Biện pháp điều trị bệnh sán lá sinh sản ở
vịt
Cách ly vịt ốm ra khỏi đàn và nhốt riêng ở
khu vực rồi điều trị ngay.
Vịt bị bệnh điều trị bằng 1 trong 2 phác đồ
sau:
Phác đồ 1
Tẩy sán bằng thuốc Fenbendazole, liều 16
mg/kg thể trọng, dùng 2 lần cách nhau 24 giờ.
Sử dụng kháng sinh chống nhiễm khuẩn
buồng trứng, ống dẫn trứng, túi Fabricius,
có thể sử dụng 1 trong các loại: Genta-Tylo,
Ampicillin, Amoxicillin, Kanamycin (liều
lượng theo hướng dẫn của nhà sản xuất).
Dùng thuốc bồi bổ cơ thể, nâng cao sức đề
kháng: Các loại vitamin, B-complex,. (liều
lượng theo hướng dẫn của nhà sản xuất).
Phác đồ 2
Tẩy sán bằng thuốc Praziquantel, liều 10 mg/
kg thể trọng, dùng 2 lần cách nhau 24 giờ. Thuốc
chống nhiễm khuẩn và bồi bổ cơ thể tương tự
như phác đồ trên.
Lưu ý: Các loại thuốc trên trộn đều vào thức
ăn cho vịt ăn, khẩu phần ăn của vịt 100% thì
nên trộn thuốc với 50% thức ăn để vịt ăn hết,
sau đó cho vịt ăn thức ăn còn lại tránh lãng phí
thuốc và đảm bảo vịt được sử dụng đủ liều thuốc
tẩy.
Nhốt vịt 3 ngày sau điều trị để chúng thải hết
mầm bệnh, thu gom phân, rác thải ở nơi điều
trị, xử lý theo phương pháp nhiệt sinh học. Tưới
hoặc phun thuốc iodine 2% hoặc cloramin B
1,25% để diệt trứng sán còn lưu lại trên bề mặt
nền nơi điều trị.
Cảnh báo
Có thể xảy ra hiện tượng kháng thuốc nếu sử
dụng liên tục một loại thuốc điều trị trong thời
gian dài.
Chỉ nên xuất bán hoặc giết thịt sau khi dừng
thuốc điều trị bệnh ít nhất 7 ngày.
8 trang |
Chia sẻ: hachi492 | Lượt xem: 4 | Lượt tải: 0
Bạn đang xem nội dung tài liệu Nghiên cứu quy trình phòng, trị bệnh sán lá sinh sản ở vịt, để tải tài liệu về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
80
KHOA HỌC KỸ THUẬT THÚ Y TẬP XXVI SỐ 2 - 2019
NGHIEÂN CÖÙU QUY TRÌNH PHOØNG, TRÒ BEÄNH SAÙN LAÙ SINH SAÛN ÔÛ VÒT
Huỳnh Vũ Vỹ, Nguyễn Đức Tân, Nguyễn Văn Thoại, Lê Hứa Ngọc Lực
Bộ môn nghiên cứu Ký sinh trùng, Phân viện Thú y miền Trung
TÓM TẮT
Mục tiêu của nghiên cứu này là đề xuất quy trình phòng, trị bệnh sán lá sinh sản ký sinh ở vịt. Để
phòng bệnh sán lá ở vịt có hiệu quả, phân và chất độn chuồng vịt đã được thu gom, ủ theo phương
pháp nhiệt sinh học, đồng thời, tiêu độc, khử trùng chuồng trại để diệt trứng sán bằng hóa chất iodine
2% hoặc cloramin B 1,25% (1 lít nước thuốc phun khoảng 10-12 m2 chuồng). Phòng bệnh sán lá
bằng thuốc fenbendazole (16 mg/kg thể trọng) hoặc praziquantel (10 mg/kg thể trọng), với 1 liều duy
nhất ở các giai đoạn: Vịt 5 tuần tuổi (nuôi lấy thịt); vịt 5 tuần tuổi, 2 tháng tuổi và 6 tháng tuổi (nuôi
lấy trứng), sau đó định kỳ tẩy sán mỗi năm 2 lần đã cho kết quả tốt. Sử dụng thuốc fenbendazole (16
mg/kg thể trọng) hoặc praziquantel (10 mg/kg thể trọng), với 2 liều cách nhau 24 giờ đã điều trị có
hiệu quả bệnh sán lá ở vịt. Sán lá sinh sản gây viêm ống dẫn trứng và túi Fabricius, vì vậy, trong điều
trị cần kết hợp với kháng sinh để chống viêm và nâng cao sức đề kháng cho vịt.
Từ khóa: phòng, trị bệnh, fenbendazole, praziquantel, cloramin, iodine, sán lá sinh sản, vịt.
