Từ Bảng 7 cho biết hàm ẩm của sản phẩm trà hòa tan là 1,35% đây là hàm ẩm thấp. Hàm ẩm thấp giúp hạn chế sự xâm nhập của vi sinh vật, kéo dài thời gian bảo quản. Tuy nhiên cần bảo quản sản phẩm trong bao bì kín, được hút chân không và hàn mép kín giúp hạn chế nhiễm các vi sinh vật gây hại cho sản phẩm. Hàm lượng tro trong sản phẩm nhằm cung cấp lượng khoáng cho cơ thể. So sánh với tiêu chuẩn TCVN 9739:2013 nhận thấy sản phẩm trà sung nằm trong giới hạn cho phép của tiêu chuẩn, đồng thời trong trà có hoạt tính sinh học nên giàu giá trị dinh dưỡng, thích hợp dùng để hỗ trợ sức khỏe con người, đồng thời là tiền đề giúp cho việc ứng dụng quả sung vào chế biến nhiều sản phẩm có ích cho sức khỏe. 3.7.3. Đánh giá chất lượng vi sinh Sản phẩm được gửi mẫu kiểm tra tại Trung tâm dịch vụ phân tích thí nghiệm CASE TP.Hồ Chí Minh thuộc Sở Khoa học và Công nghệ TP.Hồ Chí Minh. Qua Bảng 8, nhận thấy rằng sản phẩm trà hòa tan từ quả sung không phát hiện sự có mặt của Escherichia coli, Salmonella và Staphylococcus aureus chứng tỏ rằng sản phẩm không bị nhiễm vi khuẩn sau quá trình chế biến nên sẽ không gây độc tố làm ảnh hưởng sức khỏe người tiêu dùng. Chỉ tiêu kiểm nghiệm Coliforms và tổng số nấm men- nấm mốc đều có kết quả < 10 CFU/g có ý nghĩa là trong mẫu trà hòa tan khi tiến hành kiểm nghiệm thì không có khuẩn lạc mọc trên đĩa. Chỉ tiêu vi sinh vật hiếu khí nằm trong giới hạn cho phép <104 CFU/g. Theo những kết quả trên, sản phẩm đã đạt chỉ tiêu vi sinh vật, vì vậy cần bảo quản nghiêm ngặt giúp hạn chế sự phát triển của vi sinh vật, giảm nguy cơ hư hỏng sản phẩm. 4. Kết luận Nghiên cứu bước đầu xây dựng quy trình sản xuất trà sung hòa tan với nguyên liệu là quả sung tươi. Từ nguyên liệu quả sung đều có khả năng ức chế enzyme α-glucosidase, khả năng kháng oxy hóa với giá trị lần lượt là 128.6µg/mL và 186.4µg/mL và kháng khuẩn. Trà sung cũng có khả năng ức chế enzyme α- glucosidase, khả năng kháng oxy hóa với giá trị lần lượt là 54.32mg/mL và 61.48mg/mL. Vì vậy, việc ứng dụng quả sung vào chế biến các sản phẩm thực phẩm là rất có lợi cho sức khỏe con người, góp phần đa dạng hóa sản phẩm thực phẩm chức năng trên thị trường
11 trang |
Chia sẻ: hachi492 | Lượt xem: 1 | Lượt tải: 0
Bạn đang xem nội dung tài liệu Nghiên cứu quy trình chế biến và hoạt tính sinh học của trà hòa tan từ quả sung (ficus racemosa linn), để tải tài liệu về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
44 Đỗ Thị Ngọc Mai và cộng sự. Tạp chí Khoa học Đại học Mở Thành phố Hồ Chí Minh, 14(4), 44-54
NGHIÊN CỨU QUY TRÌNH CHẾ BIẾN VÀ HOẠT TÍNH SINH HỌC
CỦA TRÀ HÒA TAN TỪ QUẢ SUNG (Ficus racemosa Linn)
ĐỖ THỊ NGỌC MAI1, HUỲNH THỊ KIM TRINH1, BÙI THANH TÙNG1,
PHẠM ĐOÀN MẪN1, và NGUYỄN THỊ LỆ THỦY1,*
1Trường Đại học Mở Thành phố Hồ Chí Minh
*Email: thuy.ntl@ou.edu.vn
(Ngày nhận: 13/05/2019; Ngày nhận lại: 10/06/2019; Ngày duyệt đăng: 11/06/2019)
TÓM TẮT
Sung (Ficus racemosa Linn.) được trồng phổ biến ở Việt Nam, quả của nó có nhiều tác dụng
dược lý. Nghiên cứu này đề cập các yếu tố ảnh hưởng đến quá trình chế biến trà sung hòa tan cũng
như khảo sát hoạt tính kháng oxy hóa, ức chế enzyme α-glucosidase và kháng khuẩn của sản phẩm.
Trà sung hòa tan được thu từ quả sung thông qua quá trình xử lý: sao, trích ly, cô đặc, phối trộn
và sấy thăng hoa. Chất lượng sản phẩm trà sung hòa tan được đánh giá dựa trên các phương pháp
hóa lý, vi sinh và cảm quan. Kết quả: Quy trình thích hợp cho chế biến trà hòa tan quả sung: Sung
được sao ở nhiệt độ 80oC trong 10 phút, quá trình trích ly sung được thực hiện ở 70oC trong 90
phút với tỉ lệ sung và nước là 1:7 (g/mL), dịch trích được cô đặc ở nhiệt độ 70oC trong 90 phút,
sau đó phối trộn 25% maltodextrin và tiến hành sấy thăng hoa để tạo thành sản phẩm trà hòa tan.
