Kết quả thử hoạt tính sinh học của hợp chất
mangiferin (1)
Kết quả thử hoạt tính chống oxi hóa
Mangiferin (1) đã được thử hoạt tính chống oxi
hóa bằng phương pháp quét gốc tự do DPPH theo
phương pháp thử nêu ở mục 2.4. Kết quả thử ở Bảng
2 cho thấy mangiferin có hoạt tính chống oxi hóa
quét gốc tự do DPPH với giá trị SC50 là 15,94
g/ml. Hoạt tính này có thể do sự có mặt của 4
nhóm hydroxyl (-OH) ở vòng A và vòng B của
khung xanthone trong cấu trúc của mangiferin.
Kết quả thử hoạt tính gây độc tế bào
Mangiferin (1) đã được thử nghiệm hoạt tính
gây độc tế bào trên 4 dòng tế bào ung thư người (KB,
Hep-G2, LU-1 và MCF-7) theo phương pháp thử nêu
ở mục 2.5. Kết quả được chỉ ra ở Bảng 3 cho thấy
hợp chất mangiferin (1) thể hiện hoạt tính trung bình
trên cả bốn dòng tế bào ung thư thử nghiệm với các
giá trị IC50 từ 11,95 – 16,84 µg/ml. Các kết quả thử
hoạt tính gây độc tế bào in vitro của mangiferin gợi ý
cho việc sử dụng hợp chất này làm nguyên liệu để
bào chế các dạng thuốc và thực phẩm chức năng hỗ
trợ điều trị bệnh ung thư.
Kết luận
Bằng phương pháp chiết siêu âm sử dụng dung
môi methanol đã phân lập được hợp chất mangiferin
từ lá cây xoài (Mangifera indica L) với hiệu suất
6,46%. Cấu trúc của hợp chất này đã được xác định
bằng các phương pháp phổ cộng hưởng từ hạt nhân
NMR và phổ khối phun mù điện tử ESI-MS. Hợp
chất mangiferin thể hiện hoạt tính chống oxi hóa quét
gốc tự do DPPH với giá trị SC50 là 15,94 g/ml và
hoạt tính gây độc tế bào trung bình trên các dòng tế
bào ung thư KB, Hep-G2, LU-1, MCF-7 với giá trị
IC50 tương ứng là 11,95; 13,75; 15,65; 16,84 g/ml.
4 trang |
Chia sẻ: hachi492 | Lượt xem: 2 | Lượt tải: 0
Bạn đang xem nội dung tài liệu Nghiên cứu phân lập hợp chất Mangiferin từ lá cây xoài, để tải tài liệu về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
Tạp chí Khoa học và Công nghệ 140 (2020) 061-064
61
Nghiên cứu phân lập hợp chất mangiferin từ lá cây xoài
Study on Isolation of Mangiferin from Mangifera Indica L. Leaves
Lê Huyền Trâm*, Nguyễn Văn Thông, Đinh Thị Thu Hiền
Trường Đại học Bách khoa Hà Nội - Số 1, Đại Cồ Việt, Hai Bà Trưng, Hà Nội
Đến Tòa soạn: 08-3-2019; chấp nhận đăng: 20-01-2020
Tóm tắt
Xoài có tên khoa học Mangifera inica L. thuộc họ Đào lộn hột (Anacardiaceae) là loại cây nhiệt đới phân bố
phổ biến ở Việt Nam. Mangiferin (1) được phân lập từ lá cây xoài (Mangifera indica L.), bằng các phương
pháp chiết hồi lưu và chiết siêu âm. Cấu trúc của 1 được nhận dạng bằng các phương pháp phổ bao gồm
phổ khối lượng phun mù điện tử (ESI-MS) và phổ cộng hưởng từ hạt nhân (NMR). Hợp chất 1 thể hiện hoạt
tính chống oxi hóa quét gốc tự do DPPH và hoạt tính gây độc tế bào trung bình trên bốn dòng tế bào ung
thư người gồm ung thư biểu mô (KB), ung thư gan (Hep-G2), ung thư phổi (LU-1) và ung thư vú (MCF7) với
các giá trị IC50 tương ứng là 11,95; 13,75, 15,65 và 16,84 g/ml.
