3.4. Kết quả đưa cây ra vườn ươm
Đưa cây ra ngoài vườn ươm là giai đoạn quan
trọng nhằm huấn luyện cây thích nghi với
thay đổi của nhiệt độ, độ ẩm, sự mất nước,
sâu bệnh và chuyển từ trạng thái dị dưỡng
sang tự dưỡng hoàn toàn. Khi cây con in vitro
đã đạt đủ tiêu chuẩn về kích thước, hình thái
và ra rễ, chúng tôi tiến hành đưa cây ra vườn
ươm. Khảo sát ba loại giá thể gồm mùn cưa,
hỗn hợp mùn cưa với vụn dớn (tỷ lệ 1:1) và
vụn dớn. Mỗi loại giá thể tiến hành trồng 50
cây con. Các bầu cây được đưa vào túi nilon
kính và ghim lại nhằm giữ ẩm cục bộ, chăm
sóc bằng tưới nước và dung dịch ½ MS. Kết
quả theo dõi sau 60 ngày được trình bày
trong bảng 6. Kết quả theo dõi sinh trưởng
của cây con nhận thấy, 3 loại giá thể sử dụng
đều thích hợp với lan Thạch hộc Đùi gà in
vitro, tỷ lệ cấy sống đều đạt trên 80%. Tuy
nhiên giá thể chứa hỗn hợp mùn cưa và vụn
dớn đạt chất lượng tốt hơn, tỷ lệ cây sống tới
92%, cây to khỏe ra rễ nhiều, số chồi mới
hình thành đạt 2,86 chồi/cây sau 2 tháng
(Hình 2G).
Như vậy, có thể kết luận giá thể hỗn hợp mùn
cưa và vụn dớn (lệ 1:1) là thích hợp cho sinh
trưởng và phát triển của cây lan Thạch hộc
Đùi gà in vitro giai đoạn vườn ươm.
4. Kết luận
Kết quả nghiên cứu cho thấy, môi trường MS
bổ sung saccharose 10g/l; than hoạt tính 1g/l;
BAP 1 mg/l và nước dừa 100 ml/l thích hợp
cho sự tái sinh protocorm. Môi trường thích
hợp cho sinh trưởng và phát triển chồi là MS
bổ sung đường saccharose 25 g/l; than hoạt
tính 1 g/l; BAP 1 mg/l và khoai tây 50 g/l. Bổ
sung NAA nồng độ 0,5 mg/l vào môi trường
nuôi cấy kích thích sự hình thành và phát triển
rễ tốt nhất. Cây con in vitro trồng trên giá thể
hỗn hợp mùn cưa hoai mục và vụn dớn tỉ lệ
1:1 cho kết quả tốt nhất (tỷ lệ cây sống đạt
92%; cây to khỏe ra rễ nhiều, số chồi mới hình
thành đạt 2,86 chồi/cây sau 2 tháng).
8 trang |
Chia sẻ: hachi492 | Lượt xem: 7 | Lượt tải: 0
Bạn đang xem nội dung tài liệu Nghiên cứu nhân giống in vitro lan thạch hộc đùi gà, để tải tài liệu về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
TNU Journal of Science and Technology 225(11): 68 - 75
68 Email: jst@tnu.edu.vn
NGHIÊN CỨU NHÂN GIỐNG IN VITRO LAN THẠCH HỘC ĐÙI GÀ
(Dendrobium nobile Lindl.)
Nguyễn Thị Hải Yến*, Trần Ngọc Nam
Trường Đại học Khoa học - ĐH Thái Nguyên
TÓM TẮT
Lan Thạch hộc Đùi gà (Dendrobium nobile Lind.) cho hoa đẹp và có giá trị dược liệu. Hiện nay,
loài lan rừng này đang bị khai thác quá mức có nguy cơ cạn kiệt trong tự nhiên, vì vậy việc bảo tồn
là rất cần thiết. Trong nghiên cứu này, các yếu tố ảnh hưởng đến sự tái sinh protocorm, sinh trưởng
và phát triển chồi, sự ra rễ in vitro và sự sống sót và sinh trưởng cây con đã được khảo sát. Kết quả
cho thấy môi trường Murashige & Skoog bổ sung saccharose 10g/l; than hoạt tính 1g/l; BAP 1
mg/l và nước dừa 100ml/l thích hợp cho sự tái sinh protocorm; Môi trường thích hợp cho sinh
trưởng và phát triển chồi lan Thạch hộc Đùi gà in vitro là MS bổ sung đường saccharose 25g/l;
than hoạt tính 1g/l; BAP 1mg/l và khoai tây 50g/l. Bổ sung NAA nồng độ 0,5 mg/l vào môi trường
nuôi cấy kích thích sự hình thành và phát triển rễ tốt nhất (độ dài rễ lên đến 20,5 mm, số rễ trung
bình/chồi đạt 7,32; rễ mập, dài khỏe). Sau 60 ngày chuyển cây con in vitro trồng trong nhà lưới
trên giá thể hỗn hợp mùn cưa hoai mục và vụn dớn tỉ lệ 1:1 cho kết quả tốt nhất (tỷ lệ cây sống đạt
92%; cây to khỏe ra rễ nhiều, số chồi mới hình thành đạt 2,86 chồi/cây sau 2 tháng).
Từ khóa: cây thảo dược; Dendrobium nobile Lind.; nhân giống in vitro; nuôi cấy protocorm; vụn dớn
Ngày nhận bài: 27/8/2020; Ngày hoàn thiện: 12/10/2020; Ngày đăng: 21/10/2020
STUDY ON IN VITRO PROPAGATION OF Dendrobium nobile Lindl.
