Tác dụng hạ đường huyết của cao thân cây Bìm ba
răng
Đường huyết ngày 0 ở các lô thử nghiệm không khác biệt
có ý nghĩa thống kê.
Sau 15 ngày điều trị với cao T/N và T/C cây Bìm ba răng
liều 100 mg/kg, đường huyết của các chuột thực nghiệm
giảm có ý nghĩa thống kê vào ngày 15 (p tương ứng lần lượt
là 0,001; 0,005) so với ngày đầu điều trị; tỉ lệ giảm đường(*) p < 0,05 khác biệt có ý nghĩa so với đường huyết ngày 0 trong cùng một lô.
(#) p < 0,05 khác biệt có ý nghĩa so với lô alloxan trong cùng một ngày.
Hình 3. Tác động hạ đường huyết của cao thân cây Bìm ba răng.
huyết vào ngày thứ 15 ở lô chuột uống cao T/N và T/C liều
100 mg/kg lần lượt là 48,71% và 37,65% so với ngày 0.
Điều trị với cao T/N liều 50 mg/kg, đường huyết của các
chuột thực nghiệm giảm có ý nghĩa thống kê vào ngày 15 (p
= 0,002, tỉ lệ giảm là 40,04%) so với ngày đầu điều trị; trong
khi đó ở cao T/C liều 50 mg/kg, đường huyết của các chuột
thực nghiệm giảm không có ý nghĩa thống kê vào ngày 15 (p
= 0,066, tỉ lệ giảm là 20,27%) so với ngày đầu điều trị.
Kết quả thực nghiệm cho thấy cao T/N và T/C liều 100
mg/kg, cao T/N liều 50 mg/kg làm giảm đường huyết ở chuột
ĐTĐ so với ngày 0
4 trang |
Chia sẻ: hachi492 | Lượt xem: 1 | Lượt tải: 0
Bạn đang xem nội dung tài liệu Nghiên cứu tác dụng hạ đường huyết của các cao chiết dược liệu bìm ba răng (merremia tridentata L, convolvulaceae) trên chuột nhắt trắng gây tăng đường huyết bằng Alloxan, để tải tài liệu về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
JSLHU JOURNAL OF SCIENCE
OF LAC HONG UNIVERSITY
Tạp chí Khoa học Lạc Hồng 2020, 12, 1-4
NGHIÊN CỨU TÁC DỤNG HẠ ĐƯỜNG HUYẾT CỦA CÁC CAO CHIẾT
DƯỢC LIỆU BÌM BA RĂNG (MERREMIA TRIDENTATA L.,
CONVOLVULACEAE) TRÊN CHUỘT NHẮT TRẮNG GÂY TĂNG
ĐƯỜNG HUYẾT BẰNG ALLOXAN
Hypoglycemic effect of extracts from Merremia tridentata L. Convolvulaceae on
alloxan-induced hyperglycemia in mice
Nguyễn Thị Thùy Trang1a, Nguyễn Dương Ngọc Thới*2b
1,2Khoa dược, Trường Đại học Lạc Hồng
Email: atrangthuy0097@gmail.com, bthoinguyen@lhu.edu.vn
Received: 30
th
September 2020; Revised: 15
th
October 2020; Accepted: 02
nd
November 2020
*Corresponding Author: thoinguyen@lhu.edu.vn
TÓM TẮT. Bìm ba răng (Merremia tridentata L., Convolvulaceae) là loại dược liệu quý phổ biến ở Việt Nam với nhiều tiềm
năng ứng dụng trong điều trị chưa được khai thác. Trong nội dung nghiên cứu này, chúng tôi đánh giá tác dụng hạ đường huyết
của các cao chiết từ rễ và toàn thân trên mặt đất của Bìm ba răng trên mô hình chuột nhắt trắng gây tăng đường huyết bằng
tiêm tĩnh mạch đuôi alloxan ở liều duy nhất 60 mg/kg. Kết quả cho thấy, cao thân chiết bằng nước ở liều 100 mg/kg và 50
mg/kg có tác dụng hạ đường huyết tốt nhất.
TỪ KHOÁ: Bìm ba răng, Merremia tridentata L., đái tháo đường, alloxan
ABSTRACT. Merremia tridentata L., Convolvulaceae is a valuable herbal medicine popular in Viet Nam that have many
untapped potential for therapeutic application. In this study, we evaluate the hypoglycemic effect of extracts from root and
aerial part of M. tridentata in mouse model of hyperglycemia by a single intravenous injection of alloxan at the dose of 60
mg/kg. The results showed water extract of M. tridentata stem at doses of 100 mg/kg and 50 mg/kg have clearly
hypoglycemic effect.