Study on prevention, treatment procedure for Oviduct fluke disease in duck
Huynh Vu Vy, Nguyen Duc Tan, Nguyen Van Thoai, Le Hua Ngoc Luc
SUMMARY
The objective of this study was to propose a prevention, treatment procedure for oviduct fluke
disease in duck. In order to prevent effectively oviduct fluke disease in duck, duck feces and floor
litter were collected; gather for thermobiological treatment together with farm disinfection to kill the
fluke eggs by iodine 2% or cloramin B 1.25% (1L of solution sprayed for 10-12 m2 of duck house
floor) was applied. Two drugs could be used for oviduct fluke disease prevention effectively,
such as: fenbendazole (16 mg/kg body weight) or praziquantel (10 mg/kg body weight), with a
single dose, applying for duck at 5 weeks old (for duck raised for meat); 5 weeks, 2 months and
6 months old (for egg laying duck). After that it was done periodically twice per year. The oviduct
fluke diseased ducks could be treated effectively by fenbendazole (16 mg/kg body weight) or
praziquantel (10 mg/kg body weight), with 2 doses (24 hrs. between two doses). The oviduct fluke
caused severe inflammation in ovary and fabricius, so treatment procedure should be combined
with using antibiotics to avoid inflammation and to improve disease resistance of duck.
Keywords: prevention, treatment, fenbendazole, praziquantel, cloramin, iodine, oviduct fluke, duck
I. ĐẶT VẤN ĐỀ
Sán lá sinh sản ký sinh ở vịt thuộc lớp sán
lá Trematoda, họ Prosthogonimidae, giống
Prosthogonimus, loài Prosthogonimus sp. Đến
nay đã phát hiện ít nhất 10 loài thường gây bệnh
trên vịt. Bệnh sán lá sinh sản phân bố rộng ở
các nước Châu Âu, Châu Mỹ, Châu Phi và Châu
Á (Macy, 1965; Naem và Golpayegani, 2003;
Taylor và cs, 2007). Vòng đời phải qua 2 vật
chủ trung gian: Vật chủ trung gian thứ nhất là
ốc nước ngọt (Bithynia sp.), vật chủ trung gian
thứ 2 là ấu trùng chuồn chuồn và chuồn chuồn
ngô. Vịt nhiễm sán do ăn phải ấu trùng chuồn
chuồn hoặc chuồn chuồn chứa nang kén sán.
Sán lá sinh sản thường ký sinh trong ống dẫn
trứng và túi Fabricius, gây viêm, sung huyết và
xuất huyết, (Nguyễn Đức Tân và cs, 2018a).
81
KHOA HỌC KỸ THUẬT THÚ Y TẬP XXVI SỐ 2 - 2019
Ở nước ta, bệnh sán lá sinh sản ở vịt phân bố
khắp các vùng miền: Từ miền núi, đến trung du
và đồng bằng, nhất là những nơi có nhiều ao, hồ,
sông, suối, đầm, phá, ruộng nước,... Tỷ lệ nhiễm
sán ở vịt tại khu vực Nam Trung Bộ từ 29,06-
30,18% (Nguyễn Đức Tân, 2018b); ở Thanh Trì,
Hà Nội là 21% (Nguyễn Thị Lê, 1971); đồng
bằng sông Cửu Long là 9,51% (Nguyễn Hữu
Hưng, 2007); đồng bằng sông Hồng là 6,97%
(Nguyễn Xuân Dương, 2008). Mặc dù bệnh sán
lá sinh sản ở vịt khá phổ biến, làm ảnh hưởng
khá lớn đến hiệu quả chăn nuôi, nhưng vẫn chưa
có công trình nào nghiên cứu về phòng trị bệnh
sán lá sinh sản. Vì vậy, nghiên cứu này nhằm
mục tiêu xây dựng quy trình phòng trị bệnh sán
lá sinh sản ở vịt tại các hộ chăn nuôi hoặc trang
trại nuôi vịt, nhằm giảm thiểu tỷ lệ vịt nhiễm
bệnh, tỷ lệ vịt chết, hạn chế sự phát tán mầm
bệnh ra môi trường, góp phần phát triển chăn
nuôi vịt theo hướng bền vững.
II. NGUYÊN LIỆU VÀ PHƯƠNG
PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1. Nguyên, vật liệu nghiên cứu
Động vật: vịt bị bệnh sán lá sinh sản.
Mẫu bệnh phẩm: Buồng trứng, ống dẫn
trứng, túi Fabricius,...
Dụng cụ: Kính hiển vi quang học; kính hiển
vi soi nổi, kính lúp, phiến kính, lá kính, bộ đồ
mổ tiểu gia súc,
Hóa chất: Cồn, nước cất, thuốc Fenbendazole,
Praziquantel, Genta-Tylo, ampicilin, amoxicilin,
kanamycin, vitamin, B-complex, iodine,
cloramin B,
2.2. Địa điểm và thời gian nghiên cứu
Các thí nghiệm được tiến hành tại một số
địa phương nghiên cứu ở tỉnh Bình Định, Phú
Yên và Khánh Hòa; Bộ môn nghiên cứu Ký
sinh trùng, Phân viện Thú y miền Trung, từ năm
2017 đến năm 2018.
