Ảnh hưởng củ pH đến sự phát triển
củ nấm Fusarium oxysporum gây b nh héo
vàng cây đinh lăng
Ngoài yếu tố về nhiệt độ thì pH đất cũng là
một yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến sự phất
triển của nhiều loài nấm đất. Để tiến hành nghiên
cứu ảnh hưởng của các mức pH khác nhau đến
sinh trưởng của nấm F.oxysporum gây bệnh héo
vàng trên cây đinh lăng, nấm F.oxysporum được
cấy trên môi trường PDA đã được chuẩn độ ở
các mức pH 4,5,6,7 và tiến hành so sánh sự phát
triển của tản nấm sau 24 giờ, 48 giờ, 72 giờ. Kết
quả của ảnh hưởng của pH đến sự phát triển của
nấm F.oxysporum gây bệnh héo vàng trên cây
đinh lăng được thể hiện ở bảng 4.
Đường kính đĩa petri = 90 mm
Từ kết quả bảng 4 và hình 5 cho thấy, sau khi
cấy 24 giờ đường kính tản nấm F.oxysporum gây
bệnh trên cây đinh lăng trên môi trường có pH =
4 là 5,50mm, pH = 5 là 7,42mm, pH = 6 là
10,15mm và pH = 7 là 10,84mm. Sau 96 giờ theo
dõi tản nấm trên môi trường pH = 7 phát triển tốt
nhất 53,18mm trong khi đó tản nấm ở môi trường
pH = 4,5,6 lần lượt là 40,73mm, 42,54mm và
48,49mm. Như vậy, nấm F.oxysporum có khả
năng phát triển ở tất cả các mức pH từ 4 – 7
trong đó tại mức pH = 7 nấm phát triển tốt nhất,
pH 5 - 6 kích thước tản nấm phát triển tại mức
trung bình và phát triển kém nhất ở mức pH = 4.
8 trang |
Chia sẻ: hachi492 | Lượt xem: 2 | Lượt tải: 0
Bạn đang xem nội dung tài liệu Nghiên cứu tác nhân gây bệnh héo vàng trên cây đinh lăng (polyscia fruticosa (L) harms), để tải tài liệu về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
Kết quả nghiên cứu Khoa học BVTV – Số 3/2019
21
NGHIÊN CỨU TÁC NHÂN GÂY BỆNH HÉO VÀNG TRÊN CÂY ĐINH LĂNG
(Polyscia fruticosa (L.) Harms.)
Study on the Pathogen Causing Yellow Wilt on Ming Aralia
(Polyscia fruticosa (L.) Harms.)
Đặng Thị Hà
1
, Chu Thị Mỹ
1
, Tạ Thị Huyền Anh
2
, Lê Thị Thu
1
,
Hoàng Diệu Linh
1
và Phan Thúy Hiền
1*
Ngày nhận bài: 11.05.2019 Ngày chấp nhận: 04.06.2019
Abstract
Ming Aralia, Polyscias fruticosa (L.) Harms (Araliaceae), orginate from Polynesia Island, and they are popular
same as medicinal plant in Viet Nam. Between March and August 2018, fifteen Ming Aralia samples with yellow
wilt symtoms were collected in Ha Noi, Hoa Binh, Nam Dinh and Thai Binh provinces in Viet Nam. Plant
pathogens were isolated, purified and identified down to its species, based on taxonomic keys. The pathogen
Fusarium oxysporum was consistently isolated from the disease samples on Ming aralia. When this pathogen was
isolated on CLA and PDA media, microconidia are usually formed abundantly in false – head on short
monophialades on hyphae, and oblong to ellipsoid, oval or reniform. The macroconiadia are short to medium in
leghth, falcate to almost straight, thin walled and usually 3 septate. Chlamydospores appear after isolating from
14 to 20 days on the surface of the agar of the CLA plate. The identification was confirmed by pathogenicity test
following Koch
’
s postulate. The optimum conditions for the development of F.oxysporum causing yellow wilt
diseases are 25
o
C đến 30
o
C and pH 7. This is the first report about F.oxysporum in Ming aralia in Viet Nam.
