edu.vn 193
NGHIÊN CỨU KỸ THUẬT NHÂN GIỐNG CHIẾT GỐC CÀNH
LOÀI TRE NGỌT (Dedrocalamus brandisii (Munro) Kurz)
Ma Thanh Thuyết1, Nguyễn Văn Thọ1,
Nguyễn Viễn1, Trần Thị Thu Hà2*
1Trung tâm Khoa học Lâm nghiệp vùng Trung tâm Bắc bộ
2 Trường Đại học Nông Lâm - ĐH Thái Nguyên
TÓM TẮT
Tre ngọt (Dendrocalamus brandisii (Munro) Kurz) là một loài thuộc họ tre trúc có giá trị kinh tế
lớn. Loài này có thể nhân giống vô tính hiệu quả bằng phương pháp chiết gốc cành. Nghiên cứu
thử nghiệm các loại kích thích sinh trưởng IBA, IAA và NAA ở các nồng độ 500 ppm, 1500 ppm
và 2000 ppm ở vụ Xuân, lựa chọn được chất kích thích sinh trưởng IBA 1500 ppm là tốt nhất;
đồng thời tiến hành so sánh với chiết gốc cành vào các thời vụ khác nhau. Kết quả cho thấy, sử
dụng chất kích thích sinh trưởng IBA vào vụ Xuân tốt hơn so với vụ Thu. Sử dụng IBA (1500
ppm) vào vụ Xuân cho kết quả cao nhất, gồm: tỷ lệ sống sau 28 ngày đạt 97,8%, số lượng chồi/gốc
cành chiết là 3,61 chồi, số rễ/gốc cành chiết là 20 rễ, chiều dài rễ đạt 6,9 cm và tỷ lệ sống sau giâm
hom tại vườn ươm đạt 92% là tốt nhất. Nghiên cứu còn chỉ ra sử dụng hỗn hợp ruột bầu có thành
phần: 68% đất tầng mặt + 2% NPK + 30% rơm rạ băm nhỏ cho kết quả số rễ trung bình/gốc cành
chiết là 6,4 rễ và chiều dài rễ là 4,5cm là cao nhất. Kết quả này góp phần hoàn thiện quy trình nhân
giống vô tính cho loài Tre ngọt nhằm đáp ứng nhu cầu phát triển loài này ở Việt Nam.
Từ khóa: Tre ngọt; nhân giống vô tính; chiết cành; thời vụ; chất kích thích sinh trưởng.
Ngày nhận bài: 21/9/2020; Ngày hoàn thiện: 29/10/2020; Ngày đăng: 31/10/2020
STUDYING PROPAGATION OF DEDROCALAMUS BRANDISII (MUNRO)
KURZ BY STEM EXTRACTION METHOD
Ma Thanh Thuyet1, Nguyen Van Tho1,
Nguyen Vien1, Tran Thi Thu Ha2*
1Center for Forestry Science of the Central North
2TNU - University of Agriculture and Forestry
ABSTRACT
Dendrocalamus brandisii (Munro) Kurz is a species of bamboo that has great economic value. This
species can be effectively propagated by stem extraction method. Research and experiment on
different types of growth stimulants IBA, IAA and NAA at concentrations of 500 ppm, 1500 ppm
and 2000 ppm in spring season show that IBA 1500 ppm is the best selected growth stimulant
while at the same time, compare them with stump extract in different seasons. As a result, the use
of IBA biotrophic substances in spring season was better than in autumn season. Using IBA (1500
ppm) in spring season gave the highest results, including: the survival rate after 28 days reached
97.8%, the number of shoots/ cuttings was 3.61 buds, the number of roots/ stump was 20 roots,
root length was 6.9 cm and survival rate after cuttings at the nursery was 92%. The study also
showed that using a mixture of potting medium with ingredients of 68% of topsoil soil + 2% NPK
+ 30% chopped straw resulted in the highest average number of roots/ stump as 6.4 roots and root
length as 4.5cm. This result contributes to the completion of the asexual propagation for
Dendrocalamus brandisii (Munro) Kurz to meet the breeding needs for this species in Vietnam.
Keywords: Dendrocalamus brandisii (Munro) Kurz; asexual propagation; stem extraction;
seasonal; growth stimulants.
Received: 21/9/2020; Revised: 29/10/2020; Published: 31/10/2020
* Corresponding author. Email: ha.tran2007@gmail.com
Ma Thanh Thuyết và Đtg Tạp chí KHOA HỌC & CÔNG NGHỆ ĐHTN 225(11): 193 - 200
Email: jst@tnu.edu.vn 194
1. Đặt vấn đề
Tre ngọt được Munro (1868) phát hiện và
công bố lần đầu tiên với tên khoa học là
Bambusa brandisii Munro thuộc phân họ Tre
(Bambusoideae), họ Cỏ (Poaceae) [1]. Tuy
nhiên đến năm 1877, Kurz đã chuyển loài này
vào chi Luồng với tên khoa học là
Dendrocalamus brandisii (Munro) Kurz và
tên khoa học này được sử dụng đến hiện nay.
