Đối với khuẩn chè C, phức chất có nồng độ
10 μg/ml (H) có hoạt tính ức chế yếu (đường
kính vòng vô khuẩn là 0,9 cm), ở nồng độ 30
μg/ml (F) và 50 μg/ml (G) có khả năng ức chế
trung bình (đường kính vòng vô khuẩn lần
lượt là 1,4; 1,6 cm) (Hình 5.A).
Đối với khuẩn trám T1, phức chất có nồng độ
10 μg/ml (H); 30 μg/ml (F) và 50 μg/ml (G) có
hoạt tính trung bình (đường kính vòng vô khuẩn
lần lượt là 1,2; 1,6 và 1,8 cm) (Hình 5.B).
Đối với khuẩn trám T2, phức chất có nồng độ
10 μg/ml (H); 30 μg/ml (F) và 50 μg/ml (G)
có hoạt tính ức chế trung bình (đường kính
vòng vô khuẩn lần lượt là 1,4; 1,6; 1,8 cm)
(Hình 5.C).
Đối với khuẩn quýt Q1, phức chất có nồng độ
10 μg/ml (H) có hoạt tính ức chế trung bình
(đường kính vòng vô khuẩn là 1,2 cm), ở
nồng độ 30 μg/ml (F) có hoạt tính ức chế
mạnh (đường kính vòng vô khuẩn là 2,2 cm)
và ở nồng độ 50 μg/ml (G) có khả năng ức
chế rất mạnh (đường kính vòng vô khuẩn là
2,5 cm) (Hình 5.D).
Đối với khuẩn quýt Q2, phức chất có nồng độ
10 μg/ml (H) có hoạt tính ức chế mạnh
(đường kính vòng vô khuẩn là 2,1 cm), ở
nồng độ 30 μg/ml (F) và 50 μg/ml (G) có khả
năng ức chế rất mạnh (đường kính vòng vô
khuẩn lần lượt là 2,6 và 2,8 cm) (Hình 5.E).
Khi nghiên cứu về khả năng kháng vi sinh vật
của phức chất, Nguyễn Hữu Quân và cộng sự
đã chứng minh phức chất
Tb(Asp)3PhenCl3.3H2O ở nồng độ từ 20
µg/ml ức chế sự phát triển của vi khuẩn B.
Subtilis, S. macescens. Trong khi, ở nồng độ
40-60 µg/ml phức chất lại kích thích sự phát
triển của vi khuẩn B. Subtilis. Nghiên cứu của
Vũ Trọng Lượng và đồng tác giả (2015) nhận
thấy, prodigiosin có khả năng ức chế 75%
nấm R. solani và F. oxysporum ở nồng độ 40
µg/ml [6]. So sánh hoạt tính kháng vi khuẩn
cho thấy, nồng độ ức chế phát triển của phức
chất thấp hơn nhiều so với cao chiết cây
Thanh ngâm.
7 trang |
Chia sẻ: hachi492 | Lượt xem: 1 | Lượt tải: 0
Bạn đang xem nội dung tài liệu Nghiên cứu phân lập một số vi sinh vật gây bệnh ở thực vật và thử nghiệm hoạt tính kháng của một số chế phẩm có nguồn gốc sinh học, để tải tài liệu về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
TNU Journal of Science and Technology 225(08): 245 - 251
Email: jst@tnu.edu.vn 245
NGHIÊN CỨU PHÂN LẬP MỘT SỐ VI SINH VẬT GÂY BỆNH
Ở THỰC VẬT VÀ THỬ NGHIỆM HOẠT TÍNH KHÁNG
CỦA MỘT SỐ CHẾ PHẨM CÓ NGUỒN GỐC SINH HỌC
Phạm Thị Thanh Nhàn*, Phạm Quang Sơn, Cao Thị Phương Thảo, Lê Hữu Thiềng
Trường Đại học Sư phạm - ĐH Thái Nguyên
TÓM TẮT
Cây trà hay chè (Camellia sinensis), quýt Bắc Sơn (Citrus reticulata Blanco) và trám nếp đen
(Canariumtramdenum) là những loại cây mang lại giá trị kinh tế cao cho người dân. Tuy nhiên,
Việt Nam có khí hậu nhiệt đới gió mùa, thời tiết thường xuyên nồm ẩm. Đây chính là điều kiện
cho các loài vi sinh vật gây bệnh ở thực vật phát triển. Bài báo này trình bày kết quả nghiên cứu
phân lập một số vi sinh vật gây bệnh ở cây trà, cây quýt và cây trám nếp đen và thử nghiệm hoạt
tính kháng của một số chế phẩm có nguồn gốc sinh học. Kết quả phân lập được 05 chủng vi khuẩn
và 02 chủng nấm gây bệnh ở chè, quýt và trám nếp đen. Cao chiết từ các bộ phận cây Thanh ngâm
(Picria felterrae Lour) bằng ethanol trong 72 giờ có khả năng ức chế chủng vi khuẩn Q2 ở quýt
(nồng độ 200 g/l) và chủng nấm N1 ở chè (nồng độ 150 g/l). Phức chất Er(Asp)3phenCl3.3H2O
(nồng độ 10 μg/ml) có khả năng ức chế 5 chủng vi khuẩn phân lập được gồm: vi khuẩn C1 ở chè,
vi khuẩn T1 và T2 ở trám, vi khuẩn Q1 và Q2 ở quýt.