Keywords: Ming aralia, yellow wilt disease
1. ĐẶT VẤN ĐỀ
*
Đinh lăng có tên khoa học là Polyscia
fruticosa (L.) Harms và là cây có nguồn gốc từ
đảo Polynesia ở Thái Bình Dương. Đinh lăng ưa
điều kiện ẩm trung bình và khoảng nhiệt độ từ
16-29⁰C (Yen và Knoll, 1991). Việt Nam đinh
lăng được trồng phổ biến trên toàn quốc, Miền
Bắc đinh lăng được trồng nhiều tại các tỉnh Nam
Định, Thái Bình, Hòa Bình
Do tác dụng y học của cây đinh lăng Theo y
học cổ truyền toàn cây đinh lăng bao gồm rễ,
thân, lá đều có thể sử dụng làm thuốc có tác
dụng thông huyết mạch, bồi bổ khí huyết, chống
dị ứng, ho ra máu... Đinh lăng ngày càng được
trồng với diện tích lớn nên bệnh trên cây đinh
lăng cũng được quan tâm nhiều hơn (Đỗ Huy
Bích và cộng sự, 2004).
Trên thế giới bệnh trên cây đinh lăng đã
được quan tâm nghiên cứu từ rất lâu nhưng
những công bố về thành phần sâu bệnh hại
công bố chưa nhiều. Bệnh đốm lá vi khuẩn do
vi khuẩn Pseudomonas cichorii cũng được
1. Trung tâm nghiên cứu trồng và chế biến cây thuốc
Hà Nội - Viện Dược Liệu
2. Học Viện Nông nghiệp Việt Nam
* Corresponding author: phanthuyhien@yahoo.com
công bố gây hại trên đinh lăng từ rất sớm ở
bang Floria, Mỹ nhưng vẫn chưa có ghi nhận
thêm về tác hại của bệnh này cũng như thiệt
hại về kinh tế do bệnh này gây ra ở vùng này
(Chase và Brunk, 1984). Sự xuất hiện của
bệnh đốm lá Alternaria do nấm Alternaria
panax cũng đã được quan sát lần đầu tiên
trên các vùng trồng đinh lăng ở đảo
Ogasawara (Bonin), Nhật Bản (Ono, 2004).
Nấm Fusarium oxysporum đã được nghi nhận
là tác nhân chính ra bệnh héo vàng trên
loài Polyscias balfouriana thuộc chi đinh lăng
được trồng phổ biến ở Ấn Độ (Dissanayake và
Kumari, 2012).
Việt Nam, mặc dù những năm gần đây đinh
lăng bắt đầu được quan tâm và mở rộng trồng
với diện tích lớn trên khắp cả nước nhưng chưa
có công bố chính thức nào về thành phần bệnh
hại trên cây đinh lăng. Những năm gần đây do
phản ánh của người sản xuất, trên đinh lăng xuất
hiện bệnh có triệu chứng héo vàng và làm ảnh
hưởng nghiêm trọng đến sinh trưởng của cây
đinh lăng ở một số vùng như Ninh Bình, Thái
Bình và cũng chưa có một công bố nào về tác
nhân gây bệnh này. Bài báo này là công bố đầu
tiên về nghiên cứu tác nhân gây bệnh héo vàng
trên đinh lăng ở Việt Nam.
Kết quả nghiên cứu Khoa học BVTV – Số 3/2019
22
2. VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Vật liệu, thời gian và địa điểm nghiên cứu
- Các mẫu bệnh héo vàng đinh lăng được thu
thập tại các vùng trồng đinh lăng ở Hà Nội, Ninh
Bình, Nam Định và Thái Bình năm 2018.
- Các vật liệu khác sử dụng trong nghiên cứu
bao gồm: nguyên liệu sử dụng trong môi trường
phân lập, làm thuần và nuôi cấy tác nhân gây
bệnh [koai tây - đường - agar (PDA), môi trường
PDA một phần tư độ mạnh có bổ sung kháng
sinh (mPDA), thạch - nước cất (WA), môi trường
lá cẩm chướng CLA và nguyên liệu sử dụng cho
môi trường nhân sinh khối nấm F. oxysporum.
(Burgess và cộng sự, 2008).
- Các trang thiết bị và dụng cụ: Tủ sấy dụng
cụ, buồng cấy, nồi hấp, tủ định ôn, dụng cụ nuôi
cấy nấm, máy đo pH.
- Nghiên cứu được thực hiện từ tháng 3 đến
tháng 12 năm 2018 tại Trung Tâm Nghiên cứu
trồng và chế cây thuốc Hà Nội.
2.2 Phƣơng pháp nghiên cứu
2.2.1 Phương pháp lấy mẫu
Các mẫu bệnh trên cây đinh lăng có triệu
chứng héo vàng được thu thập tại các vùng trồng
đinh lăng tại Hà Nội, Ninh Bình, Nam Định và
Thái Bình năm 2018.