Tre ngọt có thể đạt chiều cao 25 – 30 m,
đường kính 13 - 30 cm, vách thân khí sinh dày
2,5 - 4 cm, lóng dài 30 - 38 cm, vòng rễ ở mẫu
lên đến nửa dưới của thân khí sinh, đây là loài
tre thẳng, không có gai [2]. Loài này có phân
bố ở rừng thường xanh nhiệt đới ẩm, nơi có độ
cao từ 400 – 1500 m, phân bố ở Trung Quốc,
Lào, Việt Nam, Thái Lan, Myanmar, Ấn Độ
[2]-[7]. Ở Việt Nam, loài Tre ngọt phân bố ở
Phú Thọ (Cầu Hai), Quảng Ninh (Mộc Hà),
Lai Châu, Điện Biên, Lào Cai [8]-[10].
Tre ngọt được sử dụng cho nhiều mục đích
khác nhau. Thân được sử dụng trong xây
dựng, làm cột cờ, cột buồm, đồ dùng trong
gia đình, dụng cụ ở trang trại, đựng nước, rổ
rá, đồ thủ công và làm giấy [7]. Còn măng
được sử dụng làm thực phẩm [6], [10], [11].
Trên thế giới nói chung và Việt Nam nói
riêng đã có nhiều công trình nghiên cứu về
nhân giống các loài thuộc Tre trúc [12] - [15].
Tuy nhiên, chưa có các nghiên cứu nhân
giống về Tre ngọt. Vì vậy, để khai thác và
phát triển nguồn gen cây Tre ngọt, việc
nghiên cứu nhân giống vô tính là rất cần thiết
để góp phần nâng cao giá trị rừng trồng và
phát triển kinh tế xã hội các tỉnh miền núi
phía Bắc.
2. Vật liệu và phương pháp nghiên cứu
2.1. Vật liệu nghiên cứu
Vật liệu được sử dụng trong thí nghiệm là cây
giống Tre ngọt trên 3 năm tuổi được trồng tại
Trung tâm Khoa học Lâm nghiệp vùng Trung
tâm Bắc Bộ (huyện Đoan Hùng, tỉnh Phú Thọ).
Cành chiết được chọn là những cành bánh tẻ,
cành cấp 1 có đường kính gốc cành ≥ 1 cm,
cành đã toả hết lá, mắt ngủ trên đùi gà không
bị sâu, thối. Tuổi cành từ 3 - 15 tháng.
2.2. Nội dung và phương pháp nghiên cứu
* Nội dung nghiên cứu
- Nghiên cứu ảnh hưởng của các chất kích thích
và nồng độ khác nhau ảnh hưởng đến kết quả
nhân giống Tre ngọt bằng chiết gốc cành.
- Nghiên cứu ảnh hưởng của mùa vụ đến kết quả
nhân giống Tre ngọt bằng chiết gốc cành.
- Nghiên cứu ảnh hưởng của hỗn hợp ruột bầu
đến kết quả nhân giống Tre ngọt bằng chiết
gốc cành.
* Bố trí thí nghiệm
- Thí nghiệm 1: được bố trí gồm 10 công
thức thí nghiệm với các chất kích thích ra rễ
(IBA, NAA, IAA) và nồng độ khác nhau (500
ppm; 1.500 ppm; 2.000 ppm) với 3 lần nhắc
lại, mỗi lần nhắc lại được thực hiện 30 cành
chiết. Tiến hành thí nghiệm ở vụ Xuân. Cành
chiết được bóc toàn bộ bẹ mo xung quanh
phần đùi gà. Dùng cưa cắt 4/5 nơi tiếp giáp
giữa gốc cành (phần đùi gà) và thân mẹ
theo hướng từ trên xuống, phía dưới gốc
cành cưa sâu khoảng 0,2 - 0,3 cm theo
hướng vuông góc với thân cây để khi cắt
cành chiết không bị xước. Phun nước lã
sạch ẩm phần gốc cành và vệ sinh sạch
trước khi chấm thuốc kích thích sinh trưởng
theo các công thức thí nghiệm trên. Các yếu
tố phi thí nghiệm như kỹ thuật chăm sóc, tưới
nước, được thực hiện đồng đều giữa các
công thức.
Định kỳ theo dõi các thí nghiệm sau khi chiết
cành 7 ngày, 14 ngày, 21 ngày và 28 ngày, gồm
các chỉ tiêu sau: ngày bắt đầu ra rễ (ngày); tỉ lệ
cành chiết ra rễ (%); số chồi trung bình/gốc
cành chiết (chồi); số rễ trung bình/cành chiết
(rễ); chiều dài rễ trung bình (cm).