Nguyen Thi Hai Yen*, Tran Ngoc Nam
TNU - University of Sciences
ABSTRACT
Dendrobium nobile Lindl. gives beautiful flowers and has medicinal value. Currently, this natural
orchid plant in any forest is overexploited, leading to depletion, therefore, it should be preserved.
In this study, the effects of factors on protocorm regeneration, shoot growth and development,
rooting, and the survival and growth of seedlings were investigated. Results showed that
Murashige and Skoog medium supplemented including sucrose 10 gL-1; activated charcoal 1 gL-1;
BAP 1 mgL-1 and coconut water 100 mL-1 were the best for protocorm regeneration. A suitable
medium for the growth and development of orchid shoots Dendrobium nobile Lindl. in vitro was
Murashige and Skoog medium supplemented including saccharose 25 gL-1; activated charcoal 1
gL-1; BAP 1 mgL-1 and potato 50 gL-1. Additional volume of 0.5 mgL-1 NAA to the culture
medium promoted the best root formation (root length up to 20.5 mm, number of roots/shoot
reaching 7.32, long strong roots). Seedlings were grown in a mesh house on a mixture of
decomposed sawdust and crumbs at the ratio of 1: 1 which provided the best results after 60 days
(rate of living plants reaching 92%; strong trees with many roots, the number of newly formed
shoots reaching 2.86 buds/tree).
Keywords: herbal plants, Dendrobium nobile Lind., in vitro propagation; protocorm
regeneration; crumbs
Received: 27/8/2020; Revised: 12/10/2020; Published: 21/10/2020
* Corresponding author. Email: yennth@tnus.edu.vn
Nguyễn Thị Hải Yến và Đtg Tạp chí KHOA HỌC & CÔNG NGHỆ ĐHTN 225(11): 68 - 75
Email: jst@tnu.edu.vn 69
1. Mở đầu
Lan Hoàng thảo (Dendrobium) là một chi có
số lượng loài đông đảo vào bậc nhất trong họ
lan với khoảng 1400 loài trên toàn thế giới,
chủ yếu phân bố ở Đông Nam Á và các đảo
thuộc Philippine, Malaysia, Indonesia, Papua
New Guinea, Đông Bắc Australia. Ở Việt
Nam có 107 loài và 1 thứ, phân bố ở các vùng
núi từ Bắc vào Nam và trên một số đảo ven
biển [1]. Phong lan không chỉ có tác dụng
trang trí cho không gian sống mà nhiều loài
còn có giá trị dược liệu điển hình như thạch
hộc tía (D. officinale Kimura et Migo) được
dùng chữa lao, sốt nóng, khô cổ, ho, đau
họng, nóng trong, đau lưng, chân tay nhức
mỏi, ra mồ hôi trộm, thiểu năng sinh dục ở
nam giới, di tinh, đau dạ dày, viêm ruột [2]
[3]; Lan kim tuyến (A. setaceus) được dùng
trong điều trị các bệnh như đau nhức xương
khớp, phong tê thấp, chấn thương, suy nhược
thần kinh và giúp tăng sức đề kháng [4]; và
một số loài lan khác như Lan phi điệp (D.
anosmum), Thạch hộc Đùi gà (D. nobile
Lind.) trị các chứng suy nhược cơ thể, thần
kinh suy nhược, đau họng và yếu sinh lý ở
nam giới
Hiện nay, lan rừng đang bị khai thác cạn kiện
do nhu cầu chơi hoa cũng như nhu cầu thu hái
làm thuốc tăng cao. Tình trạng khai thác
không kiểm soát đối với hầu hết các loài lan
rừng ở nước ta đang xảy ra mạnh ở nhiều
vùng như Tây Nguyên, Lâm Đồng và các tỉnh
phía Bắc như Hà Giang, Yên Bái, Thái
Nguyên... Hầu hết các loài lan rừng Việt Nam
đều được xếp vào danh mục sách đỏ cần được
bảo vệ, trong đó có nhiều loài đang ở mức độ
đặc biệt nguy cấp [5]. Vì vậy việc bảo tồn
nguồn gen tự nhiên là rất cần thiết. Trong môi
trường sinh thái, lan nhân giống chủ yếu bằng
hình thức sinh sản vô tính (đẻ chồi hàng
năm), nhưng hệ số nhân giống thấp. Tuy quả
lan có rất nhiều hạt nhưng trong tự nhiên lại
khó nảy mầm vì không có nội nhũ, muốn nảy
mầm được phải có sự cộng sinh của nấm [6].
Hiện nay, cùng với sự phát triển của công
nghệ sinh học, việc nhân giống in vitro được
xem là phương pháp hiệu quả để nhân nhanh
và bảo tồn nhiều loài lan quý hiếm. Cho đến
nay trên thế giới đã có nhiều công trình
nghiên cứu vi nhân giống chi Dendrobium,
trong đó nghiên cứu về nhân giống các loài
Dendrobium lai chiếm tỉ lệ cao nhất (26,4%),
tiếp đến là các loài Thạch hộc (D. candidum,
D. officinale) (10,3%) và thấp nhất là một số
loài lan rừng gồm D. primulinum, D.
lituiflorum, D. densiflorum, D. crumenatum
(2,3%) [7], Dendrobium chrysanthum [8]. Ở
Việt Nam, nhân giống Dendrobium đã được
tiến hành trên một số loài như: D. officinale
Kimura et Migo [9]; D. lituiflorum [10], D.
heterocarpum Lindl [11]. Để góp phần bảo
tồn và nhân giống lan rừng làm thuốc, chúng
tôi tiến hành nghiên cứu nhân giống in vitro
loài lan Thạch hộc Đùi gà (D. nobile Lindl.)
