Phổ 1H và 13C NMR của chất 1 và 2 cho các tín hiệu đặc
trưng của triterpen với 8 nhóm methyl, trong đó có 6 singlet
methyl và 2 doublet methyl; 9 nhóm methylen (chất 1) và 8
nhóm methylen (chất 2) trong vùng từ 20 đến 60ppm; một
nhóm methin có gắn với oxy ở δH 4,50, δC 81,0 trong phổ của
chất 1 và δH 4,52, δC 80,7 trong phổ chất 2. Bên cạnh đó, sự có
mặt của nối đôi ở vị trí C-12, thể hiện qua tín hiệu δH 5,13 và
δC 124,3, 139,6 đối với chất 1 và δH 5,54 và δC 130,4, 164,9 đối
với chất 2. Nhóm hydroxy ở C-3 của hai chất đều bị axetyl
hóa, chứng minh qua sự dịch chuyển về phía trường thấp
của nhóm oxy-methin cũng như sự có mặt của nhóm axetyl
ở δH 2,05 và δC 21,5, 171,5 (chất 1) δH 2,05 và δC 21,1, 171,0
(chất 2). Các số liệu phổ của chất 1 hoàn toàn phù hợp với α-
amyrin acetat trong tài liệu [5].
Sự khác biệt của chất 2 so với 1 thể hiện trên phổ 13C
NMR của 2 ở tín hiệu nhóm carbonyl (δC 199,7), sự dịch
chuyển về trường thấp của C-12 (δC 130,4) và C-13 (δC 164,9)
do hệ nối đôi liên hợp với nhóm C=O ở C-11. Cấu trúc của
chất 2 được xác định là neoilexonol acetat khi so sánh với số
liệu phổ trong tài liệu [6]. α-amyrin acetat và β-amyrin phân
lập từ loài Alstonia boonei (Apocyanaceae) đã được Okoye và
cộng sự chứng minh có hoạt tính kháng viêm khá tốt [5].
Phổ 1H và 13C NMR của chất 3 cho thấy đó là một
flavonoid glucosid với các tín hiệu rất đặc trưng của phần
aglycon, một flavonoid với hai tín hiệu singlet tù ở δH 6,51
và 6,66 của hai proton vòng A, một tín hiệu singlet ở δH 6,83
của proton H-3 vòng C, cùng với 2 doublet của 2 cặp
proton của vòng B thế ở vị trí 1,4 (δH 7,89 d, J = 8,0Hz; 6,95 d,
J = 8,0Hz). Phần đường cho tín hiệu của một đơn vị glucose,
bao gồm một nhóm anomer ở δH 5,03 d, J = 7,0 Hz và δC
99,9 cùng với tín hiệu của 4 nhóm oxy-methin và 1 nhóm
oxy-methylen. Các số liệu phân tích trên đây hoàn toàn
đồng nhất với số liệu của apigenin-7-O--D-glucosid công
bố trong tài liệu [7].
Chất 4 được xác định là β-sitosterol glucosid khi so sánh
trên bản mỏng với chất chuẩn cũng như số liệu phổ 1H
NMR với số liệu đã công bố [8].
Ba chất (1-3) được thử hoạt tính gây độc tế bào trên bốn
dòng tế bào ung thư ở người, bao gồm ung thư biểu mô KB,
ung thư gan Hep G2, ung thư phổi LU-1, ung thư vú MCF-7.
Phép thử được thực hiện dựa trên phương pháp MTT (3-(4,5-
dimethylthiazol-2-yl)-2,5-diphenyltetrazolium) được mô tả
lần đầu tiên bởi tác giả Tim Mosman [9]. Đây là phương pháp
đánh giá khả năng sống sót của tế bào qua khả năng khử
MTT (màu vàng) thành một phức hợp formazan (màu tím)
bởi hoạt động của enzym dehydrogenase trong ty thể. Sản
phẩm formazan được hòa tan bằng DMSO và đo mật quang
(OD) ở bước sóng 540nm. Giá trị thể hiện hoạt tính là IC50 là
nồng độ chất thử ức chế 50% sự phát triển của tế bào. Kết
quả cho thấy chất 1 và 2 không thể hiện hoạt tính, chất 3 có
khả năng ức chế yếu chỉ với dòng HepG2 (IC50 = 102,75±0,50,
chất đối chứng dương Ellipticine IC50 = 0,42±0,03).