Trà sung hòa tan có khả năng ức chế enzyme α-glucosidase và kháng oxy hóa với giá trị IC50 lần
lượt là 54,32mg/mL và 61,48mg/mL.
Từ khóa: Ficus racemosa Linn; Hoạt tính kháng oxy hóa; Hoạt tính ức chế α-glucosidase;
Trà hòa tan
Factors influencing the processing and biological activities of soluble instant tea of Ficus
racemosa Linn fruits
ABSTRACT
Introduction: Ficus racemosa Linn. has widely grown in Vietnam, its fruits have multiple
pharmacological uses. The study investigates factors affecting the processing of soluble instant tea
of Ficus racemosa fruit and evaluates the α-glucosidase inhibitory, antioxidant and antibacterial
activities. Soluble instant tea of F.racemosa was obtained from F.racemosa fruits through the
following process: drying, extracting, concentrating, mixing and freeze-drying. The quality of the
soluble instant tea was evaluated by physicochemical, microbiological and food sensory analysis
methods. Results: Proper process for making the soluble instant tea of F. racemosa fruit: the fruits
were dried at 80 oC in 10 minutes and ground into powder. The powder was extracted with a ratio
of powder to water available at 1:7 (g/mL), then concentrated at 700C in 90 minutes, mixed with
25% maltodextrin and finally freeze-dried in order to obtain the product. The soluble tea has the
α-glucosidase inhibitory and antioxidant activities with IC50 values of 54,32 mg/mL and 61,47
mg/mL, respectively.
Keywords: Ficus racemosa Linn; α-glucosidase inhibitory activity; Antioxidant activity;
Soluble tea
Đỗ Thị Ngọc Mai và cộng sự. Tạp chí Khoa học Đại học Mở Thành phố Hồ Chí Minh, 14(4), 44-54 45
1. Giới thiệu
Sung (Ficus racemosa Linn.) là một cây
dược liệu quan trọng thuộc chi Ficus, họ Dâu
tằm (Moraceae). Trong dân gian, quả sung
được sử dụng như một loại thực phẩm giàu
dinh dưỡng vì trong quả chứa nhiều chất
khoáng, chất xơ, vitamin và các acid béo thiết
yếu cho cơ thể. Bên cạnh đó, quả sung còn
được sử dụng để chữa một số bệnh như táo
bón, viêm loét dạ dày, hen suyễn, viêm khớp,
béo phì, v.v.... (Sartaj, 2010). Nhiều hợp chất
tự nhiên có hoạt tính sinh học được cô lập
từ các bộ phận khác nhau (lá, quả, cành,
vỏ thân, rễ) của loài cây này như flavonoid
(Keshari et al., 2016), alkaloid, steroid,
saponin, coumarin, tannin, triterpenoid (Shah
et al., 2016). Ngoài ra, nhiều nghiên cứu trước
cũng đã công bố sung có nhiều hoạt tính sinh
học bao gồm khả năng diệt nấm, gây độc tế
bào, kháng viêm (anti-inflammatory), kháng
oxy hóa, giảm đau, giải nhiệt, hạ đường huyết.
Hiện nay trên thị trường các dòng sản phẩm từ
quả sung đã có mặt như quả sung sấy khô, sấy
dẻo,.. và theo sự tìm hiểu thì trên thị trường
chưa có sản phẩm trà sung và công dụng dược
lý của sản phẩm cũng chưa được nghiên cứu.
Chính vì vậy việc nghiên cứu tạo ra sản phẩm
trà hòa tan quả sung một sản phẩm tiện lợi và
nhanh gọn cung cấp chất dinh dưỡng, góp phần
đa dạng hóa các sản phẩm chức năng. Mục tiêu
của báo cáo này là nghiên cứu một số yếu tố
ảnh hưởng đến quá trình chế biến trà hòa tan
từ quả sung và khảo sát hoạt tính kháng oxy
hóa cũng như hoạt tính ức chế enzyme α-
glucosidase của trà thành phẩm.
2. Vật liệu và phương pháp nghiên cứu
2.1. Vật liệu nghiên cứu
Quả sung (Ficus racemosa Linn.) được
thu hái tại Thành phố Thủ Dầu Một – tỉnh
Bình Dương, thời gian thu hái từ tháng
9/2018. Tên khoa học của cây được định danh
bởi ThS. Hoàng Việt tại Phòng thí nghiệm
Thực vật, Khoa Sinh học – Công Nghệ Sinh
Học, Trường Đại học Khoa học Tự nhiên
Thành phố Hồ Chí Minh.
Hình 1. Quả sung (Ficus racemosa Linn.)
2.2. Hóa chất và thiết bị
Hóa chất
- NaOH, AlCl3, thuốc thử Fehling,
Pb(CH3COO)2, K2C2O4 , HCl, K3Fe(CN)6,
ZnSO4- KI, Fe2(SO4)3 , môi trường MHA, cồn
960, acid ascorbic, maltodextrin : đạt mức độ
tinh khiết phân tích (Việt Nam).
- DMSO, thuốc thử Folin-Ciocalteu
(Merck).
- DPPH, enzyme α- glucosidase, acarbose,
cơ chất p- Nitrophenyl-α-D- glucopyranoside
(Aldrich Sigma).
Thiết bị
Các thiết bị trong phòng thí nghiệm: tủ
sấy, lò nung, thiết bị lọc chân không, thiết bị cô
quay, cân phân tích, máy quang phổ hấp thụ,
máy ly tâm, máy sấy thăng hoa.