2. Vật liệu và phương pháp nghiên cứu
2.1. Vật liệu
Thạch hộc đùi gà (D. nobile Lindl.) được khai
thác từ rừng thuộc địa bàn tỉnh Hòa Bình.
Mẫu thân và quả được thu vào tháng 10, 11.
Quả còn xanh hoặc già nếu chưa mở đều sử
dụng để phục vụ nuôi cấy in vitro.
2.2. Phương pháp nghiên cứu
2.2.1. Phương pháp khử trùng mẫu
Đối với mẫu thân sau khi thu về được rửa
bằng xà phòng loãng, tráng nước cất vô trùng
rồi đưa vào box cấy khử trùng theo các bước:
(1) Khử trùng sơ bộ bằng cồn 70% trong 30
giây; (2) Khử trùng bằng javen 30% trong 10,
20 phút hoặc thủy ngân clorua (HgCl2) 0,1%
trong 8, 10 phút; (3) Rửa mẫu bằng nước cất vô
trùng, đưa mẫu lên giấy thấm và cắt những khúc
có mắt ngủ đưa vào môi trường nuôi cấy.
Đối với mẫu hạt: (1) Trước khi khử trùng, quả
lan được rửa sạch bằng nước xà phòng loãng,
sau đó khử trùng bằng cồn 70% trong 30 giây
rồi sử dụng thủy ngân clorua (HgCl2) 0,1% với
hai cách xử lý khác nhau: khử trùng một lần
trong 10 phút và hai lần với thời gian lần một 8
phút, lần hai 5 phút. (3) Tráng lại bằng nước cất
và tách hạt đưa vào môi trường nuôi cấy.
Nguyễn Thị Hải Yến và Đtg Tạp chí KHOA HỌC & CÔNG NGHỆ ĐHTN 225(11): 68 - 75
Email: jst@tnu.edu.vn 70
2.2.2. Tái sinh chồi từ protocorm và tạo cây
hoàn chỉnh
Môi trường nuôi cấy về thành phần và hàm
lượng của các muối khoáng, các vitamin theo
môi trường MS [12]. Sử dụng đường
saccharose hàm lượng làm nguồn cung cấp
cacbon. Chất điều hòa sinh trưởng nhóm gồm
BAP và NAA; các chất bổ sung, đường
saccharose, nước dừa, dịch chiết, agar và than
hoạt tính
Cách làm dịch chiết: chuối tiêu xanh bỏ vỏ
lụa, luộc chín, xay nhỏ mịn riêng từng loại;
khoai tây để cả vỏ rửa sạch luộc chín dùng cả
nước luộc xay nhỏ mịn. Tất cả các môi trường
nuôi cấy được điều chỉnh pH = 5,8 và được
hấp khử trùng ở nhiệt độ 121oC, áp suất 1
atm, trong 20 min.
Nghiên cứu ảnh hưởng một số yếu tố đến sự
tái sinh protocorm
- Thí nghiệm 2.1: Nghiên cứu ảnh hưởng của
BAP lên sự tái sinh chồi từ protocorm. Môi
trường nuôi cấy gồm các thành phần cơ bản,
bổ sung BAP với nồng độ thay đổi ở 4 công
thức 0 - 0,5 - 1 - 1,5 mg/l.
- Thí nghiệm 2.2: Nghiên cứu ảnh hưởng của
hàm lượng saccharose đến quá trình nhân
nhanh protocorm. Môi trường nuôi cấy bổ
sung BAP 1mg/l và saccharose với hàm
lượng được thay đổi theo 4 công thức: CT1-
0; CT2- 5g/l; CT3 – 10g/l; CT4 – 15g/l; CT5
– 20g/l.
- Thí nghiện 2.3: Nghiên cứu ảnh hưởng của
nước dừa đến quá trình phát sinh chồi
protocorm. Các cụm protocorm cấy trên môi
trường MS có chứa BAP 1 mg/l và nước dừa
với hàm lượng thay đổi theo từng công thức
(CT) như sau: CT1- 0; CT2- 50ml/l; CT3-
100ml/l; CT4- 150 ml/l.
Nghiên cứu ảnh hưởng của một số yếu tố đến
sự nhân nhanh và tái tạo cây hoàn chỉnh lan
Thạch hộc Đùi gà
- Thí nghiệm 3.1: Nghiên cứu ảnh hưởng của
BAP đến sự nhân nhanh chồi lan. Các cụm
chồi nhỏ phát sinh từ protocorm cấy chuyển
vào môi trường MS cơ bản bổ sung nước dừa
50ml/l; than hoạt tính 1g/l và BAP với nồng
độ thay đổi ở bốn công thức (CT) thí nghiệm:
CT1- 0; CT2- 0,5mg/l; CT3- 1mg/l; CT4-
1,5mg/l.
- Thí nghiệm 3.2. Nghiên cứu ảnh hưởng của
hàm lượng khoai tây và chuối xanh nghiền
đến sự phát triển lan. Các cụm lan có kích
thước trung bình 3 chồi/ cụm được cấy lên
MS bổ sung 1 g/l than hoạt tính; 1 g/l BAP và
bổ sung chuối xanh nghiền, khoai tây nghiền
với hàm lượng ở các công thức thí nghiệm
như sau: CT1- 0, CT2- 30g/l khoai tây, CT3-
50g/l khoai tây, CT4- 30g/l chuối xanh, CT5-
50g/l chuối xanh.
- Thí nghiệm 3.3. Nghiên cứu ảnh hưởng của
α – NAA đến khả năng ra rễ. Sử dụng môi
trường MS bổ sung đường saccharose 30 g/l;
agar 6 g/l; than hoạt tính 1 g/l; khoai tây 50
g/l và NAA với nồng độ thay đổi từ 0 - 0,25 -
0,5 - 0,75 mg/l.