Từ khóa: Mangifera indica, Anacardiaceae, mangiferin, xanthone, DPPH, chống oxi hóa.
Abstract
Mango (Mangifera indica L.) belongs to the family of anacardiaceae, which is a popular tropical plant
distributed in Vietnam. Mangiferin (1) was isolated from the leaves of Mangifera indica L. by reflux extraction
and ultrasound-assisted extraction methods. Chemical structure of compound 1 was identified by means of
spectroscopic methods including electrospray ionization mass spectrometry (ESI-MS) and nuclear magnetic
resonance spectroscopy (NMR). Compound 1 is showed DPPH scavenging activity with SC50 value of 15.94
g/ml and moderate cytotoxic activity on four human cancer cell lines including mouth epidermal carcinoma
(KB), liver hepatocellular carcinoma (Hep-G2), lung carcinoma (LU-1) and breast cancer (MCF7) with IC50
values of 11.95, 13.75, 15.65 and 16,84 g/ml, respectively.
Keywords: Mangifera indica, Anacardiaceae, mangiferin, xanthone, DPPH, antioxidant.
1. Đặt vấn đề*
Cây xoài có tên khoa học là Mangifera indica L.
thuộc họ Đào lộn hột (Anacardiaceae). Cây thích nghi
với khí hậu nóng ẩm nên được trồng ở các nước nhiệt
đới Á Đông như Ấn Độ, Myanma, Malaysia, Thái
Lan. Cây cũng phân bố cả ở các nước nhiệt đới thuộc
châu Phi, châu Mỹ và một số nước Châu Âu. Ở nước
ta, cây xoài được trồng phổ biến khắp miền Nam. Tại
miền Bắc nhiều nơi như Sơn La cũng đã trồng. Người
ta thường trồng cây để lấy quả ăn. Quả, vỏ quả, lá, vỏ
thân cây xoài có vị chua, ngọt, tính mát. Theo Đông
y, quả xoài dùng để trị ho, tiêu hóa không bình
thường, vỏ quả dùng trị kiết lỵ, lá dùng để trị các
bệnh đường hô hấp như ho, viêm phế quản mạn tính
hay cấp tính, dùng ngoài trị viêm da, vỏ thân dùng trị
ho, đau sưng họng và đau răng; nhựa từ vỏ dùng trị
kiết lỵ, ỉa chảy, bệnh ngoài da, bạch đới, kinh nguyệt
quá nhiều [1].
Thành phần hóa học của cây xoài cũng rất
phong phú. Quả xoài tỉ lệ thịt quả chiếm 60–70 %, thịt
*
Địa chỉ liên hệ: Tel.: (+84) 912.783.355.
Email: tram.lehuyen@hust.edu.vn
xoài chứa nhiều chất đường 16–20 %, chất bột, chất
gôm, acid hữu cơ chủ yếu là acid citric, các carotenoid
chủ yếu là β-caroten (121–363,8 mg/1000g), các hợp
chất phenolic đơn giản (như acid ellagic, acid gallic,
acid digallic và acid trigallic) và polyphenol
(anthocyanin, mangiferin, quercetin, isoquercetin,
tannin), các vitamin nhóm B và C Nhựa xoài chứa
16% gôm và 81% nhựa; gôm gồm 22% pentose, 38%
hexose, 24,1% anhydrit uronic, D-galactose, L-
arabilose, L-rhamnose, acid glucuronic. Lá và vỏ thân
cây cũng giàu các hợp chất polyphenol thuộc các nhóm
flavonoid và xanthon thiên nhiên, đặc biệt chứa hàm
lượng cao hợp chất mangiferin (1,6% trong lá và 3%
trong vỏ thân) [2,3] (Hình 1).
Hình 1. Cấu trúc của hợp chất mangiferin.