Từ khóa: Cao chiết; hoạt tính kháng; phân lập; phức chất; vi sinh vật gây bệnh.
Ngày nhận bài: 07/10/2019; Ngày hoàn thiện: 15/6/2020; Ngày đăng: 10/7/2020
ISOLATION OF SOME PATHOGENETIC MICROORGANISMS
IN PLANTS AND TESTING THE RESISTANCE ACTIVITY
OF SOME BIOLOGICAL PRODUCTS
Pham Thi Thanh Nhan*, Pham Quang Son, Cao Thi Phuong Thao, Le Huu Thieng
TNU - University of Education
ABSTRACT
Tea tree (Camellia sinensis), Bac Son tangerine (Citrus reticulata Blanco) and black sticky
canarium (Canariumtramdenum) are the plants bringing the high economic value to farmers.
However, Vietnam has a tropical climate, it is often damp. This is the favourable condition for
growth of pathogenic microorganisms in plants. This paper presents the research results about
isolation of some pathogenic microorganisms in tea, tangerine and black sticky canarium trees and
testing the resistance activity of some biological products. There are 05 strains of bacteria and 02
strains of fungi causing disease in tea, tangerine and black sticky canarium isolated. The extract
from different parts of Picria felterrae Lour by ethanol for 72 hours has ability to inhibit Q2
bacterial strains in tangerines (concentration of 200 g/l) and N1 fungi strain in tea (concentration
of 150 g/l). The complex Er(Asp)3phenCl3.3H2O (concentration of 10 μg/ml) is capable of
inhibiting 5 bacterial strains isolated including: C1 strain in tea, T1 and T2 strains in black sticky
canarium, Q1 and Q2 strains in tangerine.
Keywords: Extract; resistance activity; isolation; complex; pathogenic microorganisms.
Received: 07/10/2019; Revised: 15/6/2020; Published: 10/7/2020
* Corresponding author. Email: ptnhanbio@tnue.edu.vn
Phạm Thị Thanh Nhàn và Đtg Tạp chí KHOA HỌC & CÔNG NGHỆ ĐHTN 225(08): 245 - 251
Email: jst@tnu.edu.vn 246
1. Đặt vấn đề
Cây trà (chè) được biết đến là một thức uống
có nhiều giá trị về dược học như: hỗ trợ các
chức năng của não, giảm nguy cơ mắc bệnh
Alzheimer và Parkinson, chống oxy hóa, giảm
nguy cơ mắc bệnh ung thư; tiểu đường tuýp 2.
Ngoài ra, trà xanh tăng đốt chất béo và cải
thiện hoạt động thể chất [1]. Quả quýt giàu
kali, canxi, betacarotene, vitamin C cần
thiết cho việc duy trì chức năng của khớp
xương, cơ và hệ mạch, giảm viêm. Quả và lá
trám có tác dụng thanh lọc, giải độc, chữa
phong thấp, đau lưng [2].
Hàng năm trên thế giới và ở Việt Nam, cây
trồng bị mắc hàng loạt các loại bệnh. Nguyên
nhân gây bệnh có nguồn gốc từ nấm, vi khuẩn
và virus, như nhóm Phytophthora, Fusarium,
Xanthomonas, Erwinia... Ước tính khoảng
40% cây trồng các loại bị hủy hoại bởi bệnh
dịch. Theo thống kê của Tổ chức Nông
Lương Liên Hiệp Quốc (FAO), thiệt hại trong
nông nghiệp do các bệnh vi nấm gây ra tới
537,3 triệu tấn các loại nông sản, chiếm
khoảng 11,6% tổng sản lượng nông nghiệp
thế giới [3]. Việc chẩn đoán chính xác
những tác nhân gây bệnh phụ thuộc vào quá
trình phân lập và giám định sau đó trong
phòng thí nghiệm.