2.2.3. Phương pháp ra cây ngoài vườn ươm
Khi cây con nuôi cấy đã đạt đủ tiêu chuẩn,
tiến hành dùng panh gắp cây con khỏi bình
nuôi cấy sau đó rửa nhẹ nhàng dưới vòi nước
cho thật sạch, để cây con ráo nước sau đó
trồng vào cốc nhựa đựng giá thể. Giá thể sử
dụng để ra cây gồm mùn cưa đã được ủ hoai
mục và vụn dớn.
Xử lý số liệu: Các thí nghiệm ở giai đoạn in
vitro được bố trí theo kiểu hoàn toàn ngẫu
nhiên với 3 lần lặp lại. Mỗi nghiệm thức được
cấy 5 bình. Số liệu thu thập được xử lý bằng
phần mềm phân tích thống kê.
3. Kết quả nghiên cứu và thảo luận
3.1. Kết quả khử trùng tạo mẫu sạch bệnh
Tiến hành khử trùng lan Thạch hộc Đùi gà
theo các bước như trình bày ở mục 2.2.1. Kết
quả cho thấy, sử dụng mẫu thân để tạo vật
liệu ban đầu đưa vào nuôi cấy cho hiệu quả
khá thấp. Trong đó sử dụng HgCl2 0,1% khử
trùng với khoảng thời gian 8 phút cho kết quả
tốt nhất nhưng tỉ lệ mẫu sống cũng chỉ đạt
15%. Do đó, chúng tôi tiếp tục tiến hành khử
trùng quả lan để gieo hạt tạo vật liệu ban đầu.
Qua theo dõi chúng tôi nhận thấy rằng sử
dụng HgCl2 0,1% khử trùng quả lan 2 lần (8
phút và 5 phút) cho hiệu quả cao, tỉ lệ mẫu
nhiễm ít, 100% mẫu không nhiễm đều phát
sinh thể chồi (protocorm) sau 5 tuần nuôi cấy.
Nguyễn Thị Hải Yến và Đtg Tạp chí KHOA HỌC & CÔNG NGHỆ ĐHTN 225(11): 68 - 75
Email: jst@tnu.edu.vn 71
3.2. Kết quả tái sinh protocorm
3.2.1. Ảnh hưởng của nồng độ BAP,
saccharose đến khả năng tăng sinh protocorm
Sau khi gieo hạt lan khoảng 60 ngày,
protocorm xuất hiện dày đặc và bắt đầu tăng
sinh, tiến hành tách các khối protocorm và
cấy lên môi trường MS bổ sung BAP,
saccharose với nồng độ thay đổi (mục 2.2.2).
Sau 30 ngày theo dõi, chúng tôi nhận thấy ở
tất cả các công thức thí nghiệm, các khối
protocorm đều tăng sinh về kích thước. Đối
với môi trường bổ sung BAP, ở công thức thí
nghiệm 3 (CT3 - bổ sung BAP nồng độ
1mg/l) cho kết quả tăng sinh khối protocorm
lớn hơn (hệ số nhân protocorm đạt 3,8 lần) so
với các công thức còn lại. Đối với thí nghiệm
khảo sát ảnh hưởng của saccharose lên sự
phát triển của protocorm nhận thấy, sau 8
tuần theo dõi, ở CT3 (bổ sung BAP 1 mg/l và
saccharose 10 g/l) các chỉ tiêu nhân nhanh
protocorm vượt trội so với các công thức thí
nghiệm khác (đường kính trung bình khối
protocorm đạt 10,5/5,0, hệ số nhân protocorm
đạt 2,9 lần sau 30 ngày và protocorm có xu
hướng biệt hóa hình thành chồi nhanh hơn)
(Bảng 1).
3.2.2. Ảnh hưởng của nước dừa đến quá trình
phát sinh chồi protocorm
Các cụm protocorm được cấy trên môi trường
MS có chứa saccharose 10 g/l; than hoạt tính 1
g/l; BAP 1 mg/l và nước dừa với hàm lượng
thay đổi (mục 2.2.2). Sau 40 ngày theo dõi
nhận thấy hầu hết các công thức thí nghiệm
đều có tỉ lệ phát sinh chồi cao (trên 70%)
nhưng số lượng chồi/cụm protocorm thấp
(trung bình 3 - 5 chồi/cụm). Công thức môi
trường CT3 cho khả năng phát sinh chồi từ
protocorm cao nhất so với các công thức môi
trường thí nghiệm khác với tỉ lệ phát sinh chồi
đạt 97,4% (Bảng 2) và chồi có chất lượng tốt
nhất (kích thước chồi trung bình cao từ 0,5 - 1
cm, chồi xanh đều, mỗi chồi mang từ 3 - 4 lá).
Kết quả này hoàn toàn phù hợp với các nghiên
cứu về vi nhân giống lan Dendrobium. Jaime
và cs (2015) khi tổng hợp các công trình
nghiên cứu về vi nhân giống Dendrobium cho
thấy nước dừa thường được thêm vào với nồng
độ từ 10 - 25% v/v (chiếm 27,6% các nghiên
cứu về vi nhân giống Dendrobium) [7]. Tác
dụng tích cực của nước dừa đối với vi nhân
giống Dendrobium được giải thích rằng trong
nước dừa có chứa nhiều vitamin, amino acid,
đường, khoáng chất và đặc biệt là các
phytohormone tự nhiên [13].