2.3. Phương pháp nghiên cứu
2.3.1. Phương pháp xác định hàm lượng
polyphenol
Hàm lượng polyphenol được xác định theo
phương pháp sử dụng thuốc thử Folin-
ciocalteu được mô tả bởi Aiyegoro và Okoh
(Singleton và cộng sự 1999). 500L dung dịch
thí nghiệm tại các nồng độ khác nhau trong
ethanol được trộn với 250L thuốc thử Folin-
ciocalteu. Sau 5 phút, thêm tiếp 1mL dung dịch
Na2CO3 bão hòa, để yên trong bóng tối ở nhiệt
độ phòng trong 15 phút. Sau đó, mẫu thí
nghiệm được đem đi đo độ hấp phụ tại bước
sóng 760nm. Hàm lượng polyphenol được tính
toán dựa trên đồ thị chuẩn của acid gallic, và
được thể hiện như số mg acid gallic (GAE)
trong 1 gram mẫu. Kết quả thí nghiệm là giá trị
46 Đỗ Thị Ngọc Mai và cộng sự. Tạp chí Khoa học Đại học Mở Thành phố Hồ Chí Minh, 14(4), 44-54
trung bình của 3 lần lặp lại.
2.3.2. Phương pháp xác định hàm lượng
flavonoid
Hàm lượng flavonoid được định lượng
theo phương pháp aluminium trichloride được
mô tả bởi Chang và cộng sự (2002). 125L
dung dịch thí nghiệm tại các nồng độ khác nhau
trong methanol được trộn với 75L dung dịch
NaNO2 5%. Hỗn hợp này được để yên trong 5
phút, sau đó thêm 150L dung dịch AlCl3 10%,
ủ trong 5 phút, tiếp tục cho thêm 750L NaOH
1M. Tiếp theo, hỗn hợp dung dịch được định
mức đến 2500L bằng nước cất và được ủ ở
nhiệt độ phòng trong 15 phút để hỗn hợp
chuyển thành màu hồng. Sau đó, mẫu thí
nghiệm được đem đi đo độ hấp phụ tại bước
sóng 425 nm. Hàm lượng flavonoid toàn phần
được tính toán dựa trên đồ thị chuẩn của
quercetin, và được thể hiện như số mg
quercetin (QE) trong 1 gram mẫu. Kết quả thí
nghiệm là giá trị trung bình của 3 lần lặp lại.
2.3.3. Phương pháp xác định khả năng
kháng oxy hóa
Hoạt tính kháng oxy hóa được đánh giá
dựa trên khả năng đánh bắt gốc tự do DPPH
theo phương pháp được mô tả bởi Goldschmidt
và Ren (Armstrong 2002). 100µL dung dịch
mẫu thí nghiệm được pha trong ethanol tại các
nồng độ khác nhau (từ 75 đến 200µg/mL) và
100µL dung dịch DPPH 0.2 mM, được trộn
đều và ủ trong bóng tối trong 30 phút tại nhiệt
độ phòng. Sau đó, mẫu thí nghiệm được đem
đi đo độ hấp phụ tại bước sóng 517nm. Acid
ascorbic được sử dụng làm mẫu đối chứng
dương. Phần trăm đánh bắt gốc tự do DPPH
được tính theo phương trình:
% Ức chế gốc tự do =
Acontrol−Asample
Acontrol
x 100
Khả năng kháng oxy hóa được đánh giá
bằng giá trị IC50 là nồng độ mẫu mà tại đó có
50% gốc tự do bị ức chế, được tính toán dựa
trên phương pháp hồi quy từ đồ thị tương quan
giữa % ức chế gốc tự do với nồng độ chất ức
chế. Kết quả thí nghiệm là giá trị trung bình của
3 lần lặp lại.
2.3.4. Phương pháp xác định khả năng ức
chế enzyme α-glucosidase
Khả năng ức chế enzyme α-glucosidase
được đánh giá theo phương pháp của
Apostolidis và cộng sự (2007). Một hỗn hợp
phản ứng chứa 60µL dung dịch đệm phosphate
100 mM ( pH=6.8), 20µL mẫu thí nghiệm
(tại các nồng độ khác nhau) và 100µL
dung dịch p-nitrophenyl--D-glucopyranoside
200µM (trong dung dịch đệm phosphate
100mM), được ủ trong các đĩa 96 giếng ở 370C
trong 10 phút. Tiếp theo, thêm vào hỗn hợp
20µL dung dịch α-glucosidase 0.3U/mL pha
trong đệm phosphate. Hỗn hợp phản ứng được
ủ ở 370C trong 10 phút. Sau đó, phản ứng được
dừng bằng cách thêm 20µL dung dịch NaOH
50mM. Độ hấp thụ của mẫu thí nghiệm được
đo ở bước sóng 405nm và được so sánh với
mẫu đối chứng bằng cách thay thế 20µL dung
dịch mẫu thí nghiệm bằng dung dịch đệm
phosphate. Acarbose đã được sử dụng làm mẫu
đối chứng dương.
Khả năng ức chế enzyme α-glucosidase
được biểu thị bằng giá trị % ức chế và được
tính theo phương trình:
%Ức chế α-glucosidase=
Acontrol−Asample
Acontrol
x 100
Nồng độ ức chế (IC50) của các mẫu thí
nghiệm được tính dựa trên phương pháp hồi
quy từ đồ thị tương quan giữa % ức chế enzyme
α-glucosidase với nồng độ chất ức chế.