2.2.2 Phương pháp phân lập
Mẫu bệnh trên đinh lăng có triệu chứng héo
vàng điển hình sau khi thu thập từ đồng ruộng về
được loại bỏ thần lá và rửa sạch dưới vòi nước.
Cắt bộ phận gốc thân và củ bị bệnh thành những
miếng nhỏ sao cho miếng cắt nằm ở ranh giới
giữa mô bệnh và mô khỏe. Khử trùng miếng cắt
bằng ethanol 70% trong 5 giây, sau đó rửa sạch
bằng nước cất vô trùng, dùng dao cấy đã khử
trùng cắt vết bệnh thành các miếng nhỏ 5 x 5 mm
và cấy lên môi trường mPDA. Khi nấm đã phát
triển với kích thước đường kính tản nấm 1- 2 cm,
cấy truyền sang môi truòng WA. Nấm được làm
thuần bằng cách cấy đỉnh sinh trưởng của sợi
nấm từ môi trường WA sang môi trường PDA và
CLA và được nuôi cấy trong phòng thí nghiệm ở
điều kiện 25
o
C với 12h chiếu sáng xen kẽ 12 h
tối. (Burgess và cộng sự, 2008)
2.2.3 Phương pháp giám định
Sau 7 ngày nuôi cấy, nấm được giám định
dựa vào hình thái quan sát dưới kính hiển vi
quang học (Banett và Hunter, 1998). Các mẫu
nấm được giám định dựa vào khóa giám định
của Leslie và cộng sự (2006)
2.2.4 Phương pháp lây b nh nhân tạo
Phương pháp lây bệnh qua đất được tiến
hành theo Burgess và cộng sự (2008). Cây đinh
lăng sử dụng cho thí nghiệm là các cây 1 năm
tuổi khỏe mạnh, không có biểu hiện bị bệnh trồng
trong các chậu thí nghiệm chứa giá thể đất đã
khử trùng. 15 cây đinh lăng khỏe mạnh được sử
dụng cho 1 lần nhắc lại trong thí nghiệm lây bệnh
. Nguồn nấm lây bệnh được nhân sinh khối trên
giá thể hạt kê - trấu trong phòng thí nghiệm.
Trộn hạt kê và vỏ trấu theo tỷ lệ 1: 1 về thể tích
rồi ngâm nước và để qua đêm trong tủ lạnh, sau
đó chắt bỏ phần nước. Cho 150ml hỗn hợp giá
thể vào một bình tam giác dung tích 250ml, nút
chặt và hấp khử trùng. Để bình nguội, sau đó cấy
các miếng thạch có sợi nấm vào giá thể trong
bình tam giác. Lắc bình tam giác 2-3 ngày sau
khi cấy để đảm bảo nguồn bệnh được phân bố
đều trong giá thể. Nấm nhân nuôi trong bình tam
giác 15 ngày, lấy ra trộn với đất xung quanh gốc
cây cần lây bệnh (mật độ bào tử nấm 10
6
cfu/1ml
hỗn hợp giá thể). Theo dõi quá trình hình thành,
phát triển triệu chứng trên cây được lây bệnh
hàng ngày. Mẫu bệnh có triệu chứng điển hình từ
thí nghiệm lây bệnh được tái phân lập theo quy
tắc Koch.
Thời điểm lây bệnh nhân tạo: tháng 6 năm 2018
Chỉ tiêu theo dõi: Thời gian từ khi lây bệnh
đến khi xuất hiện triệu chứng, thời gian từ khi lây
bệnh đến khi cây chết, tỷ lệ cây nhiễm bệnh, khả
năng phục hồi.
2.2.5 Nghiên cứu ảnh hưởng củ nhi t độ và
pH đến sự phát triển củ tản nấm.
Chọn mẫu nấm đã được làm thuần, cắt tản
nấm thành những miếng cấy tròn có đường kính
5mm, cấy trên môi trường PDA, mỗi công thức
lặp lại 5 lần. Đối với thí nghiệm ảnh hưởng của
nhiệt độ các mẫu nấm thuần được nuôi cấy trong
tủ định ôn ở các điều kiện nhiệt độ 20, 25, 30 và
35
o
C. Đối với thí nghiệm về ảnh hưởng của pH,
nấm được nuôi cấy trên môi trường PDA có điều
chỉnh pH ở mức 4,5,6, 7 trong điều kiện nhiệt độ
25
o
C. Các công thức thí nghiệm về nhiệt độ và
pH đều được nhắc lại 5 lần, mỗi lần 3 đĩa petri có
đường kính 9 cm.