Đánh giá tỷ lệ sống của cành chiết khi giâm
ươm tại vườn ươm: Khi cành chiết ra rễ cấp 2
(rễ chuyển từ trắng sang màu vàng nhạt hoặc
vàng), tiến hành cắt cành chiết theo từng công
thức thí nghiệm và đem trên luống tại vườn
ươm theo khoảng cách 30 x 50 cm. Chăm
Ma Thanh Thuyết và Đtg Tạp chí KHOA HỌC & CÔNG NGHỆ ĐHTN 225(11): 193 - 200
Email: jst@tnu.edu.vn 195
sóc: Dùng lưới tán xạ che sáng ở độ cao 1,5 m
phía trên luống giâm hom; Tưới phun sương
theo hệ thống tưới tự động (30 phút tưới 1
lần, mỗi lần 20 giây, hàng ngày tưới từ 7 giờ
đến 18 giờ).
- Thí nghiệm 2: Tiến hành thí nghiệm với
chất kích thích sinh trưởng (KTST) IBA và
dãy nồng độ 500, 1500, 2000 ppm vào vụ
Thu. Kết quả so sánh với vụ Xuân từ thí
nghiệm 1.
Định kỳ theo dõi các thí nghiệm sau khi chiết
cành 7 ngày, 14 ngày, 21 ngày và 28 ngày, gồm
các chỉ tiêu sau: ngày bắt đầu ra rễ (ngày); tỉ lệ
cành chiết ra rễ (%); số chồi trung bình/gốc
cành chiết (chồi); số rễ trung bình/cành chiết
(rễ); chiều dài rễ trung bình (cm).
- Thí nghiệm 3: Tiến hành thí nghiệm với 3
công thức sử dụng hỗn hợp vật liệu bó bầu
khác nhau: CT1 (68% đất tầng mặt + 2%
NPK + 30% rơm dạ băm nhỏ), CT2 (80% đất
tầng mặt + 20% phân chuồng hoai) và CT3
(100% đất tầng mặt).
Định kỳ theo dõi 7 ngày/lần, gồm các chỉ tiêu
sau: ngày bắt đầu ra rễ (ngày), tỉ lệ cành chiết
ra rễ (%); số rễ trung bình/cành chiết (rễ);
chiều dài rễ trung bình (cm).
* Xử lý số liệu: Các số liệu được xử lý bằng
phương pháp thống kê sinh học áp dụng trong
lâm nghiệp trên phần mềm Excel và SPSS.
3. Kết quả và thảo luận
3.1. Ảnh hưởng của vị trí đốn ngọn tạo cành
chiết Tre ngọt
Tre ngọt là loài cây có thân khí sinh lớn, số
lượng cành chét ít, phân cành cao, do vậy
chúng tôi tiến hành các thí nghiệm đốn ngọn
ở các vị trí 1/2; 2/3; 3/4 trên thân khí sinh để
xác định lượng cành chét tạo ra so với đối
chứng là cần thiết. Kết quả các thí nghiệm tạo
cành được tổng hợp ở bảng 1.
Số cành chính tạo ra ở các thí nghiệm tạo
cành từ 3,87 - 4,07 cành/cây mẹ, chỉ một số
mắt ngủ ở đốt gần vị trí đốn ngọn ra cành
chính, còn các đốt phía dưới chưa ra, cho nên
vị trí đốn ngọn càng cao có tỷ lệ mắt ngủ ra
cành chính càng thấp. Số cành giữa cây mẹ
không đốn ngọn và đốn ở các vị trí khác nhau
không có sự khác nhau có ý nghĩa (Sig.>
0,05). Tương tự như số cành, đường kính và
chiều dài cành giữa các công thức nghiệm
không khác nhau có ý nghĩa.
Như vậy, đốn ngọn tạo cành ở vị trí khác
nhau không ảnh hưởng rõ rệt đến số lượng,
đường kính và chiều dài cành chính và không
tốt hơn so với đối chứng không đốn ngọn. Do
đó, không nên áp dụng biện pháp đốn ngọn
tạo cành chét đối với Tre ngọt.
Bảng 1. Thí nghiệm tạo cành chét Tre ngọt
Công thức
TN
Số cây
TN
(cây)
Số mắt ngủ
có triển
vọng (mắt)
Số cành
chính
(cành)
Tỷ lệ
mắt ra cành
chính (%)
Số cành chính
tạo ra của 1
cây
Đường kính
cành chính
(cm)
Chiều dài
cành chính
(cm)
Đốn ngọn ở
vị trí 1/2 cây
30 152 122 80,3 4,07 2,7 191,8
Đốn ngọn ở
vị trí 2/3 cây
30 176 122 69,3 4,07 2,7 203,1
Đốn ngọn ở
vị trí 3/4 cây
30 226 120 53,1 4,0 2,6 190,0
Đối chứng 30 324 116 35,8 3,87 2,6 200,0
Sig. 0,202 0,104 0,061
3.2. Ảnh hưởng của loại chất KTST và nồng độ đến khả năng nhân giống Tre ngọt ở vụ Xuân
a) Ảnh hưởng của loại chất KTST và nồng độ đến kết quả nhân giống Tre ngọt ở vụ Xuân
Kết quả thí nghiệm ảnh hưởng của nồng độ NAA, IBA, IAA đến tỷ lệ sống, tỷ lệ ra chồi của cành
chiết Tre ngọt ở các định kỳ theo dõi được tổng hợp bảng 2.