KEYWORDS: Merremia tridentata L., diabetes, alloxan
1. GIỚI THIỆU
Bìm ba răng (Merremia tridentata L., Convolvulaceae) là
một cây thuốc dân gian đã được ứng dụng rất rộng rãi trong y
học dân gian trong và ngoài nước để chữa một số bệnh phổ
biến như thấp khớp, liệt nửa người, trĩ, đau nhức xương khớp,
lậu, sốt rét, bệnh dời leo, viêm nhiễm ngoài da, cây còn có tác
dụng làm lành vết thương, hạ đường huyết [1-4]. Trên thế
giới, các nghiên cứu về tác động hạ đường huyết của Bìm ba
răng vẫn còn hạn chế [1]. Ở Việt Nam chưa có nghiên cứu
dược lý về tác dụng hạ đường huyết của Bìm ba răng. Trong
khi đó, nguồn dược liệu Bìm ba răng ở Việt Nam rất phong
phú, phân bố trải khắp từ Nam Trung Bộ đến Tây Nam Bộ, vì
vậy, nếu thật sự Bìm ba răng có tác dụng hạ đường huyết như
đã đề cập thì đó là một tiềm năng lớn trong khai thác và sử
dụng ở nước ta. Nghiên cứu này được thực hiện với mong
muốn nghiên cứu tác dụng hạ đường huyết của các cao chiết
dược liệu Bìm ba răng, từ đó làm tiền đề phát triển các sản
phẩm ứng dụng trong điều trị đái tháo đường từ dược liệu
Bìm ba răng.
2. ĐỐI TƯỢNG – PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1. Đối tượng nghiên cứu
Nguyên liệu
Rễ và toàn thân trên mặt đất của Bìm ba răng tươi được thu
hái vào tháng 9 năm 2019 tại xã Ân Hảo Đông, huyện Hoài
Ân, tỉnh Bình Định. Việc định danh loài được thực hiện tại
bộ môn Dược liệu, Khoa Dược, Đại học Lạc Hồng (tra cứu
theo thông tin trong sách Từ điển cây thuốc Việt Nam và
sách Từ điển thực vật thông dụng của tác giả Võ Văn Chi) [4-
5]. Dược liệu được rửa sạch, thái nhỏ, phơi khô trong nắng
râm, sau đó xay thành bột mịn (cỡ bột 0,5-1,0 mm). Chiết với
dung môi nước và cồn 50% bằng phương pháp hãm ở nhiệt
Nguyễn Thị Thùy Trang, Nguyễn Dương Ngọc Thới
độ 100 ºC, chiết 3 lần, mỗi lẫn với 1000 ml dung môi. Gom
dịch chiết, cô cách thủy ở 50 ºC đến khi thu được các cao
dược liệu Bìm ba răng. Các cao chiết thu được là cao đặc (độ
ẩm dưới 20%) có 5 flavonoid apigenin, luteolin, quercitrin,
apigetrin và cynarosid; hàm lượng cynarosid trong cao nước
và cao cồn 50% của thân cây Bìm ba răng là 0,4768% và
0,7264%.
Động vật thử nghiệm
Chuột nhắt trắng khỏe mạnh, giống đực, chủng Swiss
albino, trọng lượng 20-25 g, 7-8 tuần tuổi, đảm bảo sinh lí
khỏe mạnh đủ tiêu chuẩn cho nghiên cứu, được cung cấp bởi
viện Pasteur Nha Trang và được nuôi bằng thức ăn do viện
cung cấp. Chuột được nuôi ổn định một tuần tại phòng thí
nghiệm Dược lý trường Đại học Lạc Hồng trước khi tiến
hành thử nghiệm.
Thuốc – Hóa chất thử nghiệm
Alloxan (98%) (A7413, Sigma Aldrich – Đức), ethanol
96ᵒ, Glibenclamid 5 mg (Domesco). Bộ Kit thử gồm: dung
dịch đệm phosphate pH 7,5, 4-aminophenazone (4 AAP),
phenol, glucose oxidase (GOD), peroxidase (POD) (Đức),
dung dịch glucose chuẩn (100 mg/100 ml) (Đức).