2.3. Phương pháp nghiên cứu thử nghiệm
2.3.1. Nghiên cứu ở phòng thí nghiệm
Bố trí thí nghiệm diệt trứng sán lá sinh
sản
Mổ khám vịt, thu thập trứng sán lá sinh sản
trong ống dẫn trứng hoặc trong túi Fabricius
từ vịt nhiễm bệnh. Dùng micropipet hút trứng
sán cho vào đĩa petri. Tính lượng hỗn dịch có
trong đĩa, sau đó cho thuốc sát trùng vào đĩa với
nồng độ cloramin B 1,25% (từ bột cloramin B
25% clo hoạt tính) hoặc iodine 2%. Sau 4 giờ
tác động hóa chất, rửa sạch trứng với nước sinh
lý. Cho trứng vào đĩa petri, theo dõi quá trình
phát triển của mầm bệnh sau khi tác động thuốc
sát trùng trong 5 ngày để đánh giá hiệu quả của
thuốc: trứng sán bị hỏng, trứng sán không phát
triển thành ấu trùng,... Mỗi loại thuốc sát trùng
bố trí 3 lô và 1 lô đối chứng (lặp lại 3 lần).
Bố trí thí nghiệm tẩy sán trên vịt trong
phòng thí nghiệm
Động vật thí nghiệm là vịt bị bệnh sán lá sinh
sản bằng gây nhiễm thực nghiệm. Điều trị vịt
bị bệnh bằng thuốc tẩy: Fenbendazole (16 mg/
kg thể trọng) hoặc Praziquantel (10 mg/ kg thể
trọng). Mỗi loại thuốc tẩy được thử nghiệm điều
trị trên 45 vịt bị bệnh và 15 vịt bị bệnh không
dùng thuốc làm đối chứng. Các loại thuốc được
điều trị bằng các phác đồ khác nhau để đánh giá
hiệu quả.
Đường đưa thuốc: Trộn thuốc vào thức ăn
và cho vịt ăn riêng biệt để kiểm soát liều lượng.
Để xác định tỷ lệ nhiễm sán, lấy mẫu phân
trước dùng thuốc, xét nghiệm bằng phương
pháp lắng cặn. Mổ khám vịt sau 7 ngày dùng
thuốc, tìm sán trong túi Fabricius và ống dẫn
trứng để đánh giá hiệu quả của thuốc tẩy.
2.3.2. Nghiên cứu ở ngoài thực địa
Bố trí thí nghiệm diệt trứng sán lá sinh
sản ở thực địa
Chọn những trang trại có vịt bị bệnh sán lá
sinh sản để tiến hành thử nghiệm. Mỗi trang trại
chia ra 3 phần: 1 phần phun thuốc iodine 2%,
1 phần phun thuốc cloramin B 1,25% (từ bột
cloramin B 25% clo hoạt tính), 1 phần không
82
KHOA HỌC KỸ THUẬT THÚ Y TẬP XXVI SỐ 2 - 2019
dùng thuốc làm đối chứng. Pha thuốc và phun
ướt đều lên phân vịt trên nền chuồng (1 lít phun
10-12 m2).
Lấy mẫu phân trước khi dùng thuốc và sau 4
giờ dùng thuốc, chọn 5 điểm lấy mẫu, mỗi điểm
lấy 3 mẫu, mỗi mẫu lấy 3g phân (1 điểm ở trung
tâm và 4 điểm ở bốn góc). Mẫu phân được đưa
về phòng thí nghiệm lọc, ly tâm để tách trứng.
Cho trứng sán vào môi trường nước ngọt tự
nhiên và theo dõi sự phát triển của mầm bệnh
để đánh giá hiệu quả của thuốc (trứng hỏng hay
vẫn còn phát triển).
Bố trí thí nghiệm tẩy sán ở ngoài thực địa
Chọn các trang trại có vịt nhiễm sán lá sinh
sản, sau đó trộn thuốc vào thức ăn cho toàn đàn
vịt ăn. Mỗi một trang trại vừa sử dụng thuốc
Fenbendazole, Praziquantel và không sử dụng
thuốc làm đối chứng (liều lượng tương tự phần
bố trí trong phòng thí nghiệm).
Lấy mẫu phân trước dùng thuốc và sau 7
ngày dùng thuốc, xét nghiệm phân bằng phương
pháp lắng cặn để đánh giá hiệu quả sạch trứng
sán trong phân.