Mangiferin (hay 1,3,6,7-tetrahydroxyxanthon-
C2-β-D-glucoside) có tên gọi khác là alpizarine. Đây
là một hợp chất polyphenol thuộc nhóm xanthon-C-
Tạp chí Khoa học và Công nghệ 140 (2020) 061-064
62
glycoside thiên nhiên, chủ yếu phân bố ở các thực vật
bậc cao, có nhiều hoạt tính sinh học thú vị như hoạt
tính kháng virus HIV và tăng cường khả năng miễn
dịch [4], kháng virus Herpes [5,6], hoạt tính chống
tiểu đường [7,8] và hoạt tính chống ung thư [9,10]. Ở
Việt Nam, mangiferin đã được nghiên cứu ở dạng bào
chế thuốc nhỏ mắt hỗn dịch chứa mangiferin 2% để
điều trị bệnh về mắt do virus Herpes simplex gây ra
[11]. Trong khuôn khổ bài báo này, chúng tôi công bố
nghiên cứu về việc phân lập, xác định cấu trúc hóa
học và thử hoạt tính sinh học của hợp chất mangiferin
phân lập được từ lá cây xoài Việt Nam.
2. Thực nghiệm
2.1 Mẫu thực vật
Mẫu lá cây xoài thu hái tại xã Vĩnh Quỳnh, huyện
Thanh Trì, Hà Nội vào tháng 10/2017 và đã được TS.
Trần Huy Thái, Viện Sinh thái và Tài nguyên Sinh vật
giám định tên khoa học. Mẫu tiêu bản được lưu giữ tại
trường Đại học Bách khoa Hà Nội.
2.2 Thiết bị, hóa chất
Thiết bị chiết siêu âm Elmasonic S120 H (Elma
- Đức); Thiết bị cô quay chân không Hei-VAP Value
G3 (Heldoft - Đức);
Các dung môi methanol (MeOH), ethanol
(EtOH), acetone được làm khan và chưng cất lại;
Điểm nóng chảy (Mp) được xác định bằng máy
đo điểm nóng chảy Mel-Temp 3.0 (Thermo Scientific).
Phổ cộng hưởng từ hạt nhân (NMR) ghi bằng máy
Bruker AM500 FT-NMR spectrometer với chất
chuẩn nội là tetramethylsilane. Phổ khối lượng phun
mù điện tử (ESI-MS) đo trên hệ máy AGILENT 1200
series LC-MSD Ion Trap. Sắc ký lớp mỏng (TLC)
được tiến hành trên bản mỏng nhôm tráng sẵn
silicagel 60 F254 (Merck) độ dày 0,2mm, phát hiện vệt
chất bằng đèn tử ngoại ở hai bước sóng 254 và 365
nm, kết hợp cắt rìa bản mỏng hiện màu vệt chất bằng
thuốc thử vanilin/H2SO4 và FeCl3 5% trong ethanol.
2.3 Chiết tách và phân lập mangiferin (1)
Sau khi thu hái, lá xoài tươi được thái nhỏ, phơi
khô trong bóng râm, sấy ở 40-45oC đến khô giòn, rồi
nghiền thành bột.
Tiến hành chiết tách mangiferin từ bột lá xoài
theo hai phương pháp chiết hồi lưu và chiết siêu âm
với các dung môi có độ phân cực khác nhau. Quá
trình chiết tách được thực hiện như sau:
Cân 250 g bột lá xoài cho vào bình cầu dung
tích 2L và thêm 1L dung môi (methanol, ethanol,
acetone). Tiến hành chiết đun hồi lưu trong 2 lần,
mỗi lần 2 giờ. Quá trình chiết siêu âm cũng thực
hiện 2 lần, mỗi lần trong 0,5 giờ. Lọc bỏ bã, thu các
dịch lọc. Làm lạnh các dịch lọc đến khi xuất hiện
tinh thể. Lọc hút dịch lọc để thu tinh thể thô thứ
nhất. Sau đó, các dịch lọc thu được đem cô quay loại
bớt dung môi, rồi làm lạnh dịch sau cô quay, lọc hút
thu được tinh thể thô thứ hai. Các tinh thể thô thứ
nhất và tinh thể thô thứ hai được gộp lại với nhau,
rồi tiến hành kết tinh lại trong dung môi methanol.