2.2. Phương pháp nghiên cứu
Gây đái tháo đường thực nghiệm bằng alloxan
Đo đường huyết chuột, chọn ra những chuột có đường
huyết sinh lý để tiến hành đưa vào thử nghiệm. Chuột được
cho nhịn đói qua đêm sau đó tiêm tĩnh mạch đuôi chuột
alloxan liều duy nhất 60 mg/kg (pha trong nước muối sinh lý,
điều kiện tiêm là 0,1 ml/10 g chuột). Sau 72 giờ, tiến hành đo
đường huyết những con chuột trên, và giữ lại những con
chuột có đường huyết > 200 mg/dL để làm thí nghiệm tiếp
theo [6-8].
Đánh giá tính khả dụng của mô hình gây tăng đường
huyết bằng alloxan
Chuột bị đái tháo đường được chia ngẫu nhiên thành 2 lô
sao cho đường huyết không khác biệt có ý nghĩa:
Lô chứng bệnh (n = 6): cho uống nước cất mỗi ngày.
Lô thuốc đối chứng (n = 6): cho uống glibenclamid với
liều 5 mg/kg mỗi ngày.
Chọn những con chuột bình thường làm lô sinh lý (n = 6)
và cho uống nước cất mỗi ngày.
Ngày đầu tiên cho chuột uống glibenclamid sẽ tính là ngày
0, đo đường huyết của 3 lô chuột trên vào các ngày 0, ngày 5,
ngày 10, ngày 15.
Khảo sát tác động hạ đường huyết của các cao chiết
dược liệu Bìm ba răng
Chuột bị đái tháo đường được chia ngẫu nhiên thành các lô
sao cho đường huyết không khác biệt có ý nghĩa:
Lô chứng bệnh (n = 6): cho uống nước cất mỗi ngày.
Lô thuốc đối chứng (n = 6): cho uống glibenclamid liều 5
mg/kg mỗi ngày.
Các lô điều trị (n = 6): cho uống cao nước từ thân (T/N)
liều 100 mg/kg, cao cồn từ thân (T/C) liều 100 mg/kg, cao
nước từ rễ (R/N) liều 100 mg/kg, cao cồn từ rễ (R/C) liều 100
mg/kg, cao nước từ thân liều 50 mg/kg, cao cồn từ thân liều
50 mg/kg mỗi ngày.
Chọn những con chuột bình thường làm lô sinh lý (n = 6)
và cho uống nước cất mỗi ngày.
Ngày đầu tiên cho chuột uống cao/glibenclamide sẽ tính là
ngày 0, đo đường huyết của các lô chuột trên vào các ngày 0,
ngày 5, ngày 10, ngày 15.
Phương pháp định lượng đường huyết
Thời điểm lấy máu đuôi chuột đo đường huyết vào buổi
sáng sau khi cho chuột nhịn đói qua đêm. Đường huyết được
định lượng bằng phương pháp quang phổ UV-vis với bộ Kit
định lượng glucose oxidase. Đường huyết của chuột được đo
bằng máy phân tích sinh hóa Clindiag SA-20.
Công thức tính nồng độ glucose huyết trong mẫu thử:
n = 100 (mg/dL)
Phân tích thống kê số liệu thực nghiệm
Các số liệu được trình bày dưới dạng Số trung bình (Mean)
± SEM (Standard Error of Mean-Sai số chuẩn của số trung
bình). Sự khác biệt đường huyết và khối lượng giữa các lô
được phân tích bằng phương pháp Mann-Whitney với phần
mềm Minitab 18,0, p < 0,05 được cho là khác biệt có ý nghĩa
thống kê. Biểu đồ được vẽ bằng phần mềm Microsoft Excel
2016.
Nghiên cứu tác dụng hạ đường huyết của các cao chiết dược liệu Bìm ba răng trên chuột nhắt trắng
3. KẾT QUẢ
3.1. Đánh giá tính khả dụng của mô hình gây tăng đường
huyết bằng alloxan
(*) p < 0,05 khác biệt có ý nghĩa so với đường huyết ngày 0 trong cùng một lô.
(#) p < 0,05 khác biệt có ý nghĩa so với lô alloxan trong cùng một ngày.
(**) p < 0,05 khác biệt có ý nghĩa so với đường huyết trước tiêm.
Hình 1. Kết quả đánh giá tính khả dụng của mô hình gây
tăng đường huyết bằng alloxan.