Kết quả ở bảng 2 cho thấy khi chiết cành Tre ngọt vào mùa Xuân, tỷ lệ ra rễ của cành chiết sau 7
ngày dao động từ 8,9 – 34,4%; sau 28 ngày chiết thì tỷ lệ ra rễ tăng lên từ 70 – 97,8%.
Ma Thanh Thuyết và Đtg Tạp chí KHOA HỌC & CÔNG NGHỆ ĐHTN 225(11): 193 - 200
Email: jst@tnu.edu.vn 196
Bảng 2. Ảnh hưởng của loại chất KTST và nồng độ đến tỷ lệ sống và ra chồi cành chiết Tre ngọt
Công
thức
Chất
KTST
Nồng độ
(ppm)
Số cành
TN
Ngày bắt đầu
ra rễ
Tỷ lệ ra rễ (%)
7
ngày
14
ngày
21
ngày
28
ngày
CT1-X
NAA
500 90 6 14,4 58,9 73,3 80,0b,c,d
CT2-X 1500 90 5 18,9 51,1 64,4 70,0d
CT3-X 2000 90 6 12,2 60,0 70,0 76,7c,d
CT4-X
IBA
500 90 5 18,9 66,7 74,4 90,0a,b
CT5-X 1500 90 4 34,4 75,6 88,9 97,8a
CT6-X 2000 90 6 21,1 63,3 78,9 96,7a
CT7-X
IAA
500 90 6 18,9 61,1 76,7 87,8a,b,c
CT8-X 1500 90 6 14,4 55,6 73,3 80,0b,c,d
CT9-X 2000 90 6 10,0 47,8 58,9 80,0b,c,d
CT10-X Đối chứng 90 7 8,9 42,2 58,9 70,0d
Sig, 0,001
Bảng 3. Ảnh hưởng của loại chất KTST và nồng độ đến chất lượng rễ của cành chiết Tre ngọt
Công thức
Chất
KTST
Nồng độ
(ppm)
Số cành
chiết
thí nghiệm
Số chồi/
gốc cành chiết
(chồi)
Số rễ/
gốc cành
chiết (rễ)
Chiều dài rễ
TB (cm)
CT1-X
NAA
500 90 2,96 b,c 5,9bc 4,9c
CT2-X 1500 90 2,52 d 6,7d 4,1f
CT3-X 2000 90 3,09 b 11,4b 4,4d
CT4-X
IBA
500 90 3,42 a 12,7a 5,4b
CT5-X 1500 90 3,61a 20,0a 6,9 a
CT6-X 2000 90 2,95 b,c 13,5bc 6,8 c
CT7-X
IAA
500 90 3,52a 13a 4,2 e
CT8-X 1500 90 2,78 c 12c 4,5d
CT9-X 2000 90 2,76 c 11,4c 4,2e
CT10-X Đối chứng 90 2,75 c 5,8d 3,9 f
Sig. 0,000 0,000 0,000
Kết quả phân tích thống kê số liệu sau 28
ngày chiết gốc cành Tre ngọt cho thấy loại
thuốc và nồng độ chất điều hoà sinh trưởng
khác nhau có ảnh hưởng rõ rệt tới tỷ lệ ra rễ
của cành chiết (Sig. = 0,001 < 0,05). Trong
các nhóm thuốc, sử dụng thuốc IBA đem lại
kết quả tỷ lệ ra rễ tốt nhất. Các công thức
CT4, 5, 6, 7 –X là nhóm công thức cho kết
quả ra rễ vượt trội (Bảng 2). Trong đó, CT5-X
(sử dụng IBA có nồng độ 1500 ppm) cho kết
quả tỷ lệ ra rễ cao nhất là 97,8% và thời gian
bắt đầu xuất hiện rễ sớm nhất là 4 ngày.
Các loại chất điều hòa sinh trưởng khác nhau
với nồng độ khác nhau có ảnh hưởng đến chất
lượng bộ rễ của của cành chiết Tre ngọt khi
nhân giống vào vụ Xuân thể hiện ở Bảng 3.
Kết quả phân tích thống kê cho thấy loại
thuốc và nồng độ có ảnh hưởng rõ rệt tới số
lượng chồi chiết/gốc cành, số rễ/gốc cành
chiết, chiều dài rễ trung bình (TB) (Sig. =
0,000 < 0,05). CT2 (NAA 1500 ppm) và
CT10 (Đối chứng) thuộc nhóm cho kết quả về
các chỉ tiêu chất lượng rễ thấp nhất.