Chỉ tiêu theo dõi: Đường kính tản nấm sau khi
cấy 24 giờ, 48 giờ, 72 giờ,
3. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN
3.1 Phân lập nấm gây bệnh héo vàng đinh lăng
Mười năm mẫu đinh lăng có triệu chứng
héo vàng được thu thập tại Hà Nội, Nam Định,
Kết quả nghiên cứu Khoa học BVTV – Số 3/2019
23
Ninh Bình và Thái Bình. Hai bộ phận rễ củ và
thân mạch dẫn có triệu chứng bị thâm nâu
được phân lập trên môi trường mPDA. Kết quả
phân lập được trình bày tại bảng 1 và hình 1.
Bảng 1. Phân lập nấm gây bệnh héo vàng trên đinh lăng
(Trung tâm nghiên cứu trồng và chế biến cây thuốc Hà Nội, năm 2018)
STT Ký hiệu mẫu Địa điểm thu thập Ngày thu thập
Kết
quả
Ghi chú
01 ĐL 01 Thanh Trì - Hà Nội 15/03/2018 +
Cây đinh lăng
3 năm tuổi
02 ĐL 02 Nho Quan- Ninh Bình 22/03/2018 + Cây con vườn ươm
03 ĐL 03 Hải Hậu, Nam Định 22/03/2018 + Cây 2 năm tuổi
04 ĐL 04 Thanh Trì – Hà Nội 19/03/208 - Cây 4 năm tuổi
05 ĐL 05 Nho Quan – Ninh Bình 22/03/2018 + Cây 3 năm tuổi
06 ĐL 06 Nho Quan – Ninh Bình 19/05/2018 + Cây 3 năm tuổi
07 ĐL 07 Nho Quan – Ninh Bình 19/05/2018 + Cây vườn ươm
08 ĐL 08 Thái Hưng – Thái Bình 10/04/2018 - Cây 3 năm tuổi
09 ĐL 09 Thái Hưng – Thái Bình 10/04/2018 - Cây 3 năm tuổi
10 ĐL 10 Thanh Trì – Hà Nội 19/06/2018 + Cây vườn ươm
11 ĐL 11 Thanh Trì – Hà Nội 19/06/2018 - Cây 3 năm tuổi
12 ĐL 12 Nho Quan – Ninh Bình 24/8/2018 + Cây 2 năm tuổi
13 ĐL 13 Nho Quan – Ninh Bình 24/08/2018 + Cây 3 năm tuổi
14 ĐL 14 Hải Hậu – Nam Định 24/08/2018 + Cây 3 năm tuổi
15 ĐL 15 Nghĩa Hưng – Nam Định 24/08/2018 - Cây 3 năm tuổi
Ch thích: (+): Các mẫu phân lập được nấm Fusarium oxysporum, (-) Mẫu không phân lập
được nấm Fusarium sp.
Từ 15 mẫu đinh lăng có triệu chứng héo
vàng 66,7 % tỷ lệ mẫu thu được có nấm
Fusarium sp. đây là nấm gây bệnh héo vàng
có phổ ký chủ rất rộng trên cây trồng cạn. Từ
kết quả phân lập cũng cho thấy toàn bộ mẫu
thu thập ở Ninh Bình đều xuất hiện nấm
Fusarium sp., 50% số mẫu thu thập được Hà
Nội phân lập được nấm Fusarium sp., 75% số
mẫu thu thập được ở Nam Định phân lập
được nấm Fusarium sp. Các mẫu thu thập ở
Thái Bình đều không phân lập được nấm
Fusarium sp.(Hình 1 và hình 2). Bệnh héo
vàng do nấm Fusarium sp. gây bệnh cho đinh
lăng cả ở giai đoạn vườn ươm và ở ruộng sản
xuất khi cây được 2 đến 3 năm tuổi.
Hình 1. Triệu chứng bệnh héo vàng đinh lăng
(a: Tri u chứng cây bị héo trên đồng ruộng;
b,c: Tri u chứng mạch dẫn đinh lăng bị thâm nâu)
a b c
Kết quả nghiên cứu Khoa học BVTV – Số 3/2019
24
3.2 Đặc điểm hình thái của các nguồn nấm
gây bệnh héo vàng đinh lăng
Các chủng nấm đã được phân lập trên đinh
lăng trồng tại Hòa Bình, Hà Nội và Nam Định đã
được giám định dựa trên đặc điểm hình thái của
nấm khi được cấy trên môi trường PDA và CLA
là loài Fusarium oxysporum. Loài này có những
đặc điểm hình thái điển hình như sau:
Tản nấm của các chủng nấm này khi cấy trên
môi trường PDA sau 4 đến 6 ngày có màu từ
trắng đến tím nhạt, các chủng nấm đều tạo sắc
tố trên môi trường từ trắng đến hơi tím.