3 trang |
Chia sẻ: hachi492 | Lượt xem: 1 | Lượt tải: 0
Bạn đang xem nội dung tài liệu Nghiên cứu thành phần hóa học và hoạt tính sinh học cây dị hùng hoa to, để tải tài liệu về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
CÔNG NGHỆ
Tạp chí KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ ● Tập 56 - Số 6 (12/2020) Website: https://tapchikhcn.haui.edu.vn 130
KHOA HỌC P-ISSN 1859-3585 E-ISSN 2615-9619
NGHIÊN CỨU THÀNH PHẦN HÓA HỌC
VÀ HOẠT TÍNH SINH HỌC CÂY DỊ HÙNG HOA TO
STUDY ON CHEMICAL CONSTITUENTS AND BIOLOGICAL ACTIVITY OF HETEROSTEMMA GRANDIFLORUM COST.
Khiếu Thị Tâm1, Nguyễn Thị Thùy Linh2,
Lê Thị Hồng Nhung3, Nguyễn Thanh Tâm2, Nguyễn Thị Hoàng Anh2,*
TÓM TẮT
Dị hùng hoa to (Heterostemma grandiflorum Cost.) là một loài thực vật có
hoa trong họ Thiên lý (Asclepiadaceae), phân bố nhiều ở Hòa Bình, Hà Nội, Hà
Nam,.... Cho đến nay, theo tra cứu tư liệu của chúng tôi, chưa có công bố khoa
học nào về thành phần hóa học và hoạt tính sinh học loài này. Đây là công bố đầu
tiên kết quả nghiên cứu thành phần hóa học và hoạt tính gây độc tế bào loài
H. grandiflorum thu hái tại Mê Linh, Hà Nội. Từ các cặn chiết dichlometan,
butanol cành và lá H. grandiflorum đã phân lập được 4 hợp chất. Cấu trúc của
chúng được xác định bằng các phương pháp phổ cộng hưởng từ hạt nhân một
chiều và hai chiều, kết hợp so sánh với số liệu đã công bố. Chúng là α-amyrin
acetat, neoilexonol acetat, apigenin-7-O--D-glycosid và β-sitosterol glucosid.
Từ khóa: Heterostemma grandiflorum, cytotoxic activity.
ABSTRACT
Heterostemma grandiflorum Cost. is a flowing plant of Asclepiadaceae
family, distributed in Hoa Binh, Ha Noi, Ha Nam,... provinces. Our literature
searchs showed that this species was not chemically as well as biologically
studied until now. This is the first report about phytochemistry and cytotoxicity
results of H. grandiflorum collected in Me Linh, Ha Noi. From dichloromethane,
butanol extracts of H. grandiflorum’s twigs and leaves 4 compounds have been
isolated. Their structures were elucidated by the 1D and 2D NMR spectroscopy
and comparison with published data. They include α-amyrin acetate,
neoilexonol acetate, apigenin-7-O--D-glycoside and -sitosterol glucoside.
Keywords: Heterostemma grandiflorum, cytotoxic activity.