Các công thức CT4, 5, 7 thuộc nhóm cho kết
quả tốt nhất về chỉ tiêu số chồi/gốc cành chiết
và số rễ/gốc cành chiết. Trong đó CT5 sử dụng
IBA với nồng độ 1500 ppm cho số lượng chồi
chiết/gốc cành cao nhất đạt 3,61 chồi và số
rễ/gốc cành chiết cao nhất đạt 20,0 rễ.
Về chỉ tiêu chiều dài rễ trung bình, công thức
CT5 sử dụng IBA với nồng độ 1500 ppm cho
kết quả tốt nhất là 6,9 cm.
b) Kết quả giâm hom gốc cành chiết tại vườn ươm
Tiếp tục theo dõi sau 30 đến 90 ngày khi cành
chiết ra rễ cấp 2, tiến hành cắt cành theo từng
công thức thí nghiệm và đem giâm ở vườn ươm
theo sơ đồ của các công thức thí nghiệm (đều
giâm vào cát) với khoảng cách 30 x 40 cm vào
luống thí nghiệm có cát vùi. Kết quả sau 3 tháng
theo dõi cành chiết của các công thức thí
nghiệm có tỷ lệ sống thể hiện ở bảng 4.
Ma Thanh Thuyết và Đtg Tạp chí KHOA HỌC & CÔNG NGHỆ ĐHTN 225(11): 193 - 200
Email: jst@tnu.edu.vn 197
Bảng 4. Kết quả giâm ươm gốc cành chiết tại vườn ươm (cành chiết vụ Xuân) sau 3 tháng
Công thức
TN
Chất
KTST
Nồng độ
(ppm)
Số cành đem
giâm (cành)
Cành sống Cành chết
Số cành (cành) Tỷ lệ (%) Số cành (cành) Tỷ lệ (%)
CT1-X
NAA
500 72 55 76,4 17 23,6
CT2-X 1500 63 44 69,8 19 30,2
CT3-X 2000 69 46 66,7 23 33,3
CT4-X
IBA
500 81 72 88,9 9 11,1
CT5-X 1500 88 81 92,0 7 8,0
CT6-X 2000 87 79 90,8 8 9,2
CT7-X
IAA
500 79 66 83,5 13 16,5
CT8-X 1500 72 63 87,5 9 12,5
CT9-X 2000 72 61 84,7 11 15,3
CT10-X Đối chứng 63 40 63,5 23 36,5
Bảng 5. Ảnh hưởng của thời vụ và các nồng độ thuốc đến khả năng ra rễ của chiết gốc cành Tre ngọt
Thời vụ
CTTN
Tên loại thuốc
và nồng độ
Số cành TN
(cành)
Ngày bắt
đầu ra rễ
Tỷ lệ ra rễ (%)
7 ngày 14 ngày 21 ngày 28 ngày
Vụ Xuân
CT1-X IBA500ppm 90 5 18,9 66,7 74,4 90,0ab
CT2-X IBA1500ppm 90 4 34,4 75,6 88,9 97,8a
CT3-X IBA2000ppm 90 6 21,1 63,3 78,9 96,7a
CT4-X ĐC 90 7 8,9 42,2 58,9 70,0d
Vụ Thu
CT5-T IBA500ppm 90 6 11,1 55,6 76,7 87,8ab
CT6-T IBA1500ppm 90 5 31,1 74,4 73,3 80,0bc
CT7-T IBA2000ppm 90 5 22,2 47,8 58,9 80,0bc
CT8-T ĐC 90 7 10,0 43,3 60,0 68,9d
Sig. 0,000
Tỷ lệ sống của gốc cành chiết sau khi đem
giâm tại vườn ươm phụ thuộc vào nhiều yếu
tố khác nhau như: chất lượng rễ của gốc cành
chiết đem giâm, ẩm độ, nhiệt độ, chế độ chăm
sóc Thời điểm giâm gốc cành vào tháng 4
chế độ nhiệt ẩm không khí đều khá thuận lợi,
thường có mưa nhỏ, ít nắng nóng; do đó, cành
giâm đạt tỷ lệ sống khá cao, tỷ lệ sống đạt cao
nhất ở công thức CT5 lên tới 92,0% và thấp
nhất ở công thức đối chứng CT10 là 63,5%.
Điều này cũng hoàn toàn phù hợp với chất
lượng rễ ở các công thức thí nghiệm, các gốc
cành chiết có chất lượng rễ tốt khi giâm sẽ
cho tỷ lệ sống cao hơn và ngược lại.
3.3. Ảnh hưởng của thời vụ đến khả năng ra
rễ của chiết gốc cành Tre ngọt
Chúng tôi sử dụng chất KTST tốt nhất từ thí
nghiệm 1 là IBA (500 ppm, 1500 ppm, 2000
ppm) tiến hành vào vụ Thu, kết quả được so
sánh với kết quả của vụ Xuân ở thí nghiệm 1.