Xây dựng quy trình phòng trị bệnh sán lá
sinh sản ở vịt dựa trên kết quả thử nghiệm các
biện pháp phòng trị bệnh ở phòng thí nghiệm
và ở ngoài thực địa. Kết hợp các kết quả nghiên
cứu của đề tài: vòng đời, đặc điểm sinh học, đặc
điểm dịch tễ học bệnh sán lá sinh sản trên vịt.
Xác định tỷ lệ nhiễm sán bằng phương pháp
lắng cặn của Benedek (1943) hoặc phương pháp
kết hợp: Lọc, lắng cặn và ly tâm của Willingham
và ctv (1998), Anh và ctv (2008).
Đếm số lượng trứng sán trong mỗi gram
phân bằng buồng đếm Mc. Master.
Xác định cường độ nhiễm sán trong túi
Fabricius và ống dẫn trứng bằng phương pháp
mổ khám cục bộ của Skrjabin (1928).
Các số liệu thu thập được trong quá trình
nghiên cứu được xử lý bằng phần mềm Ms.
Excel 2010.
III. KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN
3.1. Kết quả nghiên cứu ở phòng thí nghiệm
3.1.1. Kết quả diệt trứng sán ở phòng thí
nghiệm
Để phòng bệnh sán lá sinh sản có hiệu quả,
thì diệt vật chủ trung gian (ốc, chuồn chuồn) là
việc làm khó có thể thực hiện trong điều kiện
thực tế. Vì vậy, làm sao để giảm thiểu mầm bệnh
ra môi trường, hạn chế sự xâm nhập vào vật chủ
trung gian. Từ những vấn đề đó, chúng tôi đã sử
dụng 2 loại hóa chất là iodine 2% và cloramin
B 1,25% tác động lên trứng sán. Kết quả trình
bày ở bảng 1.
Bảng 1. Tác động thuốc sát trùng tới trứng sán ở phòng thí nghiệm
Loại thuốc sát trùng Số trứng thử nghiệm Số trứng bị hỏng Tỷ lệ trứng hỏng (%)
Iodine 2% 1250 1011 80,8
Cloramin B 1,25% 1432 1082 75,5
Không dùng hóa chất 1150 21 1,8
Từ kết quả ở bảng 1 cho thấy, trong điều kiện
phòng thí nghiệm, hóa chất iodine 2% có hiệu quả
diệt trứng là 88,8%, cloramin B 1,25% có hiệu quả
diệt trứng là 75,5%. Trong khi đó, ở lô không dùng
hóa chất, trứng sán vẫn phát triển bình thường.
3.1.2. Kết quả tẩy sán lá sinh sản trên vịt ở
phòng thí nghiệm
Để đánh giá hiệu quả của thuốc tẩy, chúng
tôi tiến hành tẩy sán lá sinh sản ở vịt bị bệnh từ
gây nhiễm thực nghiệm, bằng cách cho vịt ăn
thuốc Fenbendazole (16 mg/kg thể trọng) hoặc
thuốc Praziquantel (10 mg/1 kg thể trọng). Kết
quả mổ khám vịt sau 7 ngày dùng thuốc được
thể hiện ở bảng 2 và bảng 3.
83
KHOA HỌC KỸ THUẬT THÚ Y TẬP XXVI SỐ 2 - 2019
Bảng 2. Kết quả tẩy sán lá sinh sản ở vịt bằng thuốc Fenbendazole ở phòng thí nghiệm
Loại thuốc và
liều lượng
Trước khi tẩy Sau khi tẩy
Ghi chúSố vịt
nhiễm sán
Tỷ lệ
nhiễm (%)
Số vịt
sạch sán
Tỷ lệ sạch
sán (%)
Cường độ
nhiễm sán/vịt
Fenbendazole 16
mg/kg, 1 liều duy
nhất
15 100 9 60 3-5 Ống dẫn trứng, túi
Fabricius bị viêm
khá nặng. Thể trạng
hồi phục chậm.
Fenbendazole 16
mg/kg, 2 liều cách
nhau 24 giờ
15 100 15 100 0 “Nt”
Fenbendazole 16
mg/kg, 2 liều cách
nhau 24 giờ
Bcomplex và kháng
sinh (Ngày 2 lần x 3
ngày)
15 100 15 100 0 Ống dẫn trứng,
túi Fabricius bình
thường. Thể trạng
hồi phục nhanh.
Đối chứng (Không
dùng thuốc)
15 100 0 - 15-19 Ống dẫn trứng, túi
Fabricius bị viêm
khá nặng. Vịt ốm
yếu, thể trạng kém.