Sử dụng than hoạt tính để tẩy màu trong quá trình
kết tinh lại thu được sản phẩm là hợp chất 1 với hiệu
suất thu nhận khác nhau phụ thuộc vào dung môi
chiết xuất sử dụng ban đầu.
Mangiferin (1): tinh thể hình kim màu vàng nhạt, Mp:
278-280
o
C; Rf 0,65 (TLC, silica gel, MeOH:H2O
(9:1, v/v); hiện màu với UV: màu vàng; với các thuốc
thử vanillin/H2SO4: màu nâu; FeCl3: màu xanh thẫm.
IR (KBr) νmax (cm
-1
): 3367, 2938, 1650, 1621, 1492,
1296, 1193, 1075, 1032, 879, 753.
1
H NMR (500
MHz, DMSO-d6): (ppm) 3,18 (m, 3H, H-3’, H-4’, H-
5’); 3,69 (d, 1H, H-6a’); 3,42 (d, 1H, H-6b’); 4,04 (t,
1H, H-2’); 4,44 (s, 1H, 6’-OH); 4,60 (d, 1H, H-1’);
4,81 (s, 2H, 3’,4’-OH); 6,37 (s, 1H, H-4); 6,86 (s, 1H,
H-5); 7,38 (s, 1H, H-8); 9,80 (s, 1H, OH-3); 10,55 (s,
2H, OH-6,7); 13,74 (s, 1H, OH-1).
13
C NMR (125
MHz, DMSO-d6): (ppm) 161,6 (C-1); 107,5 (C-2);
163,7 (C-3); 93,3 (C-4); 156,1 (C-4a); 102,5 (C-5);
153,9 (C-6); 143,6 (C-7); 108,0 (C-8); 111,7 (C-8a);
179,0 (C-9); 101,2 (C-9a); 150,7 (C-10a); 73,0 (C-1’);
70,5 (C-2’); 78,9 (C-3’); 70,2 (C-4’); 81,5 (C-5’); 61,4
(C-6’). ESI-MS: m/z 423 [M+H]+.
2.4 Đánh giá hoạt tính chống oxi hóa
Hoạt tính chống oxi hóa của hợp chất 1 được
đánh giá bằng khả năng quét gốc tự do DPPH (1,1-
diphenyl-2picrylhydrazyl) theo phương pháp của
Gorinstein S. và cộng sự [12]. Mẫu thử pha trong
DMSO 100% ở các nồng độ khác nhau được trộn với
190 mM DPPH trong ethanol và đưa lên phiến 96
giếng. Phiến được bọc kín để tránh ánh sáng môi
trường và ủ trong tủ ấm 37oC trong 2 giờ. Đọc kết
quả trên máy Elisa ở bước sóng 515nm. Khả năng
quét gốc tự do SC50 (Scavenging Capacity) là nồng
độ cần thiết của mẫu để quét 50% gốc DPPH. Đối
chứng âm tính là 10µl DMSO 10% +190µl DPPH
trong ethanol, đối chứng dương tính là 10µl mẫu +
190µl DPPH trong ethanol và mẫu trắng gồm10µl
mẫu +190µl ethanol.
2.5 Đánh giá hoạt tính gây độc tế bào
Hoạt tính gây độc tế bào của hợp chất 1 được
thực hiện dựa trên phương pháp MTT [3-(4,5-
dimethylthiazol-2-yl)-2,5-diphenyltetrazolium) được
T. Mosman đề xuất [13]. Mẫu thử được đánh giá hoạt
tính gây độc tế bào trên 4 dòng tế bào ung thư người
là biểu mô (KB), gan (Hep-G2), phổi (LU-1) và vú
(MCF-7). Giá trị thể hiện hoạt tính là IC50 (nồng độ
mẫu thử ức chế được 50% sự phát triển của tế bào).
Elipticine được sử dụng làm chất đối chứng.