Các nguồn nấm sau khi được phân lập và tiến
hành cấy truyền, nguồn nấm bệnh được làm
thuần và quan sát đặc điểm hình thái màu sắc
tản nấm. Khi quan sát các chủng nấm gây bệnh
héo vàng đinh lăng trên môi trường CLA sau 7
ngày quan sát được bào tử nhỏ của nấm này
được hình thành ngay sau cấy từ 1 đến 2 ngày
trong điều kiện nhiệt độ phòng 25
o
C. Bào tử
phân sinh nhỏ (Microconidia) hình thành trong
bọc giả (fall head) trên cành bào tử phân sinh
đơn dạng monophialide (có 1 lỗ sinh bào tử)
ngắn. Bào tử phân sinh nhỏ đa dạng về hình thái
(hình oval, elip, thận), thường đơn bào, đôi khi có
một vách ngăn (Hình 2.c).
Bào tử phân sinh lớn (Macroconidia) hình
thành trên môi trường CLA có kích thước trung
bình và dài, phần lớn có 3 vách ngăn mỏng, một
đầu nhọn có thể thon nhọn, một đầu hình bàn
chân (Hình 2 a,b)
Nấm cũng hình thành bào tử hậu
(chlamydospores) trên môi trường CLA sau 14
đến 20 ngày. Bào tử hậu hình cầu, nhẵn, thường
hình thành đơn lẻ trên sợi nấm (Hình 2 d).
Các đặc điểm hình thái của các chủng nấm
phân lập được trên mẫu bệnh héo vàng đinh lăng
đều phù hợp với mô tả về đặc điểm hình thái của
loài Fusarium oxysporum. (Theo mô tả của Leslie
và cộng sự, 2006; Banett và Hunter, 1998)
Hình 2. Đặc điểm hình thái của nấm Fusarium oxysporum phân lập
từ mẫu cây đinh lăng bị bệnh héo vàng
a, b: Bào tử phân sinh lớn; c: bào tử phân sinh nhỏ dạng bọc giả
gắn trên cành BTPS monophi lide; d: Bào tử hậu trên môi trường CLA.
c
a
b
d
Kết quả nghiên cứu Khoa học BVTV – Số 3/2019
25
3.3 Kết quả lây bệnh nhân tạo nấm Fusarium
oxysporum trên cây đinh lăng
Sau khi phân lập được nấm F.oxysporum, lây
bệnh nhân tạo được tiến hành trong chậu vại với
cây đinh lăng 1 năm tuổi không bị bệnh, kết quả
lây nhiễm nhân tạo được tập hợp bảng 2
Bảng 2. Kết quả lây bệnh nhân tạo nấm Fusarium oxysporum trên cây đinh lăng
(Trung tâm nghiên cứu trồng và chế biến cây thuốc Hà Nội, tháng 8 năm 2018)
Chỉ tiêu theo dõi Công thức lây bệnh Công thức đối chứng
Thời gian ủ bệnh (ngày) 2-5 ngày -
Tỷ lệ cây nhiễm bệnh (%) 100% 0
Thời gian từ khi cây nhiễm bệnh đến chết (ngày) 17 - 21 ngày -
Khả năng phục hồi (%) 0 -
Hình 3. Cây đinh lăng bị nhiễm bệnh sau khi lây bệnh nhân tạo 17 ngày
: Hình ảnh đinh lăng trước khi lây nhiễm; b: đinh lăng s u khi lây b nh 17 ngày;
c: đinh lăng đối chứng; d: Hình ảnh bổ đôi thân cây đinh lăng bị nhiễm b nh
và cây đinh lăng đối chứng
a b
c d
Kết quả nghiên cứu Khoa học BVTV – Số 3/2019
26
Khi lây nhiễm nấm Fusarium oxysporum trên
đinh lăng tỷ lệ nhiễm bệnh rất cao và có thời gian
tiềm dục trên cây ký chủ ngắn 2 – 5 ngày cây bắt
đầu xuất hiện triệu chứng héo và sau 17 đến 21
ngày cây bị héo hoàn toàn, lá biến vàng trong khi
công thức đối chứng cây vẫn sinh trưởng và phát
triển bình thường. Khi kiểm tra mạch dẫn của cây
đã được lây nhiễm nấm F.oxysporum toàn bộ rễ
và mạch dẫn bị thâm nâu triệu chứng này không
phát hiện ở cây đối chứng không lây bệnh (Hình 3).