Kết quả ở bảng 2 cho thấy, thuốc Fenbendazole
liều 16 mg/kg (dùng 1 liều), có hiệu quả tẩy sạch
sán lá sinh sản ở vịt là 60,0% (9 vịt sạch sán sau khi
tẩy/15 vịt nhiễm sán được tẩy). Trong 6 vịt chưa
sạch sán, cường độ nhiễm từ 3 đến 5 sán/vịt (trung
bình 4,1 sán). Tuy nhiên, cũng loại thuốc này dùng
2 liều, cách nhau 24 giờ, có hiệu quả tẩy sạch sán là
100,0% (30/30 vịt sạch sán sau khi tẩy). Trong khi
đó, mổ khám vịt ở lô đối chứng, phát hiện cường độ
nhiễm từ 15 đến 19 sán/vịt (trung bình 17,3 sán/vịt).
Bảng 3. Kết quả tẩy sán lá sinh sản ở vịt bằng thuốc Praziquantel ở phòng thí nghiệm
Loại thuốc
và liều lượng
Trước khi tẩy Sau khi tẩy
Ghi chúSố vịt
nhiễm sán
Tỷ lệ
nhiễm (%)
Số vịt
sạch sán
Tỷ lệ sạch
sán (%)
Cường
độ sán/vịt
Praziquantel 10 mg/
kg, 1 liều duy nhất
15 100 11 73,3 2-5 Ống dẫn trứng, túi
Fabricius bị viêm khá
nặng. Thể trạng hồi
phục chậm.
Praziquantel liều 10
mg/kg, 2 liều cách
nhau 24 giờ
15 100 15 100 0 “Nt”
Praziquantel liều 10
mg/kg, 2 liều cách
nhau 24 giờ.
B-complex và kháng
sinh (Ngày 2 lần x 3
ngày)
15 100 15 100 0 Ống dẫn trứng,
túi Fabricius bình
thường. Thể trạng
hồi phục nhanh.
Đối chứng (Không
dùng thuốc)
15 100 0 - 15-19 Ống dẫn trứng, túi
Fabricius bị viêm khá
nặng. Vịt ốm yếu, thể
trạng kém.
84
KHOA HỌC KỸ THUẬT THÚ Y TẬP XXVI SỐ 2 - 2019
Kết quả tẩy sán bằng thuốc Praziquantel ở
bảng 3 cho thấy: liều 10 mg/kg (dùng 1 liều duy
nhất), có hiệu quả tẩy sạch sán lá sinh sản ở vịt là
73,3% (11 vịt sạch sán sau khi tẩy/15 vịt nhiễm
sán được tẩy). Trong 4 vịt chưa sạch sán, cường
độ nhiễm từ 2 đến 5 sán/vịt (trung bình 3,2 sán).
Tuy nhiên, cũng loại thuốc này khi dùng 2 liều
(cách nhau 24 giờ), có hiệu quả tẩy sạch sán là
100,0% (30 vịt sạch sán sau khi tẩy/30 vịt nhiễm
sán được tẩy). Trong khi đó, mổ khám vịt ở lô
đối chứng, cường độ nhiễm từ 15 đến 19 sán/vịt
(trung bình 17,4 sán/vịt).
Như vậy, để điều trị bệnh sán lá sinh sản
ở vịt, có thể dùng một trong hai loại thuốc
Fenbendazole liều 16 mg/kg hoặc Praziquantel
liều 10 mg/kg. Tuy nhiên, để có hiệu quả cao
trong điều trị, cần cho vịt ăn 2 liều, cách nhau 24
giờ. Do bệnh sán lá sinh sản có tổn thương khá
nặng ống dẫn trứng và túi Fabricius nên trong
điều trị cần bổ sung kháng sinh chống nhiễm
khuẩn, ngoài ra cần bổ sung các vitamin nhằm
nâng cao sức đề kháng cho vịt.
3.2. Kết quả nghiên cứu ở thực địa
3.2.1. Kết quả diệt trứng sán ở ngoài môi
trường bằng thuốc sát trùng
Sau khi có kết quả trong phòng thí nghiệm,
chúng tôi chọn một số trang trại có vịt bị bệnh
sán lá sinh sản để thử nghiệm. Kết quả thể hiện
ở bảng 4.
Bảng 4. Kết quả diệt trứng sán lá sinh sản ở trang trại vịt
Loại thuốc
sát trùng
Trang
trại thử
nghiệm
Trước thử nghiệm Sau thử nghiệm
Số mẫu
có trứng
Số trứng/gram
mẫu
Số trứng còn
lại/gram mẫu
Số mẫu
sạch trứng
Tỷ lệ sạch
trứng (%)
Iodine 2% 1 15 500-1100 (703) 50-100 (63) 11 73,3
2 15 550-900 (710) 50-100 (75) 11 73,3
3 15 600-1100 (753) 50-150 (67) 12 80
Tổng cộng 3 45 500-1100 (722) 50-150 (68) 34 75,5
Cloramin B
1,25%
1 15 500-1100 (715) 50-150 (87) 11 73,3
2 15 550-900 (720) 100-150 (110) 10 66,7
3 15 600-1100 (740) 50-100 (70) 10 66,7
Tổng cộng 3 45 500-1100 (725) 50-150 (89) 31 68,9
Đối chứng 3 15 500-1100 (715) 500-1100 (710) 0 0,00
Từ kết quả ở bảng 4 cho thấy, hóa chất iodine
2% có hiệu quả diệt trứng trên mẫu kiểm tra là
75,5% (34/45); hóa chất cloramin B 1,25% có
hiệu quả diệt trứng trên mẫu kiểm tra là 68,9 %
(31/45). Trong khi đó ở lô đối chứng, trứng vẫn
phát triển bình thường.