1Trường Đại học Khoa học, Đại học Thái Nguyên
2Viện Hóa học, Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam
3Trường Đại học Công nghiệp Hà Nội
*Email: hoanganhvhh@gmail.com
Ngày nhận bài: 20/8/2020
Ngày nhận bài sửa sau phản biện: 25/11/2020
Ngày chấp nhận đăng: 23/12/2020
1. GIỚI THIỆU
Chi Heterostemma thuộc họ Thiên lý (Asclepiadaceae)
được mô tả lần đầu vào năm 1912 và có nguồn gốc từ Ấn
Độ. Theo tác giả Phạm Hoàng Hộ ở Việt Nam có 7 loài
Heterostemma, bao gồm H. grandiflorum, H. balansae, H.
acuminatum, H. lutea, H. oblongifolium, H. suberosum, H.
villosum. Chúng được phân bố ở nhiều vùng trong cả nước
như Hòa Bình, Hà Nội, Đồng Nai, Sài Gòn,...[1]. Theo tra cứu
tư liệu của chúng tôi thì trên thế giới cho đến nay mới có
hai loài H. brownii và H. alatum được nghiên cứu thành
phần hóa học [2]. Hai loài này được sử dụng trong y học
dân gian Đài Loan, H. brownii dùng để chữa khối u [3] còn
H. alatum có tác dụng tiêu đờm, giải độc [4]. Nhiều hợp
chất thuộc các khung steroid, acid béo, flavonoid, flavonoid
glycosid, adenin, uridin, purinium và pyrimidin đã được tìm
thấy trong hai loài nghiên cứu [3, 4]. Trong đó, một loạt các
purinium mới (heteromin A - E; I) và pyrimidin mới
(heteromin F - H) đã được phát hiện. Một số hợp chất
heteromin thể hiện hoạt tính gây độc đáng kể với các tế
bào ung thư, đặc biệt phải kể đến heteromin A và B được
công bố có hoạt tính gây độc với các dòng tế bào ung thư
biểu mô thực quản, gan, hạch và bạch cầu, heteromine D
ức chế mạnh dòng tế bào HL-60 với giá trị IC50 là
4,04nmol/mL [3, 4]. Các kết quả trên là động lực để nhóm
nghiên cứu tiến hành tìm hiểu thành phần hóa học và hoạt
tính gây độc tế bào loài H. grandiflorum, thu hái tại Mê Linh,
Hà Nội nhằm tìm kiếm các chất có hoạt tính tốt từ nguồn
tài nguyên thực vật của nước ta. Đây là công bố đầu tiên về
thành phần hóa học, hoạt tính gây độc tế bào của loài này.
Từ các cao chiết dichlometan, butanol lá và cành cây Dị
hùng hoa to đã phân lập được 4 chất. Cấu trúc của chúng
được xác định bằng các phương pháp phổ cộng hưởng từ
hạt nhân một chiều và hai chiều, kết hợp so sánh với số liệu
đã công bố. Các hợp chất đó là α-amyrin acetat (1),
neoilexonol acetat (2), apigenin-7-O--D-glycosid (3) và
β-sitosterol glucosid (4).
2. THỰC NGHIỆM
2.1. Phương pháp và thiết bị
Phổ cộng hưởng từ hạt nhân NMR được ghi trên máy:
Bruker Avance 500, Germany. Phổ khối ESI-MS được đo trên
máy LC-MSD-Trap-SL, Varian, USA. Sắc ký lớp mỏng đươc
tiến hành trên bản mỏng silica gel G60F254 (Merck). Sắc ký
cột sử dụng chất hấp phụ là silica gel pha thường cỡ hạt là
0,043 - 0,063mm (Merck) và Sephadex LH-20 (Merck). Phát
hiện chất bằng đèn tử ngoại ở hai bước sóng là 254 và
368nm, kết hợp phun thuốc thử vanillin 1% trong H2SO4
đặc và hơ nóng ở 110oC.