Tạp chí Khoa học và Công nghệ 140 (2020) 061-064
63
3. Kết quả và thảo luận
3.1 Chiết tách hợp chất mangiferin (1)
Dựa vào tính chất vật lý là độ hòa tan của
mangiferin trong các dung môi hữu cơ có độ phân
cực khác nhau [14] mà nghiên cứu lựa chọn các dung
môi chiết xuất phổ biến là methanol, ethanol và
acetone. Bên cạnh đó, các phương pháp chiết xuất
khác nhau là chiết đun hồi lưu và chiết siêu âm cũng
được lựa chọn để tiến hành chiết xuất mangiferin.
Mục đích của việc lựa chọn dung môi và phương
pháp chiết xuất nhằm thu nhận được hợp chất
mangiferin từ bột lá xoài với hiệu suất (so với khối
lượng bột nguyên liệu) cao nhất. Kết quả chiết tách
thu nhận hợp chất 1 được chỉ ra ở Bảng 1.
Bảng 1. Hiệu suất thu nhận hợp chất 1 từ lá xoài
Dung môi
Hiệu suất thu hợp chất 1 (%)
Chiết hồi lưu Chiết siêu âm
Acetone 1,02 1,51
Ethanol 2,66 3,48
Methanol 4,81 6,46
Kết quả ở Bảng 1 cho thấy việc sử dụng phương
pháp chiết siêu âm với dung môi methanol cho hiệu
suất thu nhận hợp chất 1 là cao nhất (6,46%). Điều
này được giải thích là do dung môi methanol có khả
năng hòa tan tốt các hợp chất polyphenol, trong đó có
xanthone và sự có mặt của sóng siêu âm cũng làm
thúc đẩy đáng kể hiệu quả chiết xuất.
3.2 Xác định cấu trúc của mangiferin (1)
Hợp chất 1 có dạng bột, màu vàng nhạt, điểm
nóng chảy ở nhiệt độ 278-280oC. Trên phổ hồng
ngoại IR xuất hiện đỉnh hấp thụ rộng max 3411 cm
-1
đặc trưng cho nhóm –OH, đỉnh hấp thụ max 1645 cm
1
đặc trưng cho liên kết C O. Phổ ESI-MS cho pic ion
phân tử tại m/z 423 ([M+H]+) chứng tỏ hợp chất 1
khối lượng phân tử là 422 ứng với công thức phân tử
C19H18O11. Trên phổ
1
H-NMR và 13C-NMR xuất hiện
các tín hiệu phổ cộng hưởng cho phép dự đoán hợp
chất 1 có chứa một khung xanthone bị thế ở các vị trí
1,3,6,7. Cấu trúc của vòng A được xác định bằng tín
hiệu NMR ở H 6,37 (1H, s, H-4) và C 93,3 (C-4) với
một nhóm hydroxy ở C-1 [H 13,76 (1H, s, 1-OH)].
Vòng thơm B có cấu trúc được xác định bằng tín
hiệu NMR ở H 6,86 (1H, s, H-5) và 7,38 (1H, s, H-
8); C 102,5 (C-5) và 108,0 (C-8). Tín hiệu của một
carbon carbonyl !C O trên khung xanthone xuất hiện
trên phổ 13C-NMR ở C 179,0 (C-9). Các phổ
1
H-
NMR và 13C-NMR của hợp chất 1 cũng cho thấy các
tín hiệu của một đơn vị đường glucose [H 4,04 (H-
2’); 3,68 (H-6a’); 3,42 (H-6b’); 3,18 (m, 3H, H-3’, H-
4’, H-5’) và C 81,5 (C-5’); 78,9 (C-3’); 70,5 (C-2’);
70,2 (C-4’); 61,4 (C-6’)]. Một tín hiệu ở H 4,04 (1H,
d) trên phổ 1H-NMR và một tín hiệu của nhóm –CH ở
C 73,0 ppm trên phổ
13
C-NMR đặc trưng cho vị trí 1’
của phần đường. Phổ 13C-NMR cho thấy tín hiệu của
một carbon bậc bốn tại C-2 (C 107,5 ppm) chứng tỏ
đây là một C-glycoside và phần đường phải gắn vào
khung xanthone ở vị trí C-2. So sánh các giá trị phổ
NMR của hợp chất 1 với các giá trị phổ tương ứng
của hợp chất 2-C-β-D-glucopyranosyl-1,3,6,7-
tetrahydroxyxanthen-9-one hay mangiferin đã công
bố cho thấy có sự phù hợp hoàn toàn [15]. Từ đó có
thể khẳng định hợp chất 1 là mangiferin với công
thức đã nêu trong Hình 1.