Như vậy, từ kết quả thử nghiệm có thể nhận
thấy hóa chất iodine 2% và cloramin B 1,25%
đều có hiệu quả diệt mầm bệnh sán lá sinh sản
ở ngoài môi trường. Mặc dù có một số mẫu vẫn
còn trứng sau thử nghiệm, nhưng số trứng trong
1 gram mẫu giảm nhiều so với trước dùng thuốc
(trung bình 722-725 trứng/gram mẫu giảm
xuống 68-89 trứng/gram mẫu).
3.2.2. Kết quả tẩy sán lá sinh sản ở các trang
trại nuôi vịt
Sau khi có kết quả trong phòng thí nghiệm,
chúng tôi chọn những trang trại có vịt nhiễm sán
lá sinh sản, sau đó trộn thuốc vào thức ăn cho vịt
ăn. Mổ khám vịt sau 7 ngày dùng thuốc để đánh
giá hiệu quả. Kết quả thể hiện ở bảng 5.
85
KHOA HỌC KỸ THUẬT THÚ Y TẬP XXVI SỐ 2 - 2019
Bảng 5. Hiệu quả tẩy sán lá sinh sản trên vịt ở thực địa
Loại thuốc
và liều lượng
Trang
trại thử
nghiệm
Trước thử nghiệm Sau thử nghiệm
Tổng số
vịt nhiễm
Tỷ lệ
nhiễm (%)
Tổng số vịt
sạch sán
Tỷ lệ sạch
sán (%)
Cường độ
sán/vịt
Fenbendazole liều
16 mg/kg thể trọng
(2 liều, cách nhau 24
giờ)
1 15 100 14 93,3 1
2 15 100 15 100,0 0
3 15 100 15 100,00 0
Tổng cộng 45 100 44 97,77 1
Praziquantel liều 10
mg/kg thể trọng (2
liều, cách nhau 24
giờ)
1 15 100 15 100,00 0
2 15 100 15 100,00 0
3 15 100 15 100,00 0
Tổng cộng 45 100 45 100,00 0
Đối chứng không
dùng thuốc 15 100 0 0,00 11-17
Kết quả ở bảng 5 cho thấy: tổng số 45 vịt
nhiễm sán lá sinh sản được tẩy bằng thuốc
Fenbendazole liều 16 mg/kg thể trọng (2 liều,
cách nhau 24 giờ), có 44 vịt sạch sán, với tỷ lệ
sạch sán là 97,77%. Trong 45 vịt, chỉ còn 1 vịt
có 1 sán ký sinh ở túi Fabricius.
Tổng số 45 vịt nhiễm sán được tẩy bằng
thuốc Praziquantel liều 10 mg/kg thể trong (2
liều, cách nhau 24 giờ), có 45 con sạch sán, với
tỷ lệ sạch sán là 100%. Trong khi đó 15 vịt đối
chứng không dùng thuốc đều còn sán, cường độ
nhiễm từ 11 đến 15 sán/vịt.
Trong quá trình theo dõi đàn vịt sau điều trị,
chúng tôi nhận thấy những đàn vịt đã tẩy sán có
bổ sung thêm kháng sinh, các loại vitamin thì
vịt nhanh khỏe hơn, các dấu hiệu bệnh lý nhanh
khắc phục hơn.
Như vậy, từ kết quả nghiên cứu ở phòng thí
nghiệm và ngoài thực địa cho thấy, để tẩy sán lá
sinh sản trên vịt thì dùng thuốc Fenbendazole
liều 16 mg/kg thể trọng hoặc Praziquantel liều
10 mg/kg thể trọng, để có hiệu quả cao thì các
loại thuốc này cần dùng 2 liều, cách nhau 24
giờ. Các thuốc này dễ sử dụng và không có phản
ứng phụ trong suốt quá trình thử nghiệm.