3.3. Kết quả tái sinh chồi và tạo cây hoàn chỉnh
3.3.1. Ảnh hưởng của BAP đến sự tái sinh
chồi lan Thạch hộc Đùi gà in vitro
Tách các cụm chồi nhỏ phát sinh từ
protocorm cấy chuyển vào môi trường MS bổ
sung BAP với nồng độ thay đổi (mục 2.2.2),
kết quả thu được trình bày ở bảng 3. Kết quả
ở bảng 3 cho thấy có sự chênh lệch lớn về hệ
số nhân chồi cũng như khả năng phát triển
của chồi khi thay đổi nồng độ BAP. Trên môi
trường không bổ sung BAP, các các cụm chồi
chỉ đạt 7,72 chồi/cụm với chiều cao trung
bình là 11,5 mm, số lá trung bình là 2,9 và
chồi yếu với các biểu hiện hình thái như chồi
nhỏ, gầy, lá xanh nhạt. Khi bổ sung BAP vào
môi trường, các chỉ tiêu theo dõi tăng theo
tương ứng với hàm lượng BAP và cao nhất ở
CT4 (bổ sung BAP 1,5 mg/l) với hệ số nhân
chồi cao nhất (đạt 9,75 chồi/cụm).
Bảng 1. Ảnh hưởng của BAP, saccharose lên khả năng tái sinh protocorm
Công
thức
Đường kính trung bình khối
protocorm ban đầu (mm)
Đường kính trung bình khối
protocorm sau 30 ngày (mm)
Hệ số nhân
protocorm (lần)
BAP
CT1 5,0 ± 0,15 12 ± 0,10 2,4
CT2 4,7 ± 0,09 18 ± 0,14 3,6
CT3 5,2 ± 0,12 20 ± 0,08 3,8
CT4 5,0 ± 0,15 15 ± 0,18 3,0
Saccharose
CT1 5,2 ± 0,12 8,10 ± 0,45 1,56
CT2 4,5 ± 0,07 10,5 ± 0,13 2,33
CT3 5,0 ± 0,08 14,5 ± 0,09 2,90
CT4 4,7 ± 0,06 13,0 ± 0,10 2,76
CT5 4,8 ± 0,06 12,0 ± 0,15 2,50
Nguyễn Thị Hải Yến và Đtg Tạp chí KHOA HỌC & CÔNG NGHỆ ĐHTN 225(11): 68 - 75
Email: jst@tnu.edu.vn 72
Bảng 2. Ảnh hưởng của hàm lượng nước dừa đến khả năng phát sinh chồi từ cụm protocorm
Công thức
nhân chồi
Hàm lượng nước
dừa (ml/l)
Số cụm protocorm
đưa vào
Số cụm protocorm
phát sinh chồi
Tỷ lệ phát sinh
chồi (%)
CT1 0 40 30 75,0
CT2 50 35 31 88,6
CT3 100 38 37 97,4
CT4 150 33 29 87,9
Bảng 3. Ảnh hưởng của BAP đến sự phát triển cụm chồi lan Thạch hộc
Môi trường
Nồng độ
BAP (mg/l)
Số chồi/cụm Chiều cao chồi (mm) Số lá/chồi Hình thái chồi
CT1 0 7,22 ± 0,07 11,50 ± 0,08 2,90 ± 0,05 Chồi nhỏ, lá xanh nhạt
CT2 0,5 7,85 ± 0,12 14,70 ± 0,10 3,82 ± 0,20 Chồi nhỏ, lá xanh
CT3 1,0 8,32 ± 0,09 16,50 ± 0,12 3,70 ± 0,16 Chồi BT, lá xanh đậm
CT4 1,5 9,75 ± 0,23 17,25 ± 0,20 4,10 ± 0,15 Chồi to, lá xanh đậm
Các chất điều hòa sinh trưởng thực vật (PGR)
được sử dụng phổ biến nhất trong vi nhân
giống Dendrobium là BAP và NAA, có thể sử
dụng dưới dạng kết hợp (56,9%), hoặc đơn lẻ
là BAP (29,3%) hay NAA (13,8%) trong môi
trường nuôi cấy [7]. BAP là chất điều hòa
sinh trưởng thuộc nhóm cytokinin có vai trò
quan trọng trong phân chia tế bào và kích
thích sự hình thành chồi. Bởi vậy, BAP
thường được sử dụng trong giai đoạn nhân
chồi. Li và cs (2013) đã chỉ ra rằng rằng môi
trường thích hợp nhất để tạo chồi và cảm ứng
ra rễ giữa các loài khác nhau là khác nhau.
Môi trường thích hợp để tạo chồi trong nuôi
cấy D. pendulum và D. primulinum là MS +
0,5 mg/l BA + 0,1 mg/l NAA + 100 ml/l nước
dừa, và MS + 0,25 mg/l BA + 0,1 mg/l NAA
+ 100 ml/l nước dừa cho nuôi cấy D.
heterocarpum [14].