Bệnh do nấm gây ra thường rất khó phòng trừ
vì chúng có khả năng tồn tại lâu trong đất.
Hơn nữa, nhiều loại nấm có thể phát triển
trong khoảng pH rất rộng. Việc sử dụng các
hóa chất bảo vệ thực vật làm ô nhiễm môi
trường, tăng tính kháng của vật gây bệnh và
tiêu diệt cả những loài có ích [4], [5]. Xu
hướng hiện nay trên thế giới cũng như ở Việt
Nam là hạn chế sử dụng thuốc bảo vệ thực
vật, tăng sử dụng các chế phẩm có nguồn gốc
sinh học. Các chế phẩm sinh học có thành
phần chính là các cơ thể sống hoặc có nguồn
gốc từ cơ thể sống nên dễ bị phân hủy thành
các chất không độc sau một thời gian ngắn sử
dụng, do đó chúng không gây ô nhiễm môi
trường và ảnh hưởng đến sức khỏe con người.
Các chế phẩm được chọn lọc để tác dụng đến
từng loài vật gây hại nhất định [6].
Nghiên cứu về phức chất là hướng nghiên cứu
được nhiều nhà khoa học quan tâm. Nhiều
phức chất hỗn hợp của nguyên tố đất hiếm có
hoạt tính sinh học rất mạnh, trong đó có hoạt
tính kháng vi sinh vật. Trong nông nghiệp,
phức chất đất hiếm với hỗn hợp phối tử
amino axit dùng làm phân vi lượng, thức ăn
cho gia súc [6]. Chính vì vậy, việc tìm hiểu,
phát hiện các hợp chất có nguồn gốc sinh học
có hoạt tính kháng vi sinh vật gây bệnh, dễ
phân hủy và bảo quản được nông sản sau thu
hoạch là mục tiêu phấn đấu của một nền nông
nghiệp sạch và bền vững. Bài báo này trình
bày kết quả bước đầu về phân lập một số vi
sinh vật gây bệnh ở thực vật và thử nghiệm
hoạt tính kháng của chế phẩm sinh học từ cao
chiết cây Thanh ngâm và phức chất
Er(Asp)3phenCl3.3H2O.
2. Vật liệu và phương pháp nghiên cứu
2.1. Vật liệu và hóa chất nghiên cứu
Các mẫu quả trám nếp đen bị thối, nấm được
thu tại Thái Nguyên, lá chè bị nấm thu tại
Yên Bái, quả quýt bị thối, nấm thu tại Bắc
Sơn, Lạng Sơn.
Hóa chất sử dụng trong thí nghiệm đều ở dạng
tinh khiết gồm: Cao nấm men (Đức), pepton
(Canada), thạch agrobacto (Merk), NaCl (Trung
Quốc), Glucose, Khoai tây (Việt Nam)...
Các thí nghiệm được thực hiện tại phòng thí
nghiệm của Khoa Sinh học, Trường Đại học
Sư phạm - Đại học Thái Nguyên.
2.2. Phương pháp nghiên cứu
Phương pháp phân lập vi khuẩn gây bệnh ở
thực vật [7]
Cân 1 g mẫu bị bệnh, nghiền mẫu và cho vào
bình nón 50 ml chứa 9 ml nước cất vô trùng,
hòa tan mẫu. Dùng pipet vô trùng hút 0,5 ml
dịch mẫu sang ống nghiệm có chứa 4,5 ml
nước vô trùng và tiếp tục pha loãng đến 10-2,
10-3...10-6. Từ mỗi nồng độ pha loãng, nhỏ 0,1
ml dịch mẫu sang đĩa petri chứa môi trường
LB đặc. Dùng que gạt vô trùng chang đều, sau
đó nuôi ở nhiệt độ 37oC. Sau 4-7 ngày, các
khuẩn lạc xuất hiện và được tách nuôi riêng
Phạm Thị Thanh Nhàn và Đtg Tạp chí KHOA HỌC & CÔNG NGHỆ ĐHTN 225(08): 245 - 251
Email: jst@tnu.edu.vn 247
đến khi thu nhận được khuẩn lạc đồng nhất về
mặt hình thái, màu sắc. Các mẫu khuẩn thu
được được nhuộm Gram để phân loại.