Tiêm tĩnh mạch alloxan liều duy nhất 60 mg/kg làm tăng
rõ rệt chỉ số đường huyết sau 72 giờ thí nghiệm với tỉ lệ thành
công là 60%, đường huyết tăng cao tương đối ổn định trong
15 ngày và khác biệt có ý nghĩa thống kê vào tất cả các ngày
sau khi tiêm so với lô sinh lý. Đường huyết lô chứng bệnh ở
ngày cuối thử nghiệm vẫn tăng cao gấp 2,13 lần và khác biệt
có ý nghĩa so với lô sinh lý. Đường huyết lô chứng bệnh qua
các ngày điều trị không khác biệt có ý nghĩa thống kê.
Sau 15 ngày điều trị với glibenclamid 5 mg/kg, đường
huyết của các chuột thực nghiệm giảm có ý nghĩa thống kê
vào ngày 10 (p = 0,008) và ngày 15 (p = 0,001) so với ngày
đầu điều trị. Tỉ lệ giảm đường huyết là 47,65% vào cuối đợt
điều trị. Đường huyết của chuột được điều trị với
glibenclamid giảm có ý nghĩa thống kê vào ngày 10 (p =
0,008) và ngày 15 (p = 0,039) so với lô alloxan.
Như vậy, ở liều 60 mg/kg tiêm tĩnh mạch đuôi, alloxan bắt
đầu gây tình trạng tăng đường huyết sau 72 giờ tiêm và tương
đối ổn định trong vòng 15 ngày. Glibenclamid ở liều 5 mg/kg
có tác động giảm đường huyết đối với sự gia tăng đường
huyết gây bởi alloxan. Kết quả này phù hợp với nghiên cứu
trước đây [2], cho thấy tính lặp lại của thí nghiệm và khả
năng ứng dụng alloxan gây tăng đường huyết thực nghiệm ở
chuột.
3.2. Tác dụng hạ đường huyết của cao rễ cây Bìm ba răng
Đường huyết ngày 0 ở các lô thử nghiệm không khác biệt
có ý nghĩa thống kê.
Sau 15 ngày điều trị với cao R/N và R/C cây Bìm ba răng
liều 100mg/kg, đường huyết của các chuột thực nghiệm có
giảm so với ngày đầu điều trị, nhưng không khác biệt có ý
(*) p < 0,05 khác biệt có ý nghĩa so với đường huyết ngày 0 trong cùng một lô.
(#) p < 0,05 khác biệt có ý nghĩa so với lô alloxan trong cùng một ngày.
Hình 2. Tác động hạ đường huyết của cao rễ cây Bìm ba răng.
nghĩa thống kê so với ngày 0 và lô chứng bệnh.
Tỉ lệ giảm đường huyết ở ngày thứ 15 ở lô chuột uống cao
R/N và R/C cây Bìm ba răng liều 100 mg/kg lần lượt là
23,83% và 18,90% so với ngày đầu tiên điều trị.
3.3. Tác dụng hạ đường huyết của cao thân cây Bìm ba
răng
Đường huyết ngày 0 ở các lô thử nghiệm không khác biệt
có ý nghĩa thống kê.
Sau 15 ngày điều trị với cao T/N và T/C cây Bìm ba răng
liều 100 mg/kg, đường huyết của các chuột thực nghiệm
giảm có ý nghĩa thống kê vào ngày 15 (p tương ứng lần lượt
là 0,001; 0,005) so với ngày đầu điều trị; tỉ lệ giảm đường
(*) p < 0,05 khác biệt có ý nghĩa so với đường huyết ngày 0 trong cùng một lô.
(#) p < 0,05 khác biệt có ý nghĩa so với lô alloxan trong cùng một ngày.
Hình 3. Tác động hạ đường huyết của cao thân cây Bìm ba răng.
huyết vào ngày thứ 15 ở lô chuột uống cao T/N và T/C liều
100 mg/kg lần lượt là 48,71% và 37,65% so với ngày 0.
Điều trị với cao T/N liều 50 mg/kg, đường huyết của các
chuột thực nghiệm giảm có ý nghĩa thống kê vào ngày 15 (p
= 0,002, tỉ lệ giảm là 40,04%) so với ngày đầu điều trị; trong
khi đó ở cao T/C liều 50 mg/kg, đường huyết của các chuột
Nguyễn Thị Thùy Trang, Nguyễn Dương Ngọc Thới
thực nghiệm giảm không có ý nghĩa thống kê vào ngày 15 (p
= 0,066, tỉ lệ giảm là 20,27%) so với ngày đầu điều trị.