3.3.2. Ảnh hưởng của khoai tây và chuối xanh đến
sự phát triển chồi lan Thạch hộc Đùi gà in vitro
Ngoài các hormone sinh trưởng, để thúc đẩy
quá trình nuôi cấy giúp cây sinh trưởng nhanh
hơn và có chất lượng tốt hơn, các nghiên cứu
thường bổ sung thêm dịch chiết một số loại củ
quả như cà rốt, khoai tây, chuối [11]. Dịch
chiết củ quả chứa những thành phần không
xác định có tác dụng kích thích sự sinh trưởng
của mô tế bào. Trong thí nghiệm này khoai
tây và chuối xanh nghiền được bổ sung vào
môi trường nuôi cấy để theo dõi sự ảnh hưởng
của chúng đến sinh trưởng lan Thạch hộc Đùi
gà in vitro. Mỗi bình thí nghiệm được cấy 5
cụm chồi (3 chồi/ cụm) trên môi trường MS
bổ sung 30 g/l đường saccharose; than hoạt
tính 1 g/l; BAP 1 g/l và chuối xanh, khoai tây
nghiền (2.2.2), kết quả theo dõi sau 90 ngày
được trình bày ở bảng 4. Kết quả cho thấy, ở
CT1 không bổ sung khoai tây và chuối xanh
thì sự nhân chồi thấp nhất với các chỉ số theo
dõi đều thấp (hệ số nhân chồi đạt 4,6
chồi/cụm, chiều cao trung bình đạt 47,1 mm
và số lá/chồi là 3,37, chồi nhỏ và lá xanh
nhạt). Với môi trường bổ sung hàm lượng
khoai tây 30 g/l, thì hệ số nhân chồi đạt 5,8
chồi/cụm, chiều cao trung bình đạt 59,5 mm
và số lá/chồi là 4,5; khi tăng hàm lượng khoai
tây lên 50 g/l (CT3) thì sự sinh trưởng và phát
triển của chồi tăng lên rõ rệt (hệ số nhân chồi
đạt 6,3 chồi/cụm, chiều cao trung bình đạt
63,6 mm và số lá/chồi là 5,1). Tương tự với
môi trường bổ sung chuối xanh, khi bổ sung
30g/l (CT4), thì hệ số nhân chồi đạt 6,2
chồi/cụm, chiều cao trung bình đạt 54,2 mm
và số lá/chồi là 4,1 còn khi tăng hàm lượng
chuối xanh lên 50g/l (CT5) thì hệ số nhân
chồi đạt 6,8 chồi/cụm, chiều cao trung bình
đạt 57,2 mm và số lá/chồi là 4,7.
Kết quả thu được cho thấy, đối với môi
trường bổ sung dịch chiết sự hình thành và
phát triển chồi cây tốt hơn môi trường không
bổ sung dịch chiết. Jaime và cs [7] khi tổng
hợp các nghiên cứu vi nhân giống
Dendrobium cho thấy các chất phụ gia thường
được bổ sung vào môi trường nuôi cấy
Dendrobium là nước dừa, than hoạt tính, chiết
xuất chuối, peptone, và một số những chất
Nguyễn Thị Hải Yến và Đtg Tạp chí KHOA HỌC & CÔNG NGHỆ ĐHTN 225(11): 68 - 75
Email: jst@tnu.edu.vn 73
khác. Các dịch chiết tự nhiên thường chứa
niacin và một số vitamin có tác dụng kích
thích sự nảy mầm và sinh trưởng của cây lan
[15]. Ngoài các dịch chiết, than hoạt tính cũng
thường được bổ sung vào môi trường nuôi
cấy phong lan. Than hoạt tính có tác dụng cải
thiện sự thông khí và đồng thời thiết lập sự
phân cực đối với các nguyên tố vi lượng được
thêm vào môi trường đảm bảo nhiệt độ chất
nền, hoặc hấp thụ các chất độc hại, bao gồm
cả phenol [16], [17]. Trong nghiên cứu này,
khi bổ sung 50g/l khoai tây nghiền vào môi
trường cho thấy số chồi/cụm nhiều nhất (6,8
chồi/cụm), chiều cao chồi đạt 57,2 mm/chồi
và chồi có màu xanh đậm. Như vậy, có thể
nhận xét rằng môi trường thích hợp cho nhân
chồi lan Thạch hộc Đùi gà là MS bổ sung
đường saccharose 25g/l; agar 6g/l; than hoạt
tính 1g/l; BAP 1g/l và khoai tây 50g/l.
3.3.3. Ảnh hưởng của α – NAA đến khả năng
ra rễ lan Thạch hộc Đùi gà in vitro
α - NAA là hormone sinh trưởng thuộc nhóm
auxin, vai trò của α - NAA là thúc đẩy sự sinh
trưởng và dãn nở của tế bào thực vật, tăng
cường quá trình tổng hợp và trao đổi các chất
như ADN, protein Ngoài ra nó còn kích
thích sự ra rễ, kéo dài rễ và tham gia vào cảm
ứng tạo chồi vô tính trong ống nghiệm. Trong
nghiên cứu này, các chồi đạt kích thước 3 - 5
cm được cấy lên môi trường MS bổ sung
đường saccharose 30 g/l; agar 6 g/l; than hoạt
tính 1 g/l; khoai tây 50 g/l và NAA với dải
nồng độ chạy từ 0 mg/l đến 0,75 mg/l. Kết
quả theo dõi sau 80 ngày được trình bày trong
bảng 5. Kết quả bảng 5 cho thấy môi trường
bổ sung α - NAA ở các hàm lượng khác nhau
thì ảnh hưởng khác nhau tới sự ra rễ lan
Thạch hộc Đùi gà in vitro. Ở môi trường CT1
tỷ lệ rễ/cây thấp chỉ đạt trung bình 5,7 rễ/cây;
độ dài rễ là 11 mm; rễ nhỏ, ngắn, màu xanh
nhạt. Khi bổ sung α - NAA môi trường nuôi
cấy, tỉ lệ chồi ra rễ cao. Ở nồng độ NAA 0,25
mg/l thì số rễ/cây là 6,5; độ dài rễ là 15,9 mm;
rễ nhỏ, màu xanh. Khi tăng nồng độ NAA lên
0,5 mg/l thì độ dài rễ lên đến 20,5 mm,và số
rễ trên trung bình trên một cây đạt 7,32, rễ
mập, dài, màu trắng đục, chóp rễ màu xanh.