P-ISSN 1859-3585 E-ISSN 2615-9619 SCIENCE - TECHNOLOGY
Website: https://tapchikhcn.haui.edu.vn Vol. 56 - No. 6 (Dec 2020) ● Journal of SCIENCE & TECHNOLOGY 131
2.2. Mẫu thực vật
Cành và lá cây Dị hùng hoa to (Heterostemma
grandiflorum) được thu hái tại Mê Linh, Hà Nội vào tháng 10
năm 2019. Mẫu tiêu bản (VHH.ML.10.2019.1) được lưu giữ
tại Viện Hóa học, Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt
Nam. Tên khoa học được TS. Nguyễn Thế Cường, Viện Sinh
thái và Tài nguyên sinh vật, VAST Nội xác định.
2.3. Chiết xuất và phân lập chất
Bột khô, xay nhỏ cành và lá H. grandiflorum (5,0kg) được
chiết với hỗn hợp MeOH:H2O (95:5) (bốn lần) ở nhiệt độ
phòng. Dịch chiết methanol được cất loại dung môi dưới
áp suất giảm. Phần nước còn lại được chiết phân lớp lần
lượt với n-hexan, CH2Cl2 và n-BuOH. Dung môi hữu cơ được
cất loại bằng máy quay cất chân không thu được các cặn
chiết n-hexan (34,0g), CH2Cl2 (23,0g) và n-BuOH (27,0g).
Cặn chiết CH2Cl2 (23,0g) được đưa lên cột silica gel, giải
hấp gradient với hệ dung môi n-hexan:EtOAc (từ 100:0 đến
50:50) thu được 16 phân đoạn (D1-D16). Phân đoạn D2
(1,0g) được tiếp tục tinh chế bằng cột silica gel với hệ dung
môi n-hexan:EtOAc gradient (từ 100:0 đến 50:50) thu được
chất 1 (250mg). Phân đoạn D8 (0,5g) được tinh chế qua cột
silica gel, giải hấp bằng hệ n-hexan:EtOAc gradient (từ 95:5
đến 80:20) nhận được 4 phân đoạn (D8.1 - D8.4). Hợp chất
2 (20mg) thu được khi tinh chế phân đoạn D8.2 (70mg)
bằng cột silica gel, dung môi n-hexan:CH2Cl2 (80:20).
Cặn chiết n-BuOH (27,0g) được đưa lên cột silica gel, giải
hấp gradient với hệ dung môi CH2Cl2:MeOH:H2O (từ 100:0:0
đến 50:50:5) thu được 12 phân đoạn (B1-B12). Phân đoạn
B3 (1,5g) được tinh chế qua cột silica gel, hệ dung môi
CH2Cl2:MeOH gradient từ 95:5 đến 90:10 thu được 5 phân
đoạn (B3.1-B3.5). Hợp chất 3 (32mg) nhận được khi làm
sạch phân đoạn B3.4 (250mg) bằng cột silica gel,
CH2Cl2:MeOH (92:8). Phân đoạn B9 (0,85g) được tinh chế
bằng sắc ký cột silica gel, hệ dung môi CH2Cl2:MeOH:H2O
(3.5:1.5:0.1) thu được 3 phân đoạn (B9.1-B9.3). Phân đoạn
B9.3 được cho qua cột Sephadex, MeOH thu được hợp chất
4 (28mg).
α-amyrin acetat (1): ESI-MS: m/z = 469 [M+H]+. 1H NMR
(500 MHz, CDCl3): δH 4,51 dd, J = 8,0 và 10,0 Hz (H-3); 5,13 t,
J = 3,5 Hz (H-12); 2,05 s (OAc); 0,92 s (H3-23); 0,88 s (H3-24);
0,98 s (H3-25); 1,01 s (H3-26); 1,07 s (H3-27); 0,86 s (H3-28);
0,80 s (H3-29); 0,87 s (H3-30).
Neoilexonol acetat (2): ESI-MS: m/z = 483 [M+H]+. 1H
NMR (500 MHz, CDCl3): δH 4,52 dd, J = 4,5 và 12,0 Hz (H-3);
5,54 s (H-12); 2,05 s (OAc).