2.3.5. Phương pháp xác định khả năng
kháng khuẩn
Khả năng kháng khuẩn được đánh giá theo
phương pháp của Mahesh và cộng sự (2008),
được xác định dựa vào sự hình thành vòng
kháng khuẩn được tạo ra trên đĩa petri. Dịch vi
khuẩn (E.coli và Salmonella) với nồng độ 108
CFU/ml được trải đều trên bề mặt đĩa môi
trường MHA và được để khô trong 15 phút ở
nhiệt độ phòng trong điều kiện vô trùng trước
khi đục giếng. Mẫu thí nghiệm tại các dãy nồng
độ khác nhau từ 50 đến 200 mg/mL được bơm
vào lỗ thạch đã được đục trên đĩa thạch. Sau đó,
mẫu được ủ trong 24 giờ ở nhiệt độ 370C. Kháng
Đỗ Thị Ngọc Mai và cộng sự. Tạp chí Khoa học Đại học Mở Thành phố Hồ Chí Minh, 14(4), 44-54 47
sinh thương mại ampicillin được sử dụng như
chất đối chứng dương trong thí nghiệm.
2.3.6. Phương pháp phân tích thống kê
Tất cả các thí nghiệm được thực hiện qua
3 lần lặp lại. Kết quả trung bình được trình bày
dựa trên phương pháp phân tích phương sai
(ANOVA) và so sánh sự khác biệt bằng kiểm
định Duncan (ở mức ý nghĩa P<0,05) thông
qua phần mềm thống kê Statgraphics Plus
Professional 16.0.03.
2.3.7. Phương pháp đánh giá cảm quan
Chất lượng cảm quan được đánh giá bằng
phương pháp cho điểm theo TCVN 3215-79.
2.4. Quy trình chế biến trà hòa tan từ
quả sung
Quả sung tươi (Ficus racemosa Linn)
được thu hái về, loại bỏ những quả hư hỏng,
sâu bệnh và rửa sạch. Sung được cắt nhỏ với
kích thước 2x5mm, rồi sao ở khoảng nhiệt độ
từ 60–90oC trong thời gian từ 5–20 phút, tiếp
theo được đem nghiền thành bột mịn. Bột sung
được tiếp tục trích ly với nước ở các tỉ lệ sung
và nước từ 1:3 đến 1:8 (g/mL) tại các nhiệt độ
từ 50–90oC trong thời gian từ 30–150 phút để
thu được hàm lượng chất khô tối ưu. Hỗn hợp
sung sau khi trích ly được lọc để loại bỏ bã và
thu được dịch trích. Tiếp theo, cô đặc dịch trích
để tăng hàm lượng chất khô và phối trộn với
maltodextrin, sau đó hỗn hợp được sấy thăng
hoa tạo thành sản phẩm trà sung hòa tan.
3. Kết quả và thảo luận
3.1. Chất lượng nguyên liệu sung
Quả sung tươi, có kích thước đồng đều,
quả có màu xanh tự nhiên, tiến hành khảo sát
các chỉ tiêu hóa lý để làm cơ cở xây dựng tiêu
chuẩn chất lượng cho nguyên liệu trong quá
trình nghiên cứu. Kết quả phân tích được trình
bày trong Bảng 1.
Bảng 1
Thành phần hóa lý của quả sung
Tiêu chuẩn Kết quả (%)
( Theo nguyên liệu)
Độ ẩm 69,83
Hàm lượng tro toàn phần 5,47
Hàm lượng tro không tan trong HCl 2,16
Hàm lượng đường tổng 0,42
Hàm lượng đường khử 0,25
Hàm lượng polyphenol 1,95
Hàm lượng flavonoid 1,32
3.2. Ảnh hưởng của quá trình sao đến
chất lượng sản phẩm
Sao là quá trình truyền nhiệt trực tiếp giữa
thiết bị và sản phẩm. Quá trình này không
những làm giảm hàm lượng nước trong
nguyên liệu góp phần tiêu diệt vi sinh vật mà
còn làm tăng giá trị cảm quan cho sản phẩm
do các phản ứng sinh hóa diễn ra trong quá
trình. Kết quả của quá trình sao được đánh giá
dựa trên điểm trung bình của chỉ tiêu đánh giá
cảm quan dịch trích trà được trình bày trong
Bảng 2.
48 Đỗ Thị Ngọc Mai và cộng sự. Tạp chí Khoa học Đại học Mở Thành phố Hồ Chí Minh, 14(4), 44-54
Bảng 2
Bảng điểm trung bình chỉ tiêu cảm quan dịch trích trà sau quá trình sao
Nhiệt độ (oC)
Thời gian (phút)
5 10 15 20
60 3,7cd 4,4b 4,0bc 4,4b
70 3,1f 4,0bc 3,9bcd 4,2bc
80 3,4ef 5,0a 4,0bc 3,9bcd
90 4,0bc 4,3b 4,2bc 3,9bcd
(*)Các giá trị trong cùng 1 cột có ký tự giống nhau thì không có sự khác biệt theo thống kê với mức ý nghĩa
α = 0.05.
Qua kết quả cho thấy rằng khi sao mẫu ở
nhiệt độ thấp trong thời gian ngắn thì các phản
ứng tạo màu và tạo các hợp chất hương diễn ra
ở mức độ thấp nên sản phẩm có màu nâu nhạt
và màu thơm nhẹ. Mặt khác, khi tiến hành sao
trong nhiệt độ cao và thời gian dài thì các phản
ứng tạo màu và mùi cho sản phẩm diễn ra mãnh
liệt có thể dẫn đến cháy khét sản phẩm. Từ
những kết quả trên thông số tối ưu được chọn
cho quá trình sao là 800C trong 10 phút.