Kết quả tái phân lập mẫu bệnh chỉ thu được một
loài duy nhất là F.oxysporum. Kết quả này khẳng
định, nấm F.oxysporum là tác nhân gây bệnh héo
vàng đinh lăng..
3.4 Nghiên cứu về đặc điểm sinh học và
sinh thái của nấm Fusarium oxysporum gây
bệnh héo vàng trên cây đinh lăng
Trong số các bệnh nấm có nguồn gốc trong
đất hại vùng rễ trên cây trồng thì bệnh héo vàng
do loài nấm Fusarium oxysporum phát sinh gây
hại phổ biến và rất nguy hiểm đến cây trồng. Vì
vậy, để hiểu rõ đặc điểm phát triển của nấm
Fusarium oxysporum trên cây đinh lăng, chúng
tôi đã đi sâu nghiên cứu về đặc điểm sinh học và
sinh thái của loài nấm này, tù đó làm cơ sở để
đưa ra những biện pháp phòng trừ kịp thời và
hợp lý.
3.4.1 Ảnh hưởng củ nhi t độ đến sự sinh
trưởng củ sợi nấm Fus rium oxysporum gây
b nh héo vàng cây đinh lăng
Để tiến hành nghiên cứu ảnh hưởng của các
mức nhiệt độ khác nhau đến sinh trưởng của tản
nấm F.oxysporum gây bệnh héo vàng trên cây
đinh lăng , các tản nấm F.oxysporum được cấy
trên môi trường PDA và đặt ở tủ định ôn ở các
mức nhiệt độ 20
o
C, 25
o
C, 30
o
C,35
o
C và tiến
hành theo dõi sự phát triển của tản nấm sau 24
giờ, 48 giờ, 72 giờ. Kết quả được trình bày ở
bảng 3 và hình ảnh 4.
Bảng 3. Ảnh hƣởng của nhiệt độ đến sự
phát triển của tản nấm Fusarium oxysporum
trên môi trƣờng PDA
(Trung tâm nghiên cứu trồng và chế biến cây
thuốc Hà Nội, tháng 10 năm 2018)
Ngưỡng
nhiệt độ
(
o
C )
Đường kính trung bình tản nấm
(mm)
Sau 24h Sau 48h Sau 72h
20 7,20
c
14,40
a
21,80
c
25 7,87
b
17,54
b
25,73
b
30 9,90
a
20,96
a
28,42
a
35 7,12
c
14,13
c
21,55
c
LSD0,05 0,36 0,68 1,10
CV% 2,3 2,0 2,3
* Ghi ch : Các công thức trong cùng một cột
có chữ cái giống nh u thì khác nh u không có ý
nghĩ với độ tin cậy 95%
Qua kết quả bảng 3 và hình ảnh 4 cho thấy
nấm F.oxysporum sinh trưởng tốt nhất ở ngưỡng
nhiệt độ 25
o
C và 30
o
C, nấm sinh trưởng kém
nhất ở nhiệt độ 20
o
C và 35
o
C. ngưỡng nhiệt
độ 35
o
C môi trường có hiện tượng bị tạp. Sau
72h nuôi cấy đường kính trung bình của tản nấm
ở ngưỡng nhiệt độ 30
o
C là cao nhất 28,42mm, ở
ngưỡng nhiệt độ 35
o
C tản nấm phát triển kém
nhất chỉ đạt 21,55mm và môi trường bị tạp nhiều
hơn. Như vậy tản nấm F.oxysporum có khả năng
sinh trưởng ở phạm vi tương đối rộng và thuận
lợi ở ngưỡng nhiệt độ ấm áp từ 25 đến 30
o
C.
Hình 4. Đƣờng kính tản nấm F.oxysporum cấy trên môi trƣờng PDA ở nhiệt độ 20
o
C
(A), nhi t độ 25
o
C (B), nhi t độ 30
o
C (C),nhi t độ 35
o
C (D) s u 72 giờ nuôi cấy.
A B C D
Kết quả nghiên cứu Khoa học BVTV – Số 3/2019
27
3.4.2 Ảnh hưởng củ pH đến sự phát triển
củ nấm Fusarium oxysporum gây b nh héo
vàng cây đinh lăng
Ngoài yếu tố về nhiệt độ thì pH đất cũng là
một yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến sự phất
triển của nhiều loài nấm đất. Để tiến hành nghiên
cứu ảnh hưởng của các mức pH khác nhau đến
sinh trưởng của nấm F.oxysporum gây bệnh héo
vàng trên cây đinh lăng, nấm F.oxysporum được
cấy trên môi trường PDA đã được chuẩn độ ở
các mức pH 4,5,6,7 và tiến hành so sánh sự phát
triển của tản nấm sau 24 giờ, 48 giờ, 72 giờ. Kết
quả của ảnh hưởng của pH đến sự phát triển của
nấm F.oxysporum gây bệnh héo vàng trên cây
đinh lăng được thể hiện ở bảng 4.