Apigenin-7-O--D-glucosid (3): ESI-MS: m/z = 433
[M+H]+. 1H NMR (500 MHz, DMSO): δH 6,83 s (H-3); 6,51 brs
(H-6); 6,66 brs (H-8); 7,89 d, J = 8,0 Hz (H-2’, H-6’); 6,95 d,
J = 8,0 Hz (H-3’, H-5’); 5,03 d, J = 7,0 (H-1”).
β-sitosterol glucosid (4): 1H NMR (500 MHz, DMSO):
δH 3,11 (m, H-3); 5,33 (br s, H-6); 0,67 (br s, H3-18); 0,99 (br s,
H3-19); 0,92 (d, J = 6,5 Hz, H3-21); 0,80 (d, J = 6,8, H3-26); 0,81
(d, J = 6,8, H3-27); 0,90 (t, J = 6,5, H3-29).
3. KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN
Bằng phương pháp sắc ký cột dùng chất hấp phụ là silica
gel và các hệ dung môi thích hợp, 4 hợp chất đã được phân
lập từ cặn chiết CH2Cl2, n-BuOH cành và lá cây H. grandiflorum.
Chúng bao gồm hai triterpen (1, 2), một flavonoid
glucosid (3) và một steroid glucosid (4).
1: α-amyrin acetat
O
Ac
O
1
2
3
4
5
6 7
8
9
10
11
12
13
18
17
1615
14
19
20
21
22
2324
25 26
27
28
29
30
2: neoilexonol acetat
O
OH
O
OH
O
OH
OH
O
OH
OH 1
2
34
5
6
7
8
9
10
1'
2'
3'
4'
5'
6'
1''2''3''
4'' 5''
6''
3: apigenin-7-O--D-glucosid
4: β-sitosterol glucosid
Hình 1. Công thức các chất phân lập từ H. grandiflorum
Phổ 1H và 13C NMR của chất 1 và 2 cho các tín hiệu đặc
trưng của triterpen với 8 nhóm methyl, trong đó có 6 singlet
methyl và 2 doublet methyl; 9 nhóm methylen (chất 1) và 8
nhóm methylen (chất 2) trong vùng từ 20 đến 60ppm; một
nhóm methin có gắn với oxy ở δH 4,50, δC 81,0 trong phổ của
chất 1 và δH 4,52, δC 80,7 trong phổ chất 2. Bên cạnh đó, sự có
mặt của nối đôi ở vị trí C-12, thể hiện qua tín hiệu δH 5,13 và
δC 124,3, 139,6 đối với chất 1 và δH 5,54 và δC 130,4, 164,9 đối
với chất 2. Nhóm hydroxy ở C-3 của hai chất đều bị axetyl
hóa, chứng minh qua sự dịch chuyển về phía trường thấp
của nhóm oxy-methin cũng như sự có mặt của nhóm axetyl
ở δH 2,05 và δC 21,5, 171,5 (chất 1) δH 2,05 và δC 21,1, 171,0
(chất 2). Các số liệu phổ của chất 1 hoàn toàn phù hợp với α-
amyrin acetat trong tài liệu [5].
Sự khác biệt của chất 2 so với 1 thể hiện trên phổ 13C
NMR của 2 ở tín hiệu nhóm carbonyl (δC 199,7), sự dịch
chuyển về trường thấp của C-12 (δC 130,4) và C-13 (δC 164,9)
do hệ nối đôi liên hợp với nhóm C=O ở C-11. Cấu trúc của
chất 2 được xác định là neoilexonol acetat khi so sánh với số
liệu phổ trong tài liệu [6]. α-amyrin acetat và β-amyrin phân
lập từ loài Alstonia boonei (Apocyanaceae) đã được Okoye và
cộng sự chứng minh có hoạt tính kháng viêm khá tốt [5].