Đây là công trình đầu tiên nghiên cứu một
cách hệ thống đặc điểm dịch tễ học, sinh học và
thử nghiệm các loại thuốc phòng, trị bệnh sán
lá sinh sản trên vịt. Từ kết quả nghiên cứu, đề
tài đã xây dựng được quy trình phòng trị bệnh
sán lá sinh sản ở vịt hiệu quả. Quy trình mô tả
chi tiết các giai đoạn dùng thuốc phòng, điều trị
bệnh, loại thuốc, liều lượng, cách dùng thuốc,
3.3. Nội dung quy trình phòng, trị bệnh sán lá
sinh sản trên vịt
Từ kết quả nghiên cứu, đề tài đề xuất quy
trình phòng, trị bệnh sán lá sinh sản trên vịt như
sau:
3.3.1. Phạm vi áp dụng
Quy trình được áp dụng để phòng và trị bệnh
sán lá sinh sản ở vịt.
3.3.2. Đối tượng áp dụng
Người chăn nuôi và cán bộ Chăn nuôi-Thú y
3.3.3. Các bước thực hiện quy trình
Quy trình phòng bệnh
Thông tin, tuyên truyền những ảnh hưởng
của bệnh sán lá sinh sản đến hiệu quả chăn nuôi
vịt để người dân chủ động thực hiện các biện
pháp phòng bệnh.
Khi đàn vịt có các dấu hiệu ốm yếu, giảm
đẻ, chết... người chăn nuôi có thể mổ khám 1 số
vịt chết, tìm sán ký sinh trong túi Fabricius và
86
KHOA HỌC KỸ THUẬT THÚ Y TẬP XXVI SỐ 2 - 2019
ống dẫn trứng hoặc báo cho thú y cơ sở để chẩn
đoán phát hiện bệnh sớm, từ đó có biện pháp
can thiệp kịp thời.
Không sử dụng chất thải và phân vịt khi
chưa được xử lý. Nước thải, nước rửa chuồng
trại phải dẫn theo hệ thống mương tiêu thoát đến
hố chứa và phải được xử lý trước khi đưa ra
môi trường bên ngoài trang trại. Phân và chất
độn chuồng trong quá trình chăn nuôi được thu
gom lại thành đống ở nơi quy định, xử lý theo
phương pháp ủ nhiệt sinh học.
Tiêu độc, khử trùng chuồng trại để diệt
trứng sán ở ngoài môi trường bằng iodine 2%
hoặc cloramin B 1,25%. Ở những trang trại có
vịt nhiễm bệnh, pha thuốc và phun ướt đều lên
phân vịt trên nền chuồng, tường, dụng cụ chăn
nuôi, sân chơi (ở chuồng ẩm, 1 lít thuốc phun
cho khoảng 10-12 m2) định kỳ 2 lần/tuần.
Định kỳ tẩy sán cho vịt bằng thuốc
Fenbendazole (liều 16 mg/kg P) hoặc
Praziquantel (liều 10 mg/kg P). Trộn thuốc vào
thức ăn cho vịt ăn 1 liều duy nhất.
Vịt nuôi lấy thịt: Phòng bệnh 1 lần ở giai
đoạn vịt 5 tuần tuổi.
Vịt nuôi lấy trứng: Phòng bệnh ở giai đoạn
vịt 5 tuần tuổi, vịt hậu bị (2 tháng tuổi), vịt bắt
đầu vào đẻ (6 tháng tuổi). Sau đó định kỳ phòng
bệnh mỗi năm 2 lần.
Lưu ý: Chỉ áp dụng phòng bệnh bằng thuốc
ở những vùng có sự lưu hành của bệnh sán lá
sinh sản.
Biện pháp điều trị bệnh sán lá sinh sản ở
vịt
Cách ly vịt ốm ra khỏi đàn và nhốt riêng ở
khu vực rồi điều trị ngay.
Vịt bị bệnh điều trị bằng 1 trong 2 phác đồ
sau:
Phác đồ 1
Tẩy sán bằng thuốc Fenbendazole, liều 16
mg/kg thể trọng, dùng 2 lần cách nhau 24 giờ.
Sử dụng kháng sinh chống nhiễm khuẩn
buồng trứng, ống dẫn trứng, túi Fabricius,
có thể sử dụng 1 trong các loại: Genta-Tylo,
Ampicillin, Amoxicillin, Kanamycin (liều
lượng theo hướng dẫn của nhà sản xuất).
Dùng thuốc bồi bổ cơ thể, nâng cao sức đề
kháng: Các loại vitamin, B-complex,... (liều
lượng theo hướng dẫn của nhà sản xuất).
Phác đồ 2
Tẩy sán bằng thuốc Praziquantel, liều 10 mg/
kg thể trọng, dùng 2 lần cách nhau 24 giờ. Thuốc
chống nhiễm khuẩn và bồi bổ cơ thể tương tự
như phác đồ trên.
Lưu ý: Các loại thuốc trên trộn đều vào thức
ăn cho vịt ăn, khẩu phần ăn của vịt 100% thì
nên trộn thuốc với 50% thức ăn để vịt ăn hết,
sau đó cho vịt ăn thức ăn còn lại tránh lãng phí
thuốc và đảm bảo vịt được sử dụng đủ liều thuốc
tẩy.