Phương pháp phân lập nấm gây bệnh ở thực
vật [8]
Từ các mẫu thực vật bị thối, có nấm mọc
được thu về để phân lập nấm. Dùng que cấy
vô trùng lấy các sợi nấm mọc trên mẫu và cấy
ria trên đĩa môi trường PDA, để vào tủ ấm 3-4
ngày ở nhiệt độ 30°C. Thí nghiệm được thực
hiện nhiều lần để tạo thành chủng nấm đồng
nhất về hình thái và màu sắc trên đĩa thạch.
Phương pháp tạo cao chiết từ cây Thanh
ngâm (Picria felterrae Lour) [9]
Thanh ngâm còn có tên gọi khác là Mật đất,
Thằm ngăm đất, thuộc họ Hoa mõm chó
(Scrophulariaceae), có thành phần hóa học
chính là glucosid. Cây Thanh ngâm có tác
dụng chống viêm: Viêm họng, viêm tuyến
hạch, viêm phổi và viêm bạch hầu.
Rễ, thân, lá cây Thanh ngâm được rửa sạch,
để ráo nước, sau đó đem sấy khô ở 50oC đến
khối lượng không đổi. Nguyên liệu sau khi
sấy khô sẽ được nghiền chung các bộ phận
thành bột dạng mịn. Bột khô được pha với
dung môi ethanol (tỉ lệ 20 g: 100 ml), sau đó
cho vào máy lắc với tần số 200 vòng/phút.
Sau các khoảng thời gian khác nhau (48 và 72
giờ), hỗn hợp được lọc qua giấy lọc, 80 ml
dịch lọc được cô đặc bằng máy sấy khô ở
nhiệt độ 50-70oC đến khi có khối lượng khô
không đổi, và được bảo quản ở 4oC để sử
dụng trong các nghiên cứu về khả năng kháng
nấm và kháng vi khuẩn.
Pha cao chiết: Các nồng độ hoạt chất sinh học
được sử dụng để khảo sát hoạt tính kháng vi
sinh vật gây bệnh ở thực vật là 150 g/l và 200
g/l. Mỗi nồng độ cao chiết được hòa tan bằng
cách lắc với dung môi DMS (Dimethyl
Sulfoxide) trong 48 giờ (kí hiệu tương ứng là
M1, M2) và 72 giờ (kí hiệu M3, M4).
Phương pháp thử hoạt tính kháng vi khuẩn bằng
phương pháp khuếch tán trên đĩa thạch [8]
Dùng pipetman hút 50 µl vi khuẩn mỗi loại
(mật độ tế bào 106 tế bào/ml), sau đó chang
đều trên đĩa LB đặc đã khô ổn định cho đến
khi khô bề mặt. Đục 4-5 giếng trên môi
trường thạch với đường kính 7,5 mm (hoặc 9
mm), mỗi giếng cách nhau 2-3 cm. Mỗi giếng
thạch được nhỏ 100 μl các dịch chiết hoặc
phức chất Er(Asp)3phenCl3.3H2O ở các nồng
độ 10 μg/ml (H); 30 μg/ml (F); 50 μg/ml (G).
Sử dụng đối chứng là dung môi DMS và nước
cất (đã khử trùng). Các đĩa thạch được đặt
trong tủ lạnh 4oC trong 4-8 giờ để dịch chiết
khuếch tán ra môi trường nuôi cấy vi khuẩn,
sau đó nuôi cấy trong tủ ấm 37oC. Sau 24 giờ,
các đĩa khuẩn được lấy ra để đo kích thước
vòng vô khuẩn. Hoạt tính kháng khuẩn được
xác định bằng cách đo kích thước vòng vô
khuẩn (ΔD) bằng công thức: ΔD = D – d
Trong đó: D: là đường kính vòng vô khuẩn;
d: là đường kính giếng thạch; ΔD ≥ 25 mm:
hoạt tính rất mạnh; ΔD ≥ 20 mm: hoạt tính
mạnh; ΔD ≥ 10 mm: hoạt tính trung bình; ΔD
< 10 mm: hoạt tính yếu.