Chúng tôi tiếp tục tăng nồng độ NAA lên 0,75
mg/l thì số rễ trên cây, chiều dài rễ tương ứng
là 6,78 và 18,2 mm. Rễ dài, nhỏ, màu trắng và
chóp rễ xanh (Hình 2F). Từ những kết quả
trên, chúng tôi đánh giá nồng độ α - NAA 0,5
mg/l là thích hợp cho sự ra rễ của lan Thạch
hộc Đùi gà in vitro.
Bảng 4. Ảnh hưởng của chuối xanh và khoai tây nghiền đến sự phát triển lan Thạch hộc Đùi gà
CT thí nghiệm
Số chồi/cụm
cây
Chiều cao tb
cây (mm)
Số lá/cây
Hình thái cây
CT1- không bổ sung 4,6 ± 0,06 47,1 ± 2,26 3,3 ± 0,07 Cây nhỏ, lá nhỏ và xanh
CT2 - 30 g/l khoai tây 5,8 ± 0,12 59,5 ± 2,20 4,5 ± 0,11 Cây vừa, lá trung bình và xanh
CT3 - 50 g/l khoai tây 6,3 ± 0,01 63,6 ± 1,82 5,1 ± 0,08 Cây mập, lá to và xanh đậm
CT4 - 30 g/l chuối xanh 6,2 ± 0,04 54,2 ± 3,04 4,1 ± 0,13 Cây nhỏ, lá nhỏ và xanh
CT5 - 50 g/l chuối xanh 6,8 ± 0,06 57,2 ± 3,32 4,7 ± 0,09 Cây nhỏ, lá nhỏ, dài và xanh đậm
Bảng 5. Ảnh hưởng của α - NAA đến khả năng tạo rễ của lan Thạch hộc
CT
Nồng độ α –
NAA
Số rễ tb/cây
Độ dài tb rễ
(mm)
Đặc điểm rễ
CT1 0 5,7 ± 0,01 11,0 ±0,22 Rễ nhỏ, ngắn, màu xanh
CT2 0,25 6,5 ± 0,05 15,9 ± 0,31 Rễ nhỏ,màu xanh,
CT3 0,50 7,3 ± 0,11 20,5 ± 0,25 Rễ mập, dài, màu trắng đục, chóp rễ xanh
CT4 0,75 6,8 ± 0,03 18,2 ± 0,38
Rễ dài, nhỏ, màu trắng đục, chóp rễ có
màu xanh
Nguyễn Thị Hải Yến và Đtg Tạp chí KHOA HỌC & CÔNG NGHỆ ĐHTN 225(11): 68 - 75
Email: jst@tnu.edu.vn 74
Bảng 6. Ảnh hưởng của một số loại giá thể đến sự phát triển lan Thạch hộc Đùi gà in vitro giai đoạn vườn ươm
Giá thể
Số cây
còn sống
Số chồi mới
hình thành
Số lá/ cây Đặc điểm cây
Mùn cưa 42 1,54 ± 0,12 7,45 ± 0,12
Cây khỏe, lá xanh nhạt và nhỏ, rễ mới hình
thành không nhiều, chồi con ít.
Mùn cưa
và vụn dớn
46 2,86 ± 0,15 8,50 ± 0,03
Cây to khỏe, lá xanh, ra rễ mới nhiều, rễ
xanh, nảy chồi con nhiều.
Vụn dớn 45 1,70 ± 0,10 6,80 ± 0,04
Cây khỏe, lá xanh nhạt, ra rễ mới và nảy
chồi con nhưng chưa nhiều.
Hình 2. Nhân giống in vitro lan Hoàng Thảo
Thạch hộc Đùi gà. A. protocorm phát sinh từ hạt;
B. protocorm trên môi trường nhân nhanh; C.
Chồi phát sinh từ protocorm; D. Chồi sinh trưởng
trên môi trường tái sinh; E. Cây con trên môi
trường bổ sung khoai tây nghiền; F. Cây con ra
chai; G. Cây con trên các loại giá thể khác nhau
3.4. Kết quả đưa cây ra vườn ươm
Đưa cây ra ngoài vườn ươm là giai đoạn quan
trọng nhằm huấn luyện cây thích nghi với
thay đổi của nhiệt độ, độ ẩm, sự mất nước,
sâu bệnh và chuyển từ trạng thái dị dưỡng
sang tự dưỡng hoàn toàn. Khi cây con in vitro
đã đạt đủ tiêu chuẩn về kích thước, hình thái
và ra rễ, chúng tôi tiến hành đưa cây ra vườn
ươm. Khảo sát ba loại giá thể gồm mùn cưa,
hỗn hợp mùn cưa với vụn dớn (tỷ lệ 1:1) và
vụn dớn. Mỗi loại giá thể tiến hành trồng 50
cây con. Các bầu cây được đưa vào túi nilon
kính và ghim lại nhằm giữ ẩm cục bộ, chăm
sóc bằng tưới nước và dung dịch ½ MS. Kết
quả theo dõi sau 60 ngày được trình bày
trong bảng 6. Kết quả theo dõi sinh trưởng
của cây con nhận thấy, 3 loại giá thể sử dụng
đều thích hợp với lan Thạch hộc Đùi gà in
vitro, tỷ lệ cấy sống đều đạt trên 80%. Tuy
nhiên giá thể chứa hỗn hợp mùn cưa và vụn
dớn đạt chất lượng tốt hơn, tỷ lệ cây sống tới
92%, cây to khỏe ra rễ nhiều, số chồi mới
hình thành đạt 2,86 chồi/cây sau 2 tháng
(Hình 2G).