Phổ 1H và 13C NMR của chất 3 cho thấy đó là một
flavonoid glucosid với các tín hiệu rất đặc trưng của phần
aglycon, một flavonoid với hai tín hiệu singlet tù ở δH 6,51
và 6,66 của hai proton vòng A, một tín hiệu singlet ở δH 6,83
của proton H-3 vòng C, cùng với 2 doublet của 2 cặp
proton của vòng B thế ở vị trí 1,4 (δH 7,89 d, J = 8,0Hz; 6,95 d,
J = 8,0Hz). Phần đường cho tín hiệu của một đơn vị glucose,
bao gồm một nhóm anomer ở δH 5,03 d, J = 7,0 Hz và δC
99,9 cùng với tín hiệu của 4 nhóm oxy-methin và 1 nhóm
CÔNG NGHỆ
Tạp chí KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ ● Tập 56 - Số 6 (12/2020) Website: https://tapchikhcn.haui.edu.vn 132
KHOA HỌC P-ISSN 1859-3585 E-ISSN 2615-9619
oxy-methylen. Các số liệu phân tích trên đây hoàn toàn
đồng nhất với số liệu của apigenin-7-O--D-glucosid công
bố trong tài liệu [7].
Chất 4 được xác định là β-sitosterol glucosid khi so sánh
trên bản mỏng với chất chuẩn cũng như số liệu phổ 1H
NMR với số liệu đã công bố [8].
Ba chất (1-3) được thử hoạt tính gây độc tế bào trên bốn
dòng tế bào ung thư ở người, bao gồm ung thư biểu mô KB,
ung thư gan Hep G2, ung thư phổi LU-1, ung thư vú MCF-7.
Phép thử được thực hiện dựa trên phương pháp MTT (3-(4,5-
dimethylthiazol-2-yl)-2,5-diphenyltetrazolium) được mô tả
lần đầu tiên bởi tác giả Tim Mosman [9]. Đây là phương pháp
đánh giá khả năng sống sót của tế bào qua khả năng khử
MTT (màu vàng) thành một phức hợp formazan (màu tím)
bởi hoạt động của enzym dehydrogenase trong ty thể. Sản
phẩm formazan được hòa tan bằng DMSO và đo mật quang
(OD) ở bước sóng 540nm. Giá trị thể hiện hoạt tính là IC50 là
nồng độ chất thử ức chế 50% sự phát triển của tế bào. Kết
quả cho thấy chất 1 và 2 không thể hiện hoạt tính, chất 3 có
khả năng ức chế yếu chỉ với dòng HepG2 (IC50 = 102,75±0,50,
chất đối chứng dương Ellipticine IC50 = 0,42±0,03).
Bảng 1. Số liệu phổ 13C NMR của các chất 1-3 (125MHz, 1 và 2 đo trong
MeOD và 3 đo trong DMSO)
C 1 2 C 3
1 38,5 38,9 2 163,4
2 23,4 23,6 3 103,5
3 81,0 80,7 4 182,5
4 37,7 38,1 5 157,4
5 55,3 55,0 6 100,3
6 18,3 18,5 7 164,7
7 32,9 32,8 8 95,3
8 40,1 40,9 9 161,9
9 47,7 61,5 10 105,8
10 36,8 36,8 1’ 121,4
11 23,6 199,7 2’ 129,1
12 124,3 130,4 3’ 116,5
13 139,6 164,9 4’ 161,6
14 42,1 43,6 5’ 116,5
15 28,1 28,8 6’ 129,1
16 26,6 27,2 1” 99,9
17 33,8 45,1 2” 73,5
18 59,0 59,0 3” 77,6
19 39,6 39,2 4” 69,9
20 39,7 39,3 5” 76,9
21 31,3 33,9 6” 63,5
22 41,6 30,9
23 28,1 28,1
24 16,7 16,7
25 15,7 16,5
26 17,5 20,5
27 23,2 27,5
28 28,7 28,1
29 16,9 17,5
30 21,4 21,3
CH3CO 171,0 171,0
CH3CO 21,3 21,1
4. KẾT LUẬN
Đây là công bố đầu tiên về kết quả nghiên cứu ban đầu
thành phần hóa học và hoạt tính gây độc tế bào các chất
phân lập được từ loài Dị hùng hoa to (Heterostemma
grandiflorum Cost.) thu hái tại Mê Linh, Hà Nội. Bốn hợp
chất đã được phân lập và xác định cấu trúc từ cặn chiết
dichloromethan, butanol của loài H. grandiflorum, bao gồm
α-amyrin acetat, neoilexonol acetat, apigenin-7-O--D-
glycosid và β-sitosterol glucosid.