3.3. Ảnh hưởng của quá trình trích ly đến
hiệu suất trích ly chất khô
Trích ly là quá trình hòa tan chọn lọc các
cấu tử có trong nguyên liệu bằng cách cho
nguyên liệu tiếp xúc với dung môi. Động lực
của quá trình trích ly là sự chênh lệch nồng
độ của cấu tử ở trong nguyên liệu và ở trong
dung môi. Trong nghiên cứu này, dung môi
được sử dụng để trích ly nguyên liệu sung là
nước, tiến hành khảo sát các yếu tố ảnh
hưởng như tỷ lệ nguyên liệu: nước, nhiệt độ
và thời gian trích ly với chỉ tiêu đánh giá là
hàm lượng chất khô. Kết quả được thể hiện ở
Hình 2.
Hình 2. Kết quả các yếu tố ảnh hưởng đến quá trình trích ly
Đỗ Thị Ngọc Mai và cộng sự. Tạp chí Khoa học Đại học Mở Thành phố Hồ Chí Minh, 14(4), 44-54 49
Qua kết quả cho thấy rằng các yếu tố tỷ lệ
nguyên liệu: nước, nhiệt độ và thời gian sẽ ảnh
hưởng đến quá trình trích ly. Ở từng khoảng tỷ
lệ, nhiệt độ và thời gian khác nhau sẽ thu được
hàm lượng chất khô khác nhau. Kết quả thông
số tối ưu của quá trình trích ly là nguyên liệu
bột sung khô, tỷ lệ nguyên liệu: nước là
1:7g/mL, nhiệt độ trích ly 80ºC, thời gian trích
ly 90 phút.
3.4. Ảnh hưởng của thời gian cô đặc dịch chiết
Hàm lượng chất khô ở các nhiệt độ và thời
gian cô đặc khác nhau ở mức 5%. Kết quả cho
thấy, thời gian tăng làm tăng khả năng phân
hủy hàm lượng các hợp chất, ảnh hưởng lớn
đến chất lượng cảm quan. Khi ở thời gian dài,
các phân tử sẽ tạo phản ứng Maillard dẫn đến
sự hình thành sản phẩm màu nâu, đồng thời
làm phân hủy các thành phần kém bền.
Bảng 3
Kết quả khảo sát hàm lượng chất khô sau cô đặc
STT
Nghiệm thức
(phút)
Điểm cảm
quan(*)
Hàm lượng chất
khô (%)
Mô tả cảm quan
1 30 1,5d 7,42d
Màu vàng nhạt, không có mùi
thơm, không có hậu
2 60 2,7c 7,46c
Màu nâu cánh gián nhạt, mùi
thơm thoảng nhẹ, hậu vị hơi ngọt.
3 90 4,4a 8,34a
Màu vàng nâu cánh gián sáng,
mùi thơm nhẹ, hậu vị ngọt tương
đối.
4 120 3,7b 8,03b
Màu vàng nâu cánh gián, mùi
thơm nhẹ, hậu vị ngọt vừa.
(*)Các giá trị trong cùng 1 cột có ký tự giống nhau thì không có sự khác biệt theo thống kê với mức ý nghĩa
α = 0.05.
Qua kết quả cho thấy rằng khi cố định
nhiệt độ cô đặc là 700C và tiến hành khảo sát
thời gian cô đặc thì nhận thấy rằng ở thời gian
cô đặc 90 phút thì dịch chiết có màu vàng nâu
cánh gián sáng, mùi thơm nhẹ, hậu vị ngọt
tương đối và đạt điểm cảm quan cao nhất.
3.5. Tỷ lệ phối trộn maltodextrin
Sản phẩm trà hòa tan có các yêu cầu đặc trưng
cho sản phẩm như độ mịn, tơi xốp, có khả năng hòa
tan tốt trong nước. Vì vậy, cần tiến hành khảo sát
tỷ lệ phối trộn maltodextrin với dịch sau cô đặc để
tìm tỷ lệ phối trộn maltodextrin thích hợp.
Hình 3. Ảnh hưởng của tỷ lệ phối trộn maltodextrin đến giá trị cảm quan.
50 Đỗ Thị Ngọc Mai và cộng sự. Tạp chí Khoa học Đại học Mở Thành phố Hồ Chí Minh, 14(4), 44-54
Nhận thấy tỷ lệ maltodextrin phối trộn
càng cao thì màu sắc sản phẩm càng giảm vì
đến một giới hạn nhất định việc tăng
maltodextrin sẽ khiến sản phẩm mất đi màu sắc
đặc trưng, do đó chọn tỷ lệ maltodextrin 25%
làm thông số tối ưu cho thí nghiệm khảo sát tỷ
lệ maltodextrin phối trộn.
3.6. Hoạt tính sinh học của cao chiết và
trà sung hòa tan
3.6.1. Khả năng kháng oxy hóa
Khả năng kháng oxy hóa được khảo sát
trên cao chiết và trà thành phẩm. Kết quả phần
trăm đánh bắt gốc tự do DPPH và giá trị IC50
được trình bày trong Bảng 4.