Như vậy, có thể kết luận giá thể hỗn hợp mùn
cưa và vụn dớn (lệ 1:1) là thích hợp cho sinh
trưởng và phát triển của cây lan Thạch hộc
Đùi gà in vitro giai đoạn vườn ươm.
4. Kết luận
Kết quả nghiên cứu cho thấy, môi trường MS
bổ sung saccharose 10g/l; than hoạt tính 1g/l;
BAP 1 mg/l và nước dừa 100 ml/l thích hợp
cho sự tái sinh protocorm. Môi trường thích
hợp cho sinh trưởng và phát triển chồi là MS
bổ sung đường saccharose 25 g/l; than hoạt
tính 1 g/l; BAP 1 mg/l và khoai tây 50 g/l. Bổ
sung NAA nồng độ 0,5 mg/l vào môi trường
nuôi cấy kích thích sự hình thành và phát triển
rễ tốt nhất. Cây con in vitro trồng trên giá thể
hỗn hợp mùn cưa hoai mục và vụn dớn tỉ lệ
1:1 cho kết quả tốt nhất (tỷ lệ cây sống đạt
92%; cây to khỏe ra rễ nhiều, số chồi mới hình
thành đạt 2,86 chồi/cây sau 2 tháng).
TÀI LIỆU THAM KHẢO/ REFERENCES
[1]. D. H. Duong, Vietnamese flora. Science and
Technology Publishing House, 2007.
[2]. A. Kowitdamrong, P. Chanvorachote, B.
Sritularak, and V. Pongrakhananon,
“Moscatilin inhibits lung cancer cell motility
Nguyễn Thị Hải Yến và Đtg Tạp chí KHOA HỌC & CÔNG NGHỆ ĐHTN 225(11): 68 - 75
Email: jst@tnu.edu.vn 75
and invasion via suppression of endogenous
reactive oxygen species,” BioMed Research
International, vol. 2013, 2013, Art.
no.765894, doi:
https://doi.org/10.1155/2013/765894.
[3]. C. Chu, H. Yin, X. Li, D. Cheng, J. Yan, and
Z. Lin, “Discrimination of Dendrobium
officinale and Its Common Adulterants by
Combination of Normal Light and
Fluorescence Microscopy,” Molecules, vol.
19, pp. 3718-3730, 2014.
[4]. T. L. Do, Medicinal plants and medicines in
Viet Nam. Medical Publishing House, Viet
Nam, 2004.
[5]. Ministry of Science and Technology, Vietnam
Academy of Science and Technology, Viet
Nam red book. Part II. Plant. Natural Science
and Technology Publishing House, 2007.
[6]. H. Tran, Viet Nam orchid, Ha Noi Agriculture
Publishing House, 1988.
[7]. A. Jaime, S. D. Teixeira, C. C. Jean, J.
Dobra ́nszki, and Z. Songjun, “Dendrobium
micropropagation: a review,” Plant Cell Rep,
vol. 34, pp. 671-704, 2015.
[8]. S. Rao, and B. Barman, “In vitro
micropropagation of Dendrobium
chrysanthum Wall. ex Lindl. A threatened
orchid,” SAJB, vol. 2, pp. 39-42, 2014.
[9]. T. S. Nguyen, B. T. Tu, T. N. Dang,T. L. A.
Nguyen, T. N. Hoang, and Q. T. Nguyen, “In
vitro propagation of Dendrobium officinale
Kimura et Migo,” Journal of Science and
Development, vol. 12, pp. 1274-1282, 2014.
[10]. V. V. Nguyen, “Using in vitro culture
techniquie for the propagation of Dendrobium
lituiflorum LindLey,” Journal of Forestry
Science and Technology, vol. 4, pp. 39-45,
2017.
[11]. T. T. Dang, N. B. H’Yon, T. T. H. Nguyen,
V. K. Dinh, V. D. Nong, T. V. Tran, V. H.
Quach, and K. C. Vu, “Micropropagation of
Dendrobium heterocarpum Lindl.,” Journal
of Biotechnology, vol. 16, pp. 127-135, 2018.
[12]. T. Murashige, and F. Skoog, "A Revised
Medium for Rapid Growth and Bio Assays
with Tobacco Tissue Cultures," Physiologia
Plantarum, vol. 15, pp. 473-497, 1962
[13]. J. W. H. Yong, L. Ge, Y. F. Ng, and S. N.
Tan, “The chemical composition and
biological properties of coconut (Cocos
nucifera L.) water,” Molecules, vol. 14, pp.
5144-5164, 2009.
[14]. Y. Li, D. H. Zhu, H. T. Pan, and Q. X.
Zhang, “In vitro propagation of three
Dendrobium species from stems,” Journal of
Northeast Forestry University vol. 41, pp.77-
81, 2013.
[15]. M. O. Islam, S. Matsui, and S. Ichihashi,
“Effect of complex organic additives on seed
germination and carotenoid content in
Cattleya seedlings,” Lindleyana, vol. 15, pp.
81-88, 2000.
[16]. S. J. Zeng, W. C. Huang, K. L. Wu, J. X.
Zhang, J. A Teixeira da Silva, and J. Duan,
“In vitro propagation of Paphiopedilum
orchids,” Critical Reviews in Biotechnology,
vol. 36, pp. 521-534, 2016.
[17]. S. J. Zeng, Y. Zhang, J. A. Teixeira da Silva,
K. L. Wu, J. X. Zhang, and J. Duan, “Seed
biology and in vitro seed germination of
Cypripedium,” Critical Reviews in
Biotechnology, vol. 34, pp. 358-371, 2014
Các file đính kèm theo tài liệu này:
nghien_cuu_nhan_giong_in_vitro_lan_thach_hoc_dui_ga.pdf