Phương pháp thử hoạt tính kháng nấm với
cao chiết từ cây Thanh ngâm (Picria felterrae
Lour) [10]
Các thao tác được thực hiện trong tủ cấy vô
trùng. Dịch cao chiết cây Thanh ngâm được
bổ sung vào 20 ml môi trường PDA ở 40°C,
trộn đều và đổ vào mỗi đĩa petri. Khoanh nấm
bệnh từ thực vật được nuôi 4 ngày tuổi được
đặt ngay chính giữa mặt đĩa môi trường và ủ
ở 30oC. Sau 3-5 ngày kiểm tra sự sinh trưởng
bằng cách đo đường kính tản nấm với thước
kẻ có phân độ mm. Thí nghiệm đối chứng
được tiến hành song song. Hoạt tính ức chế
tương đối sinh trưởng nấm của cao chiết cây
Thanh ngâm được tính theo công thức:
Trong đó: I là phần trăm ức chế sinh trưởng
nấm; SĐC: là diện tích tản nấm trên môi trường
PDA không chứa enzyme (cm); SST: là diện
tích tản nấm trên môi trường PDA chứa dịch
enzyme (cm).
3. Kết quả và bàn luận
Phạm Thị Thanh Nhàn và Đtg Tạp chí KHOA HỌC & CÔNG NGHỆ ĐHTN 225(08): 245 - 251
Email: jst@tnu.edu.vn 248
3.1. Kết quả từ phân lập vi sinh vật gây bệnh
Kết quả phân lập vi khuẩn gây bệnh bằng
phương pháp nhuộm Gram
Từ các mẫu chè, quýt và trám bị bệnh thu
thập ở các nơi khác nhau, sau khi cấy trải trên
đĩa thạch có chứa môi trường LB đã thu được
các khuẩn lạc khác nhau về màu sắc và hình
thái. Mỗi khuẩn lạc cấy sang một đĩa khác.
Sau 3 ngày nuôi cấy ở 37°C, mỗi đĩa LB sẽ có
từng chủng vi khuẩn thuần chủng phát triển.
Kết quả thu được 05 khuẩn lạc với các đặc
điểm hình thái và màu sắc khác nhau gồm
khuẩn chè C, khuẩn quýt Q1, khuẩn quýt Q2,
khuẩn trám T, khuẩn trám T2.
Sau khi phân lập được các chủng vi khuẩn
thuần chủng, chúng tôi tiến hành nhuộm
Gram để phân loại. Kết quả cho thấy có 4
chủng thuộc nhóm Gram âm là các chủng:
khuẩn chè C (Hình 1.A), khuẩn quýt Q2
(Hình 1.B), khuẩn trám T1 (Hình 1.C), khuẩn
trám T2 (Hình 1.D) và có 1 chủng thuộc
nhóm Gram dương là chủng khuẩn quýt Q1
(Hình 1.E).
Kết quả phân lập nấm gây bệnh
Từ mẫu chè bị bệnh, sau khi cấy trải trên đĩa
thạch có chứa môi trường PDA đã thu được
các khuẩn lạc khác nhau về màu sắc. Kết quả
chúng tôi được 02 mẫu nấm đồng nhất (Hình
2). Hai chủng nấm chè thu được có đặc điểm
hình thái sơ bộ khác nhau. Nấm chè N1 có sợi
màu trắng phía trên sợi nấm khí sinh hình
thành bào tử trần (Hình 2.A). Đối với nấm
chè N2 sợi nấm màu nâu, bào tử trên đỉnh
cuống dính liền có màu trắng (Hình 2.B).
(A) (B) (C) (D) (E)
Hình 1. Hình ảnh nhuộm Gram các chủng khuẩn từ các mẫu bị bệnh
A: Khuẩn chè C; B: Q2; C: Khuẩn trám T1; D: Khuẩn trám T2; E: Khuẩn quýt Q1
(A) (B)
Hình 2. Hình ảnh phân lập các chủng nấm từ mẫu chè bị bệnh
A: Nấm chè N1; B: Nấm chè N2
3.2. Kết quả thử hoạt tính kháng vi khuẩn gây bệnh của cao chiết cây Thanh ngâm
Kết quả về thử hoạt tính kháng khuẩn của cao chiết cây Thanh ngâm với vi khuẩn Q2
Kết quả về thử hoạt tính kháng khuẩn của cao chiết cây Thanh ngâm ở các nồng độ khác nhau
trên chủng khuẩn Q2 được thể hiện ở bảng 1. Trong nghiên cứu này, hoạt tính kháng vi khuẩn
được đánh giá qua vòng ức chế vi sinh vật được tạo ra xung quanh các giếng trên đĩa thạch có bổ
sung dịch chiết thử. Quan sát kết quả thí nghiệm, chúng tôi nhận thấy hoạt động các chất làm đối
chứng (nước cất, dung môi DMS) hoàn toàn không có vòng ức chế vi sinh vật xuất hiện. Tuy
nhiên, cao chiết cây Thanh ngâm bằng ethanol có khả năng ức chế chủng khuẩn Q2 phát triển.