3.3 Kết quả thử hoạt tính sinh học của hợp chất
mangiferin (1)
Kết quả thử hoạt tính chống oxi hóa
Mangiferin (1) đã được thử hoạt tính chống oxi
hóa bằng phương pháp quét gốc tự do DPPH theo
phương pháp thử nêu ở mục 2.4. Kết quả thử ở Bảng
2 cho thấy mangiferin có hoạt tính chống oxi hóa
quét gốc tự do DPPH với giá trị SC50 là 15,94
g/ml. Hoạt tính này có thể do sự có mặt của 4
nhóm hydroxyl (-OH) ở vòng A và vòng B của
khung xanthone trong cấu trúc của mangiferin.
Kết quả thử hoạt tính gây độc tế bào
Mangiferin (1) đã được thử nghiệm hoạt tính
gây độc tế bào trên 4 dòng tế bào ung thư người (KB,
Hep-G2, LU-1 và MCF-7) theo phương pháp thử nêu
ở mục 2.5. Kết quả được chỉ ra ở Bảng 3 cho thấy
hợp chất mangiferin (1) thể hiện hoạt tính trung bình
trên cả bốn dòng tế bào ung thư thử nghiệm với các
giá trị IC50 từ 11,95 – 16,84 µg/ml. Các kết quả thử
hoạt tính gây độc tế bào in vitro của mangiferin gợi ý
cho việc sử dụng hợp chất này làm nguyên liệu để
bào chế các dạng thuốc và thực phẩm chức năng hỗ
trợ điều trị bệnh ung thư.
Bảng 2. Kết quả thử hoạt tính chống oxi hóa của mangiferin theo phương pháp DPPH
STT Mẫu
Nồng độ mẫu
(µg/ml)
SC% SC50 Kết quả
1 Chứng (+) 50 68,5 ± 0,0 26,64 Dương tính
2 Chứng (-) 50 0,0 ± 0,0 - Âm tính
3 Mangiferin (1) 50 82,13 ± 0,5 15,94 Dương tính
Tạp chí Khoa học và Công nghệ 140 (2020) 061-064
64
Bảng 3. Kết quả thử hoạt tính gây độc tế bào của mangiferin
STT Tên mẫu
Giá trị IC50 (g/ml)
KB Hep-G2 LU MCF7
1 Mangiferin (1) 11,95 13,75 15,65 16,84
2 Elipticine 1,28 1,45 1,93 2,05
4. Kết luận
Bằng phương pháp chiết siêu âm sử dụng dung
môi methanol đã phân lập được hợp chất mangiferin
từ lá cây xoài (Mangifera indica L) với hiệu suất
6,46%. Cấu trúc của hợp chất này đã được xác định
bằng các phương pháp phổ cộng hưởng từ hạt nhân
NMR và phổ khối phun mù điện tử ESI-MS. Hợp
chất mangiferin thể hiện hoạt tính chống oxi hóa quét
gốc tự do DPPH với giá trị SC50 là 15,94 g/ml và
hoạt tính gây độc tế bào trung bình trên các dòng tế
bào ung thư KB, Hep-G2, LU-1, MCF-7 với giá trị
IC50 tương ứng là 11,95; 13,75; 15,65; 16,84 g/ml.
Lời cảm ơn
Công trình nghiên cứu này được thực hiện với
kinh phí của Đề tài cấp Trường Đại học Bách khoa
Hà Nội, mã số T2017-PC-23. Tập thể tác giả xin trân
trọng cảm ơn.
Tài liệu tham khảo
[1] Võ Văn Chi, Từ điển cây thuốc Việt Nam, Tập 2, Nhà
xuất bản Y học (2012) 1214-1215.