3.3.1. Ảnh hưởng của thời vụ đến tỷ lệ ra rễ
khi chiết gốc cành Tre ngọt
Kết quả so sánh tỷ lệ ra rễ khi chiết gốc cành
tại 2 vụ Xuân và vụ Thu thể hiện ở bảng 5.
Kết quả phân tích thống kê cho thấy thời vụ
và các nồng độ thuốc khác nhau có ảnh hưởng
rõ rệt đến tỷ lệ ra rễ gốc cành chiết (Sig. <
0,05). Kết quả ở bảng 5 cho thấy khi tiến
hành chiết gốc cành Tre ngọt ở vụ Xuân
(CT1, 2, 3) có thời gian ra rễ và tỷ lệ sống ở
các thời điểm 7 ngày, 14 ngày, 21 ngày và 28
ngày đều cao hơn vụ Thu.
3.3.2. Ảnh hưởng của thời vụ đến chất lượng
rễ của gốc chiết cành Tre ngọt
Kết quả so sánh chất lượng rễ khi chiết gốc
cành Tre ngọt tại vụ Thu và vụ Xuân thể hiện
ở bảng 6.
Kết quả phân tích thống kê cho thấy thời vụ
và các nồng độ thuốc khác nhau có ảnh hưởng
rõ rệt tới số rễ và chiều dài rễ gốc cành chiết.
(Sig. = 0,000 < 0,05). Các công thức có sử
dụng chất KTST đều cho kết quả chất lượng
rễ tốt hơn các công thức đối chứng. Ở vụ
Xuân, số rễ/gốc cành chiết dao động từ 5,8 -
20,0 rễ/gốc cành chiết, chiều dài rễ/gốc cành
chiết từ 3,9 - 6,9 cm. Ở vụ Thu, số rễ/gốc
cành chiết dao động từ 9,4 - 17,4 rễ, chiều dài
rễ/gốc cành chiết từ 3,8 - 6,1 cm. Trong đó,
công thức CT2-X (IBA 1500 ppm) cho kết
quả về số rễ/gốc cành và chiều dài rễ TB cao
nhất lần lượt là 20 rễ và 6,9 cm.
Ma Thanh Thuyết và Đtg Tạp chí KHOA HỌC & CÔNG NGHỆ ĐHTN 225(11): 193 - 200
Email: jst@tnu.edu.vn 198
Bảng 6. Chất lượng rễ trong các công thức thí nghiệm ở cả 2 vụ Xuân và Thu
Thời vụ Công thức TN
Số gốc cành
chiết (cành)
Số rễ/gốc cành
(rễ)
Chiều dài rễ
(cm)
Vụ Xuân
CT1-X IBA500 ppm 90 12,7 c 5,4c
CT2-X IBA1500 ppm 90 20,0a 6,9a
CT3-X IBA2000 ppm 90 13,5c 6,8d
CT4-X ĐC 90 5,8e 3,9 e
Vụ Thu
CT5-T IBA500 ppm 90 12,6 c 5,3 c
CT6-T IBA1500 ppm 90 17,4b 6,1b
CT7-T IBA2000 ppm 90 13,5c 4,9 d
CT8-T ĐC 90 9,4d 3,8 e
Sig. 0,000 0,000
Bảng 7. Ảnh hưởng của hỗn hợp ruột bầu đến khả năng ra rễ của gốc cành chiết cây Tre ngọt
CT Thành phần
Số cành TN
(cành)
Ngày bắt
đầu ra rễ
Tỉ lệ ra rễ (%) sau thời gian
7 ngày 14 ngày 21 ngày 28 ngày
CT1
68% đất tầng mặt + 2% NPK
+ 30% rơm rạ băm nhỏ
90 6 16,7 47,8 62,2 76,7a
CT2
80% đất tầng mặt + 20%
phân chuồng hoai
90 7 13,3 43,3 58,9 64,4b
CT3 100% đất tầng mặt 90 9 0 14,4 43,3 56,7b
Sig. 0,005
Kết quả nghiên cứu chỉ ra rằng, chiết gốc
cành Tre ngọt vào vụ Xuân cho kết quả tốt
hơn. Kết quả này phù hợp với nghiên cứu của
Nguyễn Viễn, Nguyễn Văn Thọ, Nguyễn Anh
Duy [16] chỉ ra thời vụ nhân giống Tre ngọt
tốt nhất là từ tháng 2 đến tháng 4. Do đó, khi
tiến hành sản xuất để đạt tỷ lệ ra rễ cao nên
chiết gốc cành vào vụ Xuân.
3.3. Ảnh hưởng của hỗn hợp ruột bầu đến khả
năng ra rễ của gốc cành chiết Tre ngọt
3.3.1. Ảnh hưởng của hỗn hợp ruột bầu đến
tỷ lệ ra rễ của gốc cành chiết Tre ngọt
Kết quả chiết gốc cành với hỗn hợp ruột bầu
khác nhau được tổng hợp lại tại bảng 7.