Bảng 4
Khả năng đánh bắt gốc tự do của cao chiết và trà sung hòa tan
Mẫu thí
nghiệm
%Ức chế
Nồng độ (µg/mL) IC50
(µg/ml) 75 100 125 150 175 200
Cao cồn 13,87 26,76 38,23 42,81 51,69 54,56 174,7b
Cao nước 21,56 29,72 35,16 42,41 45,13 53,89 186,4c
Acid ascorbic 28,66 38,42 45,73 53,70 57,12 60,86 147,6a
Nồng độ (mg/mL)
IC50
(mg/ml) Mẫu thí
nghiệm % Ức chế
50 100 150 200
Trà sung 45,53 57,83 60,99 61,30 61,48
(*)Các giá trị trong cùng 1 cột có ký tự giống nhau thì không có sự khác biệt theo thống kê với mức ý nghĩa
α = 0.05.
Qua kết quả ở bảng 2 cho thấy hoạt động
trung hòa gốc tự do DPPH được đánh giá dựa
trên lượng gốc tự do DPPH còn lại sau khi đã
kết hợp với chất kháng oxy hóa. Kết quả cho
thấy khả nãng kháng oxy hóa của các cao chiết
và trà hòa tan từ quả sung tỷ lệ thuận với nồng
độ cao chiết.
Trong các loại cao chiết được dùng thí
nghiệm cao nước có hiệu suất thấp nhất, như
vậy khả năng kháng oxy hóa của cao cồn là
cao. Kết quả nghiên cứu này chứng minh cao
chiết từ quả sung có khả năng kháng oxy hóa
cao hơn một số thảo dược trong các nghiên
cứu trước đây như cao chiết từ Hà thủ ô
(IC50= 349,35 µg/ml) (Trang, 2015), lá Cỏ
tranh (IC50= 313,76µg/ml) (Võ Thị Kiều Ngân,
2017), cây nhàu gồm cao ethanol lá, trái
xanh, rễ cây Nhàu với giá trị IC50 lần lượt
là 917.16µg/ml, 1025,2µg/ml và 1531,4µg/ml
(Trang, 2015).
Khả năng kháng oxy hóa của trà sung cao
hơn trà chùm ngây (IC50= 64,28 mg/ml), trà
diệp hạ châu (IC50= 76,40 mg/ml) và trà khổ
qua (IC50=69,47 mg/ml) nên kết quả này
chứng tỏ trà sung có khả năng kháng oxy hóa
giúp hỗ trợ chống lại các gốc tự do gây hại tế
bào, phòng ngừa sự hình thành các yếu tố gây
ung thư.
3.6.2. Khả năng ức chế chế enzyme
α-glucosidase
Khả năng ức chế enzyme α-glucosidase
được khảo sát trên cao chiết và trà thành phẩm.
Kết quả phần trăm ức chế enzyme và giá trị
IC50 được trình bày trong Bảng 3.
Đỗ Thị Ngọc Mai và cộng sự. Tạp chí Khoa học Đại học Mở Thành phố Hồ Chí Minh, 14(4), 44-54 51
Bảng 5
Khả năng ức chế chế enzyme α-glucosidase của cao chiết và trà sung hòa tan
Mẫu thí nghiệm
% Ức chế
Nồng độ (µg/mL) IC50 (µg/mL)
1 5 10 15
Cao cồn 49,67 58,34 69,75 73,69 0,46
Cao nước 48,94 60,43 72,19 75,51 0,34
Acarbose 138,20
Mẫu thí nghiệm
% Ức chế
50 100 150 200 IC50 (mg/mL)
Trà sung 47,77 57,09 59,61 63,30 54,32
(*)Các giá trị trong cùng 1 cột có ký tự giống nhau thì không có sự khác biệt theo thống kê với mức ý nghĩa
α = 0.05.
Qua kết quả ở Bảng 5 cho thấy khả năng
ức chế enzyme α-glucosidase của cao chiết
nước có kết quả tương đương acarbose thể hiện
qua giá trị IC50 chứng tỏ tiềm năng của quả
sung trong việc điều trị đái tháo đường. Khả
năng ức chế enzyme α-glucosidase của trà
sung cao hơn trà khổ qua (IC50= 63,63mg/mL),
trà thìa canh (IC50= 89,99mg/mL), trà tim
sen (IC50= 120,02mg/mL), trà lược vàng
(IC50= 56,92mg/mL) và trà xanh (IC50=
54,88mg/mL). Từ những kết quả trên chứng tỏ
rằng trà hòa tan từ quả sung có khả năng ức chế
enzyme α-glucosidase, thích hợp hỗ trợ cho
những người mắc bệnh tiểu đường.
3.6.3. Khả năng kháng khuẩn
Hoạt tính kháng khuẩn của cao chiết và trà
hòa tan được khảo sát bằng phương pháp
khuếch tán trên đĩa thạch và được đánh giá qua
đường kính vòng kháng khuẩn, đường kính
vòng kháng khuẩn càng lớn thì hoạt tính kháng
khuẩn của các cao chiết càng mạnh và ngược
lại. Kết quả khảo sát được trình bày ở Bảng 6.