Nhốt vịt 3 ngày sau điều trị để chúng thải hết
mầm bệnh, thu gom phân, rác thải ở nơi điều
trị, xử lý theo phương pháp nhiệt sinh học. Tưới
hoặc phun thuốc iodine 2% hoặc cloramin B
1,25% để diệt trứng sán còn lưu lại trên bề mặt
nền nơi điều trị.
Cảnh báo
Có thể xảy ra hiện tượng kháng thuốc nếu sử
dụng liên tục một loại thuốc điều trị trong thời
gian dài.
Chỉ nên xuất bán hoặc giết thịt sau khi dừng
thuốc điều trị bệnh ít nhất 7 ngày.
IV. KẾT LUẬN
Để phòng, trị bệnh sán lá sinh sản ở vịt thì
biện pháp tốt nhất là diệt sán trên cơ thể vịt hoặc
diệt trứng sán ở ngoài môi trường bằng iodine
2% và cloramin B 1,25% nhằm hạn chế sự xâm
nhập của trứng vào vật chủ trung gian. Có thể
dùng thuốc Fenbendazole (16 mg/kg thể trọng)
hoặc Praziquantel (10 mg/kg thể trọng), phòng
bệnh dùng 1 liều duy nhất, trị bệnh dùng 2 liều
cách nhau 24 giờ.
87
KHOA HỌC KỸ THUẬT THÚ Y TẬP XXVI SỐ 2 - 2019
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Nguyễn Xuân Dương, 2008. Nghiên cứu tình
trạng nhiễm giun sán của vịt ở Thái Bình,
Nam Định, Hải Dương và đề xuất biện pháp
phòng trị. Luận án tiến sĩ Nông nghiệp, Viện
Thú y, 154 tr.
2. Nguyễn Hữu Hưng, 2007. Giun sán ký sinh
trên vịt tại Đồng Bằng Sông Cửu Long và thí
nghiệm thuốc phòng trị một số loài giun sán
chủ yếu. Luận án tiến sĩ Nông nghiệp, Đại
Học Nông Lâm TPHCM, 174 tr.
3. Nguyễn Thị Lê, 1971. Giun sán ký sinh ở vịt
vùng Thanh Trì, Hà Nội. Tạp chí Khoa học
và Kỹ thuật Nông nghiệp. (2) 127-129.
4. Nguyễn Đức Tân, Nguyễn Văn Thoại,
Huỳnh Vũ Vỹ và Lê Hứa Ngọc Lực,
2018a. Nghiên cứu vòng đời sán lá sinh sản
(Prosthogonimus sp.) trên vịt tại Việt Nam.
Tạp chí Phòng chống bệnh Sốt rét và các
bệnh Ký sinh trùng. Tập 104, (2): 79-86
5. Nguyễn Đức Tân, Nguyễn Văn Thoại, Huỳnh
Vũ Vỹ và Lê Hứa Ngọc Lực, 2018b. Tình
hình nhiễm sán lá sinh sản (Prosthogonimus
sp.) trên vịt tại một số tỉnh Nam Trung Bộ.
Tạp chí Khoa học Kỹ thuật Thú y. Tập 25,
(3) 64-68.
6. Anh N.T.L., Phuong N.T., Ha G.H., Thu L.T.,
Johansen M.V., Murrell D.K. and Thamsborg
S.M., 2008. Evaluation of techniques for
detection of small trematode eggs in faeces
of domestic animals. Vet. Parasitol. 156,
346-349.
7. Macy R.W., 1965. On the life cycle of
the trematode Prosthogonimus cuneatus
(Rudolphi, 1809) (Plagiorchidae) in Egypt.
Trans Am Microsc Soc, 84:577–80.
8. Naem S. and Golpayegani, M.H., 2003.
Prosthogonimus macrorchis in the albumin
of the egg from Sari Iran. Iran J of Vet Res,
Uni of Shiraz, 4, 160-2.
9. Skrjabin K., 1928. Methods of Complete
Helminthological Dissections of Vertebrate
Animals Including Humans. Moscow State
University, Moscow. Publishing House of 1st
Moscow State University, Moscow, 45 pp.
10. Taylor M., Coop, R., Wall, R., 2007.
Parasites of poultry and gamebirds.
Veterinary Parasitology, Third ed. Blackwell
Publishing, 459-534.
11. Willingham A., Johansen M.V. and Barnes
E., 1998. A new technic for counting
Schistosoma japonicum eggs in pig feces.
Southeast Asian J Trop Med Public Health
29, 128-130.
Ngày nhận 7-11-2018
Ngày phản biện 10-12-2018
Ngày đăng 1-3-2019
Các file đính kèm theo tài liệu này:
nghien_cuu_quy_trinh_phong_tri_benh_san_la_sinh_san_o_vit.pdf