Kết quả thực nghiệm cho thấy cao T/N và T/C liều 100
mg/kg, cao T/N liều 50 mg/kg làm giảm đường huyết ở chuột
ĐTĐ so với ngày 0.
3.4. Thể trọng của chuột trong quá trình thử nghiệm
Hình 4. % chênh lệch trọng lượng của chuột bị ĐTĐ sau 15
ngày thử nghiệm so với ngày 0
Trọng lượng của chuột ở các lô thử nghiệm có sự tăng lên
nhưng không có khác biệt về mặt thống kê so với ngày 0.
Ngoài ra, trọng lượng của chuột ở các lô khác nhau cũng
không có sự khác biệt về mặt thống kê. Điều này chứng tỏ
việc sử dụng cao chiết từ Bìm ba răng không gây ảnh hưởng
đến trọng lượng của chuột thí nghiệm.
4. KẾT LUẬN
Cao thân Bìm ba răng chiết bằng nước và cồn 50% ở liều
100 mg/kg có tác dụng hạ đường huyết rõ rệt (đường huyết
giảm 48,71% và 37,65% so với ngày đầu điều trị). Liều 50
mg/kg cao thân chiết bằng nước cũng cho tác dụng hạ đường
huyết (đường huyết giảm 40,04% so với ngày đầu điều trị).
Cao rễ chiết bằng nước và cồn làm giảm đường huyết nhưng
không có ý nghĩa thống kê. Cao thân chiết bằng nước ở liều
100 mg/kg có tác dụng hạ đường huyết tốt nhất.
Kết quả thu được từ nghiên cứu này góp phần tạo
tiền đề cho các nghiên cứu sâu hơn về dược liệu Bìm ba răng,
từ đó có cơ sở ứng dụng cây Bìm ba răng trong việc phát
triển sản phẩm sử dụng trong điều trị đái tháo đường.
5. LỜI CẢM ƠN
Xin cảm ơn Trường Đại Học Lạc Hồng đã tạo điều kiện,
cung cấp kinh phí và hỗ trợ phòng thí nghiệm để thực hiện
nghiên cứu này. Cảm ơn Ban biên tập và phản biện Tạp chí
Khoa học Lạc Hồng (Journal of science of Lac Hong
University) đã góp ý cho bài báo này.
6. TÀI LIỆU THAM KHẢO
[1] Karuppusamy Arunachalam, Thangaraj
Parimelazhagan, Antidiabetic activity of aqueous root
extract of Merremia tridentata (L.) Hall. f. in
streptozotocin–induced–diabetic rats, Asian Pacific
journal of tropical medicine, 2012, 5(3), pp. 175-179.
[2] P. Ambika , S. N. Nair, Wound Healing Activity of
Plants from the Convolvulaceae Family, Adv Wound
Care (New Rochelle), 2019, 8(1), pp. 28-37
[3] S. Mohamed, Analgesic activity of Merremia tridentata
(L.) Hall. F., AARJMD, 2013, 1(14), pp. 307-313.
[4] Võ Văn Chi, Từ điển cây thuốc Việt Nam, Tập 1, Nhà
xuất bản Y học, 2018, pp. 163-164.
[5] Võ Văn Chi, Từ điển thực vật thông dụng, Tập 1, Nhà
xuất bản Khoa học và Kỹ Thuật Hà Nội, 2004
[6] Lê Thị Ngọc Anh, Huỳnh Ngọc Trinh, Khảo sát tác
động hạ glucose huyết và độc tính cấp của lá dứa thơm
(Pandanus amaryllifolius Roxb.). Tạp chí Dược học,
2015, 55(471), 50-53.
[7] Dra LA, Sellami S, Rais H, Aziz F, Aghraz A,
Bekkouche K, Markouk M, Larhsini M., Antidiabetic
potential of Caralluma europaea against alloxan-
induced diabetes in mice, Saudi J Biol Sci., 2019, 26(6),
1171-1178
[8] Ighodaro OM, Adeosun AM, Akinloye OA, Alloxan-
induced diabetes, a common model for evaluating the
glycemic-control potential of therapeutic compounds
and plants extracts in experimental studies, Medicina
(Kaunus), 2017, 53(6), 365 – 374.
Các file đính kèm theo tài liệu này:
nghien_cuu_tac_dung_ha_duong_huyet_cua_cac_cao_chiet_duoc_li.pdf