Các chủng khuẩn khác vẫn phát triển trên môi trường có cao chiết.
Phạm Thị Thanh Nhàn và Đtg Tạp chí KHOA HỌC & CÔNG NGHỆ ĐHTN 225(08): 245 - 251
Email: jst@tnu.edu.vn 249
Bảng 1. Hoạt tính ức chế chủng khuẩn Q2
Mẫu Đường kính vòng vô khuẩn (mm)
M1 10,5
M2 12,5
M3 12,5
M4 14,5
DMS (-)
H2O (-)
Ghi chú:
- Đường kính vùng ức chế (ΔD) = D - d (với d= 9
mm). Các giá trị đường kính vùng ức chế sinh
trưởng của vi khuẩn được tính trung bình của 3
lần lặp lại thí nghiệm.
- Kí hiệu (-): Vi khuẩn không bị ức chế
Đối với dịch được chiết bằng ethanol sau 48
giờ, dịch chiết có nồng độ 150 g/l (M1) và
200 g/l (M2) có hoạt tính ức chế trung bình
với chủng khuẩn Q2. Đường kính vòng vô
khuẩn lần lượt là 10,5 mm và 12,5 mm (Hình
3.A và bảng 1).
Đối với dịch được chiết bằng ethanol sau 72
giờ, dịch chiết có nồng độ 150 g/l (M3) và
200 g/l (M4) có hoạt tính ức chế trung bình
với chủng khuẩn Q2. Đường kính vòng vô
khuẩn lần lượt là 12,5 mm và 14,5 mm (Hình
3.B và bảng 1).
Như vậy, cùng một nồng độ nhưng trong điều
kiện thời gian chiết bằng ethanol khác nhau
thì sự ức chế vi khuẩn của các mẫu khác
nhau, theo thứ tự tăng dần là: ĐC < M1 < M2,
M3 < M4. Kết quả này cho thấy, cao chiết
Thanh ngâm có khả năng ức chế sự phát triển
vi khuẩn Q2 mạnh nhất ở nồng độ 200 g/l
được chiết bằng ethanol trong 72 giờ.
Theo hướng nghiên cứu này, Đái Thị Xuân
Trang và đồng tác giả (2015) đã chứng minh
hoạt tính kháng khuẩn E. coli của cao
methanol cây Hà thủ ô trắng ở nồng độ 16
µg/ml (kính vòng kháng khuẩn đạt 25,3 mm)
[11]. Trong khi, cao chiết của lá Chiêu diêu
nghệ (Terminalia nigrovenulosa) ức chế vi
khuẩn E. coli ở nồng độ 312 µg/ml [9].
A B
Hình 3. Vòng vô khuẩn của dịch chiết cây Thanh
ngâm với chủng khuẩn Q2
M1: Vòng vô khuẩn mẫu 1; M3: Vòng vô khuẩn mẫu 3
M2: Vòng vô khuẩn mẫu 2; M4: Vòng vô khuẩn mẫu 4
Kết quả thử hoạt tính kháng của cao chiết cây
Thanh ngâm với nấm chè N1
Trên đĩa đối chứng, sợi nấm của chủng nấm
chè N1 phát triển với đường kính là 2,3 cm.
Trong khi, ở đĩa có bổ sung dịch chiết cao cây
Thanh ngâm ở nồng độ M3; M4 thì có đường
kính sợi nấm phát triển chủng nấm N1 lần
lượt là 1,5 cm và 0,9 cm. Như vậy, dịch chiết
cây Thanh ngâm có khả năng ức chế chủng
nấm chè N1, hoạt tính ức chế lần lượt đạt
34,7% và 60,86% (Hình 4).
(A) (B) (C)
Hình 4. Kết quả hoạt tính kháng nấm chè N1 của cây Thanh Ngâm
(A): Đối chứng; (B): đường kính nấm N1 ở nồng độ M3; (C): đường kính nấm N1 ở nồng độ M4
Kết quả thử hoạt tính với phức chất Er(Asp)3phenCl3.3H2O
Trong phạm vi của đề tài, hoạt tính kháng vi sinh vật gây bệnh được đánh giá thông qua vòng ức
chế được tạo ra xung quanh các giếng trên đĩa thạch có bổ sung phức chất. Kết quả thí nghiệm
cho thấy, giếng của các chất làm đối chứng hoàn toàn không có vòng ức chế vi sinh vật xuất hiện.