Đường kính đĩa petri = 90 mm
Từ kết quả bảng 4 và hình 5 cho thấy, sau khi
cấy 24 giờ đường kính tản nấm F.oxysporum gây
bệnh trên cây đinh lăng trên môi trường có pH =
4 là 5,50mm, pH = 5 là 7,42mm, pH = 6 là
10,15mm và pH = 7 là 10,84mm. Sau 96 giờ theo
dõi tản nấm trên môi trường pH = 7 phát triển tốt
nhất 53,18mm trong khi đó tản nấm ở môi trường
pH = 4,5,6 lần lượt là 40,73mm, 42,54mm và
48,49mm. Như vậy, nấm F.oxysporum có khả
năng phát triển ở tất cả các mức pH từ 4 – 7
trong đó tại mức pH = 7 nấm phát triển tốt nhất,
pH 5 - 6 kích thước tản nấm phát triển tại mức
trung bình và phát triển kém nhất ở mức pH = 4.
Bảng 4. Ảnh hƣởng của pH đến đặc điểm
phát triển của nấm F.oxysporum trên cây
đinh lăng ở các mức pH khác nhau
(Trung tâm nghiên cứu trồng và chế biến cây
thuốc Hà Nội, tháng 11 năm 2018)
Ngưỡn
g pH
Đường kính trung bình tản nấm
(mm)
24 giờ 48 giờ 72 giờ 96 giờ
4 5,50
c
17,08
d
27,82
d
40,73
c
5 7,42
c
20,95
c
30,28
c
42,54
c
6 10,15
b
22,00
b
32,17
b
48,49
b
7 10,84
a
23,34
a
36,06
a
53,18
a
LSD0,05 0,53 0,65 1,09 1,70
CV% 3,6 1,6 1,7 1,8
Ghi ch : Các công thức trong cùng một cột có
chữ cái giống nh u thì khác nh u không có ý
nghĩ với độ tin cậy 95%
A B C D
Hình 5. Đƣờng kính tản nấm F.oxysporum cấy trên môi trƣờng PDA có pH = 4
(A), pH = 5 (B), pH = 6 (C), pH = 7 (D) s u 96 giờ nuôi cấy
4. KẾT LUẬN
Kết quả giám định dựa vào hình thái cho thấy
bệnh héo vàng đinh lăng tại Ninh Bình, Nam Định
và Hà Nội là do nấm Fusarium oxysporum gây
ra. Bệnh này gây ra các triệu chứng điển hình
như cây bị héo rũ hoặc héo vàng, mạch dẫn thân
và củ bị thâm nâu. Bệnh có thể gây hại trên đinh
lăng tại vườn ươm và ngoài đồng ruộng sản xuất
khi đinh lăng được 3 đến 4 năm tuổi.
Nhiệt độ thích hợp nhất cho nấm Fusarium
oxysporum phát triển là từ 25- 30
o
C và pH 7.
Kết quả nêu ra trong bài báo này mới chỉ đề
cập đến những nghiên cứu đầu tiên về bệnh héo
vàng đinh lăng tại Ninh Bình, Nam Định và Thái
Bình. Cần có những nghiên cứu sâu hơn về nấm
gây bệnh héo vàng trong sản xuất để đưa ra biện
pháp phòng trừ thích hợp.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Banett H.L and Hunter B.B, 1998. Illustrated
genera of imperfect fungi”, The American
Phytopathological Society, St.Paul, Minnesota, pp.218
2. Burgess L.W., Knight T.E., Tesoriero L. and
Phan H. T., 2008. Diagnostic manual for plant
diseases in Vietnam”, ACIAR Monograph No. 129,
210pp. ACIAR: Canberra.
Kết quả nghiên cứu Khoa học BVTV – Số 3/2019
28
3. Chase, A. R.; Brunk, D. D, 1984. Bacterial leaf
blight incited by Pseudomonas cichorii in Schefflera
arboricola and some related plants”, Plant Disease, 68,
1, pp 73-74.
4. Dissanayake, M. L. M. C.; Kumari, W. K. M. T,
2012. Efficacy of various plant extracts to
control Fusarium wilt of Polyscia balfouriana variety
Marginata”, Asian Journal of Experimental Biological
Science, 3,1, pp129-135.