Thời gian bắt đầu ra rễ ở các công thức thí
nghiệm có sự khác nhau. Kết quả cho thấy,
công thức CT1 có thời gian ra rễ sớm nhất là
6 ngày sau khi chiết, CT3 có thời gian ra rễ
muộn nhất 9 ngày sau khi chiết. Thời gian kết
thúc ra rễ khá muộn khoảng 27 - 28 ngày; kết
thúc muộn nhất là CT3, qua quan sát ở thời
điểm này, cành chiết đã bắt đầu xuất hiện rễ
cấp 2 và màu sắc chuyển dần từ trắng sang
phớt vàng, Đây là dấu hiệu nhận biết để dự
đoán thời điểm bẻ cành thích hợp nhất.
Từ bảng 7 cho thấy sau 7 ngày, chỉ có CT1 và
CT2 ra rễ với tỷ lệ thấp lần lượt là 13,3% và
16,7%; còn CT3 chưa ra rễ. Sau 14 ngày, tất
cả các công thức đều đã có cành ra rễ. Thấp
nhất là CT3 chỉ có 14,4% gốc cành chiết ra rễ,
cao nhất là CT1 có tới 47,8% gốc cành chiết
đã ra rễ. Thời điểm 21 ngày thì hầu hết cành
chiết đã ra rễ, tuy nhiên tỷ lệ ra rễ ở các công
thức là khác nhau dao động từ 43,3% -
62,2%. CT1 cho tỷ lệ ra rễ cao nhất là 62,2%,
thấp nhất là CT3 với 43,3% gốc cành chiết đã
ra rễ. Sau 28 ngày là thời điểm quyết định đến
tỷ lệ ra rễ của toàn thí nghiệm. Tỷ lệ ra rễ ở
các công thức là khác nhau, biến động từ
56,7% - 76,7%. Kết quả phân tích thống kê
cho thấy chiết gốc cành bằng các hỗn hợp
ruột bầu khác nhau có ảnh hưởng rõ rệt tới tỷ
lệ ra rễ của gốc cành chiết (Sig. = 0,005 <
0,05). Theo tiêu chuẩn Duncan, đã xác định
được CT1 có tỷ lệ ra rễ cao nhất, thấp nhất là
CT3 (100% đất tầng mặt).
3.3.2. Ảnh hưởng của hỗn hợp ruột bầu đến
chất lượng rễ của gốc cành chiết Tre ngọt
Kết quả kiểm tra chất lượng rễ của cành chiết
ở các công thức thí nghiệm được tổng hợp tại
bảng 8.
Ma Thanh Thuyết và Đtg Tạp chí KHOA HỌC & CÔNG NGHỆ ĐHTN 225(11): 193 - 200
Email: jst@tnu.edu.vn 199
Bảng 8. Chất lượng rễ trong các công thức thí nghiệm với các loại hỗn hợp ruột bầu khác nhau
CT
Thành phần
Số gốc cành chiết
kiểm tra (cành)
Số rễ TB/
gốc cành chiết
(rễ)
Chiều dài rễ TB
(cm)
CT1
68% đất tầng mặt + 2% NPK +
30% rơm rạ băm nhỏ
90 6,4a 4,5a
CT2
80% đất tầng mặt + 20% phân
chuồng hoai
90 4,9b 3,8b
CT3 100% đất tầng mặt 90 4,7b 3,4b
Sig. 0,002 0,002
Kết quả phân tích thống kê cho thấy, chiết gốc
cành bằng hỗn hợp ruột bầu khác nhau có ảnh
hưởng rõ rệt tới số rễ và chiều dài rễ gốc cành
chiết (Sig. < 0,05). Theo tiêu chuẩn Duncan,
đã xác định được CT1 (68% đất tầng mặt + 2%
NPK + 30% rơm rạ băm nhỏ) cho số rễ và
chiều dài rễ cao nhất tương ứng là 6,4 rễ và 4,5
cm, thấp nhất là CT3 (100% đất tầng mặt).
Cả ba chỉ tiêu về thời gian ra rễ, số lượng rễ,
chiều dài rễ ở CT1 đều vượt trội so với công
thức còn lại. Do vậy, trong thực tế sản xuất,
chúng ta nên chọn hỗn hợp ruột bầu là
CT1(68% đất tầng mặt + 2% NPK + 30%
rơm rạ băm nhỏ) là phù hợp nhất cho chiết
gốc cành Tre ngọt.
4. Kết luận
Nhân giống Tre ngọt bằng chiết cành có sử
dụng các chất kích thích sinh trưởng khác
nhau với nồng độ khác nhau có ảnh hưởng
đến khả năng nhân giống bằng phương pháp
chiết cành. Kết quả cho thấy có sự ảnh hưởng
khác biệt của việc lựa chọn các loại thuốc
kích thích sinh trưởng với các nồng độ khác
nhau và có sự khác biệt khá xa so với công
thức đối chứng. Trong đó sử dụng chất KTST
IBA cho kết quả vượt trội về tỷ lệ ra rễ và
chất lượng rễ.