Kết quả thử hoạt tính kháng 5 chủng vi sinh vật phân lập được (Bảng 2) cho thấy, phức chất
Er(Asp)3phenCl3.3H2O có khả năng ức chế cả 5 chủng (khuẩn chè C, khuẩn trám T1, khuẩn trám
T2, khuẩn quýt Q1, khuẩn quýt Q2).
Phạm Thị Thanh Nhàn và Đtg Tạp chí KHOA HỌC & CÔNG NGHỆ ĐHTN 225(08): 245 - 251
Email: jst@tnu.edu.vn 250
Bảng 2. Hoạt tính ức chế 5 chủng vi sinh vật của phức chất
Nồng độ
(µg/ml)
Đường kính vòng vô khuẩn (cm)
Khuẩn chè C Khuẩn trám T1 Khuẩn trám T2 Khuẩn quýt Q1 Khuẩn quýt Q2
10 0,9 1,2 1,4 1,2 2,1
30 1,4 1,6 1,6 2,2 2,6
50 1,6 1,8 1,8 2,5 2,8
H2O (-) (-) (-) (-) (-)
Ghi chú:
- Đường kính vùng ức chế ΔD = D - d (với d= 0,9 cm). Các giá trị đường kính vùng ức chế sinh trưởng của
vi khuẩn được tính trung bình của 3 lần lặp lại thí nghiệm.
- Kí hiệu (-): Vi khuẩn không bị ức chế
A B C D E
Hình 5. Vòng vô khuẩn của phức Er(ASP)3phenCl3.3H2O với:
(A): khuẩn chè C; (B): khuẩn trám T1; (C): khuẩn trám T2; (D): khuẩn quýt Q1; (E): khuẩn quýt Q2
Đối với khuẩn chè C, phức chất có nồng độ
10 μg/ml (H) có hoạt tính ức chế yếu (đường
kính vòng vô khuẩn là 0,9 cm), ở nồng độ 30
μg/ml (F) và 50 μg/ml (G) có khả năng ức chế
trung bình (đường kính vòng vô khuẩn lần
lượt là 1,4; 1,6 cm) (Hình 5.A).
Đối với khuẩn trám T1, phức chất có nồng độ
10 μg/ml (H); 30 μg/ml (F) và 50 μg/ml (G) có
hoạt tính trung bình (đường kính vòng vô khuẩn
lần lượt là 1,2; 1,6 và 1,8 cm) (Hình 5.B).
Đối với khuẩn trám T2, phức chất có nồng độ
10 μg/ml (H); 30 μg/ml (F) và 50 μg/ml (G)
có hoạt tính ức chế trung bình (đường kính
vòng vô khuẩn lần lượt là 1,4; 1,6; 1,8 cm)
(Hình 5.C).
Đối với khuẩn quýt Q1, phức chất có nồng độ
10 μg/ml (H) có hoạt tính ức chế trung bình
(đường kính vòng vô khuẩn là 1,2 cm), ở
nồng độ 30 μg/ml (F) có hoạt tính ức chế
mạnh (đường kính vòng vô khuẩn là 2,2 cm)
và ở nồng độ 50 μg/ml (G) có khả năng ức
chế rất mạnh (đường kính vòng vô khuẩn là
2,5 cm) (Hình 5.D).
Đối với khuẩn quýt Q2, phức chất có nồng độ
10 μg/ml (H) có hoạt tính ức chế mạnh
(đường kính vòng vô khuẩn là 2,1 cm), ở
nồng độ 30 μg/ml (F) và 50 μg/ml (G) có khả
năng ức chế rất mạnh (đường kính vòng vô
khuẩn lần lượt là 2,6 và 2,8 cm) (Hình 5.E).
Khi nghiên cứu về khả năng kháng vi sinh vật
của phức chất, Nguyễn Hữu Quân và cộng sự
đã chứng minh phức chất
Tb(Asp)3PhenCl3.3H2O ở nồng độ từ 20
µg/ml ức chế sự phát triển của vi khuẩn B.
Subtilis, S. macescens. Trong khi, ở nồng độ
40-60 µg/ml phức chất lại kích thích sự phát
triển của vi khuẩn B. Subtilis. Nghiên cứu của
Vũ Trọng Lượng và đồng tác giả (2015) nhận
thấy, prodigiosin có khả năng ức chế 75%
nấm R. solani và F. oxysporum ở nồng độ 40
µg/ml [6]. So sánh hoạt tính kháng vi khuẩn
cho thấy, nồng độ ức chế phát triển của phức
chất thấp hơn nhiều so với cao chiết cây
Thanh ngâm.