LỜI CẢM ƠN
Nghiên cứu này được tài trợ bởi Chương trình hỗ trợ
hoạt động nghiên cứu khoa học cho nghiên cứu viên cao
cấp (mã số NVCC06.11/20-20) của Viện Hàn lâm Khoa học
và Công nghệ Việt Nam.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
[1]. Phạm Hoàng Hộ, 1999. Cây cỏ Việt Nam, Tập 2. Nhà xuất bản Trẻ.
[2]. Dictinary of Natural Product on DVD. 2018.
[3]. Lin, Y-L., Huang, R-L., 1997. Two New Puriniums and Three New
Pyrimidines from Heterostemma brownii. J. Nat. Prod., 60, 982-985.
[4]. Fu Wen-Wei, Tan Chang-Heng, Zhuang Peng-Yu, Yang Shu-Min, Luo Hong-
Feng, Tan Jun-Jie, Liu P., Zhu Da-Yuan, 2011. Purinium derivatives with antitumor
activities from Heterostemma alatum Wight. Heterocycles 83 (6), 1405-1408.
[5]. Okoye N. N., Ajaghaku D. L., Okeke H. N., Ilodigwe E. E., Nworu C. S.,
Okoye F. B. C., 2014. Beta-amyrin and alpha-amyrin acetate isolated from the
stem bark of Alstonia boonei display profound anti-inflammatory activity.
Pharmaceutical Biology 52 (11), 1478-1486.
[6]. Ogawa S., Wakatsuki Y., Makino M., Fujimoto Y., Yasukawa K., Kikuchi
T., Ukiya M., Akihisa T., Iida T., 2010. Oxyfunctionalization of unactivated C–H
bonds in triterpenoids with tert-butylhydroperoxide catalyzed by meso-5,10,15,20-
tetramesitylporphyrinate osmium(II) carbonyl complex. Chemistry and Physics of
Lipids 163, 165-171.
[7]. Peng Hong-Yun, Zhang Xue-Hong, Xu Jin-Zhong, 2016. Apigenin-7-O-
β-D-glycoside isolation from the highly copper-tolerant plant Elsholtzia splendens.
J Zhejiang Univ-Sci B (Biomed & Biotechnol) 17(6), 447-454.
[8]. Nguyễn Thị Tuyết Nhung, Võ Thị Bạch Huệ, 2020. Phân lập một số hợp
chất tự nhiên từ thân hành Trinh nữ Hoàng cung (Crinum latifolium L.,
Amaryllidaceae). Tạp chí Khoa học Lạc Hồng, 9, 10 -13.
[9]. Mosmann, T. 1983. Rapid colorimetric assay for cellular growth and
survival: Application to proliferation and cytotoxicity assay. Journal of
immunological methods 65, 55-63.
AUTHORS INFORMATION
Khieu Thi Tam1, Nguyen Thi Thuy Linh2, Le Hong Nhung3,
Nguyen Thanh Tam2, Nguyen Thi Hoang Anh2
1Thai Nguyen University of Sciences
2Institute of Chemistry, VAST
3Hanoi University of Industry
Các file đính kèm theo tài liệu này:
nghien_cuu_thanh_phan_hoa_hoc_va_hoat_tinh_sinh_hoc_cay_di_h.pdf