Bảng 6
Đường kính vòng kháng khuẩn của cao chiết và trà sung hòa tan
Vi khuẩn Mẫu thí nghiệm
Nồng độ (mg/mL)
50 100 150 200
E.coli
Cao cồn - - 13,00ba 13,00ba
Cao nước 1000ad 10,33bc 11,33cb 11,50ca
Ampicillin 7,00bd 11,35ac 17,00ab 22,70aa
Salmonella
Cao cồn 10,00bd 11,00bc 13,50bb 15,50ba
Cao nước - - - -
Ampicillin 8,00ad 12,97ac 19,50ab 25,94aa
Vi khuẩn Mẫu thí nghiệm 250 300 350 400
E.coli
Trà sung - 10,00cc 11,00cb 12,00ca
Ampicillin 28,37ad 34,04ac 39,70ab 45,40aa
Salmonella
Trà sung - 12,00bc 12,75bb 13,00ba
Ampicillin 32,43ad 38,90ac 45,39ab 48,23aa
Các giá trị có các chữ cái in thường đầu tiên khác nhau trong cũng một cột và chữ cái in thường thứ hai
khác nhau trong cùng một hàng thì khác biệt có ý nghĩa ở mức thống kê 5%, (-): không kháng khuẩn
52 Đỗ Thị Ngọc Mai và cộng sự. Tạp chí Khoa học Đại học Mở Thành phố Hồ Chí Minh, 14(4), 44-54
Kết quả cho thấy, tất cả cao chiết trà đều
có khả năng kháng khuẩn. Cao chiết cồn cho
khả năng kháng khuẩn tốt hơn cao chiết nước
do có thể trong cao cồn có chứa nhiều hợp chất
kháng khuẩn hơn và có thể hợp chất này là hợp
chất nhóm polyphenol và flavonoid. Theo bảng
mức độ tác động dựa vào đường kính vòng
kháng khuẩn (Mahesh 2008), trà hòa tan từ quả
sung có mức độ tác động vừa (đường kính vòng
kháng khuẩn trong khoảng 10-14 mm), nên trà
thích hợp hỗ trợ cho những người thường dùng
thuốc kháng sinh. Kết quả kháng khuẩn của trà
hòa tan từ quả sung là tiền đề cho việc ứng
dụng sản xuất các sản phẩm có thể thay thế các
loại kháng sinh thương mại và dùng ở mức
độ an toàn và không ảnh hưởng đến sức khỏe
con người
3.7. Đánh giá chất lượng sản phẩm trà
sung hòa tan
3.7.1. Đánh giá chất lượng cảm quan
Đánh giá cảm quan sản phẩm đồ uống theo
tiêu chuẩn TCVN 3215-79 theo hệ điểm 20 trên
thang 6 bậc điểm từ 0 đến 5. Sản phẩm trà sung
hòa tan đạt chất lượng khá về mặt cảm quan
(17,83 điểm) được đánh giá trên hội đồng đánh
giá viên gồm 15 thành viên.
Trà sung hòa tan có trạng thái trong, sáng,
bột tan hoàn toàn trong nước. Màu sắc của dịch
trà màu nâu cánh gián sáng, có mùi thơm đặc
trưng của trà sung. Sản phẩm có hậu vị ngọt
vừa phải khá hài hòa.
3.7.2. Đánh giá chất lượng hóa lý
Mẫu trà hòa tan được tiến hành kiểm tra chỉ
tiêu hóa lý và kết quả được trình bày ở Bảng 5.
Bảng 7
Tiêu chuẩn chất lượng chỉ tiêu hóa lý của sản phẩm trà sung hòa tan
Chỉ tiêu Kết quả (%)
Tiêu chuẩn TCVN 9739:2013 (ISO
6079:1990)
Độ ẩm 1,35 6
Tro tổng số 1,25 20
Độ hòa tan 99,96
Đường tổng 1,49
Đường khử 0,40
Hàm lượng polyphenol 1,18
Hàm lượng flavonoid 1,07
Từ Bảng 7 cho biết hàm ẩm của sản phẩm
trà hòa tan là 1,35% đây là hàm ẩm thấp. Hàm
ẩm thấp giúp hạn chế sự xâm nhập của vi sinh
vật, kéo dài thời gian bảo quản. Tuy nhiên cần
bảo quản sản phẩm trong bao bì kín, được hút
chân không và hàn mép kín giúp hạn chế nhiễm
các vi sinh vật gây hại cho sản phẩm. Hàm
lượng tro trong sản phẩm nhằm cung cấp lượng
khoáng cho cơ thể. So sánh với tiêu chuẩn
TCVN 9739:2013 nhận thấy sản phẩm trà sung
nằm trong giới hạn cho phép của tiêu chuẩn,
đồng thời trong trà có hoạt tính sinh học nên
giàu giá trị dinh dưỡng, thích hợp dùng để hỗ
trợ sức khỏe con người, đồng thời là tiền đề
giúp cho việc ứng dụng quả sung vào chế biến
nhiều sản phẩm có ích cho sức khỏe.
3.7.3. Đánh giá chất lượng vi sinh
Sản phẩm được gửi mẫu kiểm tra tại Trung
tâm dịch vụ phân tích thí nghiệm CASE TP.Hồ
Chí Minh thuộc Sở Khoa học và Công nghệ
TP.Hồ Chí Minh. Kết quả kiểm tra vi sinh được
trình bày ở Bảng 8 sau:
Đỗ Thị Ngọc Mai và cộng sự. Tạp chí Khoa học Đại học Mở Thành phố Hồ Chí Minh, 14(4), 44-54 53
Bảng 8
Tiêu chuẩn chất lượng chỉ tiêu vi sinh của sản phẩm trà sung hòa tan
STT Chỉ tiêu kiểm nghiệm Kết quả
1 Coliforms (Cfu/g) < 10
2 Escherichia coli Không phát hiện
3 Salmonella (Cfu/25 g) Không phát hiện
4 Staphylococcus aureus Không phát hiện
5 Tổng số nấm men – nấm mốc (Cfu/g) < 10
6 Tổng số vi khuẩn hiếu khí (Cfu/g) 3,7 x 102
Qua Bảng 8, nhận thấy rằng sản phẩm trà
hòa tan từ quả sung không phát hiện sự có
mặt của Escherichia coli, Salmonella và
Staphylococcus aureus chứng tỏ rằng sản phẩm
không bị nhiễm vi khuẩn sau quá trình chế biến
nên sẽ không gây độc tố làm ảnh hưởng sức
khỏe người tiêu dùng. Chỉ tiêu kiểm nghiệm
Coliforms và tổng số nấm men- nấm mốc đều
có kết quả < 10 CFU/g có ý nghĩa là trong mẫu
trà hòa tan khi tiến hành kiểm nghiệm thì không
có khuẩn lạc mọc trên đĩa. Chỉ tiêu vi sinh vật
hiếu khí nằm trong giới hạn cho phép <104
CFU/g. Theo những kết quả trên, sản phẩm đã
đạt chỉ tiêu vi sinh vật, vì vậy cần bảo quản
nghiêm ngặt giúp hạn chế sự phát triển của vi
sinh vật, giảm nguy cơ hư hỏng sản phẩm.