4. Kết luận
Kết quả phân lập được 05 chủng vi khuẩn và
02 chủng nấm gây bệnh ở chè, quýt và trám
nếp đen. Cao chiết từ các bộ phận cây Thanh
ngâm (Picria felterrae Lour) bằng ethanol
trong 72 giờ có khả năng ức chế chủng vi
khuẩn Q2 ở quýt (nồng độ 200 g/l) và
chủng nấm N1 ở chè (nồng độ 150 g/l).
Phạm Thị Thanh Nhàn và Đtg Tạp chí KHOA HỌC & CÔNG NGHỆ ĐHTN 225(08): 245 - 251
Email: jst@tnu.edu.vn 251
Phức chất Er(Asp)3phenCl3.3H2O (nồng độ
10 μg/ml) có khả năng ức chế 5 chủng vi
khuẩn phân lập được gồm: vi khuẩn C1 ở
chè, vi khuẩn T1 và T2 ở trám, vi khuẩn Q1
và Q2 ở quýt.
Lời cảm ơn
Các tác giả xin trân trọng cảm ơn sự hỗ trợ
kinh phí từ Đề tài nghiên cứu khoa học cấp đại
học (mã số ĐH2018- TN04- 02).
TÀI LIỆU THAM KHẢO/ REFERENCES
[1]. S. Reuter, S. C. Gupta, M. M.
Chaturvedi, and B. B. Aggarwal, “Oxidative
stress, inflammation, and cancer: How are
they linked?,” Free Radic Biol Med. 1, vol.
49, no. 11, pp. 1603-1616, 2010.
[2]. V. C. Vo, Vietnam medicinal plant dictionary.
Medicine Publishing House, 1997.
[3]. T. V. H. Bui, “Study on actinomycetes
synthesizing antibiotics against plant
pathogenic fungi in Vietnam,” PhD thesis in
biology, VNU University of Science, 2006.
[4]. R. W. Mwanauta, K. M. Mtei, and P. A.
Ndakidemi, “Potential of Controlling
Common Bean Insect Pests (Bean Stem
Maggot (Ophiomyia phaseoli), Ootheca
(Ootheca bennigseni) and Aphids (Aphis
fabae)) Using Agronomic, Biological and
Botanical Practices in Field,” Agricultural
Sciences, vol. 06, no. 05, pp. 489-497, 2015.
[5]. D. Pimentel, H. Acquay, M. Biltomen, P.
Rice, M. Silva, J. Nelson, V. Lipner, S.
Giordana, A. Horowitz, and M. D’amore, The
Pesticide Question: Assesment of
environmentsal and economic impacts of
pesticide use. Springer, Boston, MA
Publisher, 1993, pp. 47-84.
[6]. H. Q. Nguyen, Study on effect of complexes
and enzyme systems on the growth ability of
some pathogenic microorganisms, Report of
technological and scientific project at the
grassroots level, Thai Nguyen University of
Education, 2016.
[7]. T. M. D. Vu, Microbiology Practice. Vietnam
National University Press, 2001.
[8]. F. Hadacek, and H. Greger, "Testing of
antifungal natural products: methodologies,
comparability of results and assay choice,"
Phytochem Anal., vol. 11, pp. 137-147, 2000.
[9]. V. N. Quang, and B. E. Jong, "Antimicrobial
activity of some Vietnamese medicinal plants
extracts," Journal of Medicinal Plants
Research, vol. 7, no. 35, pp. 2597-2605, 2013.
[10] J. Huber, H. Bochow, and H. Junge,
"Selektion und biotechnische Herstellung von
Kulturlösungen mikrobieller Antagonisten zur
Unterdrückung phytopathogener Bodenpilze,"
Journal of Basic Microbiology, vol. 27, no. 9,
pp. 497-503, 1987.
[11]. T. X. T. Dai, H. B. N. Lam, and T. T. A. Vo,
"Studies on antibacterial and antioxidant
activities of methanolic extract from Streptocaulon
juventas Merr," Can Tho University Journal of
Science, vol. 40, pp. 1-6, 2015.
Các file đính kèm theo tài liệu này:
nghien_cuu_phan_lap_mot_so_vi_sinh_vat_gay_benh_o_thuc_vat_v.pdf