5. Đỗ Huy Bích, Đặng Quang Chung, Bùi Xuân
Chương, Nguyễn Thuận Dong, Đỗ Trung Đàm, Phạm
Văn Hiển, Vũ Ngọc Lộ, Phạm Duy Mai, Phạm Kim
Mãn, Đoàn Thị Nhu, Nguyễn Tập, Trần Toàn, Viện
dược liệu, 2004. Cây thuốc và động vật làm thuốc ở
Vi t Nam, Nhà xuất bản khoa học và kỹ thuật Hà Nội,
2004, Tập II, Tr. 430 – 435.
6. Leslie JF, Summerell BA, 2006. The Fusarium
Laboratory Manual. Blackwell Publishing, USA. p. 369.
7. Pereira, T. B. C.; Dally, E. L.; Davis, R. E.; Banzato,
T. C.; Bedendo, I. P.(2016), “Ming Aralia (Polyscias
fruticose), a new host of a phytoplasma subgroup
16SrVII-B strain in Brazil”, American Phytopathological
Society (APS Press), St. Paul, USA, 100, 3, pp 645.
8. Ono, T, 2004. Occurrence of Alternaria leaf spot
in ming aralia and geraniumleaf aralia caused
by Alternaria panax on Ogasawara (Bonin) Islands”,
Kanto-Tosan Plant Protection Society, Tsukuba,
Japan, No.51, pp 67-69
9. Yen, T T; Knoll, J., 1991. Extension of lifespan in
mice treated with Dinh lang (Policias fruticosum L.) and
(-) deprenyl. Acta Physiologica Hungarica. 79 (2):
119–124.
Phản biện: TS. Hà Minh Thanh
NHỮNG LOÀI CÔN TRÙNG CÁNH CỨNG (COLEOPTERA) CÓ GIÁ TRỊ
BẢO TỒN VÀ BIỆN PHÁP BẢO TỒN, PHÁT TRIỂN Ở KHU BẢO TỒN
THIÊN NHIÊN PÙ LUÔNG, TỈNH THANH HÓA
The List of The Value Bettle Species and The Available Solutions for
Conservation, Development in The Pu Luong Natural Reserve,
Thanh Hoa Province
Phạm Hữu Hùng
1
, Nguyễn Thế Nhã
2
, Lê Văn Ninh
1
, Lại Thị Thanh
1
, Hoàng Thị Hằng
2
Ngày nhận bài: 12.04.2019 Ngày chấp nhận: 02.05.2019
Abstract
The results of the study showed that the most effective methods is line thinning, in which there are 75 species
(accounting for 74.26% of total species) of 14 genus (accounting for 93.33% of total genus); Shannon index H = 2.5 and
the highest relative abundance is 17.7 percent. The next method is additional planting method, it has the corresponding
index of 70 species (accounting for 63.37%), which belongs to 14 families (accounting for 93.33%); H = 2.3 and the highest
relative abundance is 15.6 percent. Forest protection finds out 62 species, accounting for 61.39% belonging to 13 families
accounting for 86.67%; Shannon H = 2.2 and the highest relative abundance is 17.3 percent. Without impact, the
corresponding index are 37 species (accounting for 36.63%), 11 families (accounting for 73.33%); H = 1.9 and the highest
relative abundance is 16.2 percent, respectively. The species need to be conserved and developed including 43 species of
5 families associated with 7; 4; 11; 4; and 17, which belong to Lucanidae, Passlidae, Scarababidae, Coccinellidae and
Carabidae, respectively. In order to conserve and develop these species, three major methods could be applied.
Silviculture technical measures are aimed to adjust and create the suitable habitats, therfore, it is necessary to combine
different methods together such as habitat protection; oriented protection and labour-assisted regeneration; oriented
protection and labour-assisted regeneration with supplemented planting, forest maintenance, enrichment planting,
restocking forest land, afforestation and household garden development, respectively. For biological approach, it is
possible to feed some species of Lucanidae, Passlidae, Scarababidae, Coccinellidae by semi-artificial method. The
consequences is also suggest that the building a monitoring program on these species, their habitat and human impact
is one of the important appoachs for conservation and
development of the beetle fauna.
Keywords: Coleopera, Value Bettle, Reswe,
Pulung, Thanh Hóa.
1. Trường Đại học Hồng Đức
2. Trường Đại học Lâm nghiệp Việt Nam
Các file đính kèm theo tài liệu này:
nghien_cuu_tac_nhan_gay_benh_heo_vang_tren_cay_dinh_lang_pol.pdf