4. Kết luận
Nghiên cứu bước đầu xây dựng quy trình
sản xuất trà sung hòa tan với nguyên liệu là quả
sung tươi. Từ nguyên liệu quả sung đều có khả
năng ức chế enzyme α-glucosidase, khả
năng kháng oxy hóa với giá trị lần lượt là
128.6µg/mL và 186.4µg/mL và kháng khuẩn.
Trà sung cũng có khả năng ức chế enzyme α-
glucosidase, khả năng kháng oxy hóa với giá
trị lần lượt là 54.32mg/mL và 61.48mg/mL. Vì
vậy, việc ứng dụng quả sung vào chế biến các
sản phẩm thực phẩm là rất có lợi cho sức khỏe
con người, góp phần đa dạng hóa sản phẩm
thực phẩm chức năng trên thị trường
Tài liệu tham khảo
Apostolidis, E., Kwon, Y. I., & Shetty, K. (2007). Inhibitory potential of herb, fruit, and fungal-
enriched cheese against key enzymes linked to type 2 diabetes and hypertension. Innovative
Food Science & Emerging Technologies, 8(1), 46-54.
Armstrong, D. (2002). Oxidants and antioxidants: ultrastructure and molecular biology protocols.
Springer Science & Business Media, 196.
Chang, C. C., Yang, M. H., Wen, H. M., & Chern, J. C. (2002). Estimation of total flavonoid
content in propolis by two complementary colorimetric methods. Journal of food and drug
analysis, 10(3), 178-182.
Đỗ, T. L. (2006). Những cây thuốc và vị thuốc Việt Nam. Y học, 495-496.
Jahan, I. A., Nahar, N., Mosihuzzaman, M., Rokeya, B., Ali, L., Azad Khan, A. K., ... & Iqbal
Choudhary, M. (2009). Hypoglycaemic and antioxidant activities of Ficus racemosa Linn.
fruits. Natural product research, 23(4), 399-408.
54 Đỗ Thị Ngọc Mai và cộng sự. Tạp chí Khoa học Đại học Mở Thành phố Hồ Chí Minh, 14(4), 44-54
Keshari, A. K., Kumar, G., Kushwaha, P. S., Bhardwaj, M., Kumar, P., Rawat, A., ... & Saha, S.
(2016). Isolated flavonoids from Ficus racemosa stem bark possess antidiabetic,
hypolipidemic and protective effects in albino Wistar rats. Journal of ethnopharmacology,
181, 252-262.
Lê Văn Việt Mẫn, L. Q., & Đạt, T. N. M. N. Trần Thị Thu Trà (2011). Công nghệ chế biến thực
phẩm, Đại học Quốc gia TP Hồ Chí Minh.
Mahesh, B., & Satish, S. (2008). Antimicrobial activity of some important medicinal plant against
plant and human pathogens. World journal of agricultural sciences, 4(5), 839-843.
Ngân, V. T. K., Mai, N. T. N., & Hoàng, N. T. (2017). Khảo sát hàm lượng phenolic tổng,
flavonoid tổng, hoạt tính chống oxy hóa và hoạt tính kháng khuẩn của cao chiết ethanol và
methanol của lá và thân rễ cây Cỏ Tranh (Imperata cylindrica). Tạp chí Khoa học Trường
Đại học Cần Thơ, 16-22.
Shah, S. K., Garg, G., Jhade, D., & Pandey, H. (2016). Ficus racemosa Linn: Its Potentials Food
Security and Rural Medicinal Management. Journal of Pharmaceutical Sciences and
Research, 8(5), 317.
Singleton, V. L., Orthofer, R., & Lamuela-Raventos, R. M. (1999). Analysis of total phenols and
other oxidation substrates and antioxidants by means of folin-ciocalteu reagent. Methods in
enzymology, 299, 152-178.
Trang, Đ. T. X., và Ngọc, L. H. B. N., & Anh, V.T. T. (2015). Khảo sát hoạt tính kháng khuẩn và
kháng oxy hóa của cao methanol cây Hà thủ ô trắng (Streptocaulon juventas MERR.). Tạp
chí Khoa học Trường Đại học Cần Thơ, 40, 1-6.
Yadav, R. K., Nandy, B. C., Maity, S., Sarkar, S., & Saha, S. (2015). Phytochemistry,
pharmacology, toxicology, and clinical trial of Ficus racemosa. Pharmacognosy reviews,
9(17), 73.
Các file đính kèm theo tài liệu này:
nghien_cuu_quy_trinh_che_bien_va_hoat_tinh_sinh_hoc_cua_tra.pdf