[2] R.N. Tharanathan, H.M. Yashoda, T.N. Prabha,
Mango (Mangifera indica L.), the king of fruits –
A review. Food Reviews International, 22 (2006)
95–123.
[3] A.J.N. Sells, H.T.V. Castro, J. A. Agero, J.G.
González, F. Naddeo, F. De Simone, L. Rastrelli ,
Isolation and quantitative analysis of phenolic
constituents, free sugars, fatty acids and polyols from
mango (Mangifera indica L.) stem bark aqueous
decoction used in Cuba as nutritional supplement, J.
Agric. Food Chem., 50 (2002) 762–766.
[4] S. Guha, S. Ghosal, U. Chattopadhyay, Antitumor,
immunomodulatory and anti-HIV effect of
mangiferin, a naturally occurring glucosylxanthone,
Chemotherapy, 42(6) (1996) 443–451.
[5] M.S. Zheng, Z.Y.Lu, Antiviral effect of mangiferin
and isomangiferin on herpes simplex virus, Chinese
Medical Journal, 10(1) (1989) 85–90.
[6] Y.X.M. Zhu, J.X. Song, Z.Z. Huang, Y.M. Wu, M.J.
Yu, Antiviral activity of mangiferin against herpes
simplex virus type 2 in vitro. Zhongguo Yaoli
Xuebao, 14(5) (1993) 452–454.
[7] H. Ichiki, T. Miura, M. Kubo, E. Ishihara, Y. Komatsu,
K. Tanigawa, M. Okada, New antidiabetic compounds,
mangiferin and its glucoside, Biol. Pharm. Bull.,
21(12) (1998)1389–1390.
[8] T. Miura, H.Ichiki, I. Hashimoto, N. Iwamoto, M.
Kato, M. Kubo, E. Ishihara, Y. Komatsu, M.
Okada, T. Ishida, K. Tanigawa, Antidiabetic activity
of a xanthone compound, mangiferin, Phytomedicine,
8(2) (2001) 85-87.
[9] P.B. Pal, K. Sinha, P.C.Sil, Mangiferin, a natural
xanthone, protects murine liver in Pb(ii) induced
hepatic damage and cell death via MAP Kinase, NF-
kB and mitochondria dependent pathways; PLoS
One, 8 (2013) e56894.
[10] S. Agarwala, K. Mudholkar, R. Bhuwania, B.S. Satish
Rao, Mangiferin, a dietary xanthone protects against
mercury-induced toxicity in HepG2 cells, Environmental
Toxicology, 27 (2012) 117–127.
[11] Trần Hữu Dũng, Nghiên cứu khả năng kích ứng của
thuốc nhỏ mắt hỗn dịch mangiferin trên mắt thỏ, Tạp
chí Dược học, 53 (2013) 44-49.
[12] S. Gorinstein, O. Martin-Bellos, E. Katrich, A. Lojek, M.
Cíz, N. Gligelmo-Miguel, R. Haruenkit, Y.S. S.T.
Park, Jung, S. Trakhtenberg, Comparison of the contents
of the main biochemical compounds and the antioxidant
activity of some Spanish olive oils as determined by four
different radical scavenging tests, J. Nutr. Biochem. 14
(2003) 154-159.
[13] T. Mosmann, Rapid colorimetric assay for cellular
growth and survival: application to proliferation and
cytotoxicity assays, J. Immunol. Methods, 65 (1983)
55–63.
[14] Acosta J., Sevilla I., Salomón S., Nuevas L., Romero
A., Amaro D., Determination of mangiferin solubility
in solvents used in the biopharmaceutical industry,
Journal Pharmacy & Pharmacognosy Research, 4
(2016) 49-53.
[15] S. Faizi, S. Zikr-Ur-Rehman, M. Ali, A. Naz,
Temperature and solvent dependent NMR studies on
mangiferin and complete NMR spectral assignments
of its acyl and methyl derivatives, Magn. Reson.
Chem., 44(9) (2006) 838-844.
Các file đính kèm theo tài liệu này:
nghien_cuu_phan_lap_hop_chat_mangiferin_tu_la_cay_xoai.pdf