Đặc biệt, nhân tố thời vụ có ảnh hưởng đến
hiệu quả của việc nhân giống. Kết quả nghiên
cứu chiết gốc cành Tre ngọt vào vụ Xuân và
vụ Thu có sự khác biệt. Vụ Xuân sử dụng
chất kích thích sinh trưởng IBA ở nồng độ
1500 ppm cho kết quả: tỷ lệ sống sau 28
ngày đạt 97,8%, số lượng chồi/gốc cành
chiết là 3,61 chồi, số rễ/gốc cành chiết là 20
rễ, chiều dài rễ đạt 6,9 cm và tỷ lệ sống sau
giâm hom tại vườn ươm đạt 92% là tốt nhất.
Sử dụng hỗn hợp ruột bầu có thành phần 68%
đất tầng mặt + 2% NPK + 30% rơm rạ băm
nhỏ cho kết quả số rễ TB/gốc cành chiết là
6,4 rễ và chiều dài rễ là 4,5 cm là cao nhất.
TÀI LIỆU THAM KHẢO/ REFERENCES
[1]. W. Munro, “A Monograph of the
Bambusaceae,” Transaction of the Linnean
Society, vol. 26, pp. 146-153, 1868.
[2]. S. Wiswanath, K. Chethan, A. Srivastava, G.
Joshi, C. Sowmya, and S. C. Joshi,
Dendrocalamus brandisii – An ideal bamboo
species for domestication in humid tropics.
IWST Technical Bulletin No 12, IWST
publication, Bangalore, 2013.
[3]. S. Dransfield, and E. A. Widjaja, Plant
Resources of South-East Asia 7: Bamboos.
Backhuys Publisher, Leiden, 1995.
[4]. C. J. Hsueh, and D. Z. Li, “Dendrocalamus
Nees,” in Flora Reipublicae Popularis
Sinicae, B. Keng, and Z. Wang, (ed.),
Science, Beijing,1996, ch. 9, pp. 162-164.
[5]. D. Z. Li, and C. Stapleton, “Dendrocalamus
Nees,” – In: Wu, C.Y. et al (eds), Flora of
China Science Press, Beijing, Miss Bot Gard
Press, 2006, ch. 22, pp. 39-46.
[6]. D. Ohrnberger, The bamboos of the world:
Annotated nomenclature and literature of the
species and higher and lower taxa.,
Amsterdam, New York, Oxford, Tokyo:
Elsvier Science B.V., 1999.
[7]. D. N. Tewari, A monograph on bamboo.
International Book Distributors, Dehra Dun,
India, 1993.
[8]. H. H. Pham, Vietnamese plants. Young
Publishing, Ho Chi Minh City, 1999.
[9]. H. N. Nguyen, Vietnamese bamboo. Young
Publishing, Ho Chi Minh City, 2005.
[10]. V. T. Nguyen, “Adjustment of genus
classification Dendrocalamus Nees (Family:
Bambusoideae) in Vietnam,” Doctoral thesis,
Chinese Academy of Sciences, 2012.
Ma Thanh Thuyết và Đtg Tạp chí KHOA HỌC & CÔNG NGHỆ ĐHTN 225(11): 193 - 200
Email: jst@tnu.edu.vn 200
[11]. Arinana, J. Hinsui, B. Ignatius, K.
Kronseder, J. Kärkkäinen, P. Pingoud, and E.
Sandra, Non Timber Forest Products in
Northern Thailand, Sixth University of
Helsinki Course on Tropical Forest Ecology
and Silviculture, Thailand, 2008.
[12]. B. Kigomo, Guidelines for growing Bamboo.
Kenya Forestry Rearch Institute, 2007, p. 34.
[13]. V. Cusack, Bamboo rediscovered. Earth
garden books, Victoria, Australia, 1997.
[14]. V. D. Pham, Proposing a reasonable
structure model for the intercropped
neohouzeaua forest in Binh Han commune,
Lac Son district, Hoa Binh province,
Scientific research topic, Bổ sung cơ quan chủ
trì, 2006.
[15]. Z. Fangchun, “Taxonomic revision of the
genus Dendrocalamus Nees (Poaceae:
Bamboosoideae) from Vietnam,” PhD thesis,
Chinese Academy of Sciences, 2000.
[16]. V. Nguyen, V. T. Nguyen, and A. D.
Nguyen, “Indigenous knowledge on
propagation, cultivation, exploitation,
preservation and preliminary processing of
bamboo shoots (Dendrocalamus brandisii
(Munro) Kurz),” Science and Technology
Journal of Agriculture and Rural
Development, vol. November 2018, pp. 181-
188, 2018.
Các file đính kèm theo tài liệu này:
nghien_cuu_ky_thuat_nhan_giong_chiet_goc_canh_loai_tre_ngot.pdf