Tuy nhiên, nếu tiếp tục tăng thời gian phát
sóng siêu âm, chu trình kéo nén tăng. Khi năng
lượng đủ lớn, tại chu trình kéo tương tác giữa
các phân tử sẽ vượt quá lực hấp dẫn nội tại,
hình thành các lỗ hổng nhỏ trong khối chất
lỏng, khi đó sẽ có một lượng nhỏ các cấu tử khí
khuếch tán vào pha lỏng làm giảm quá trình tạo
bọt và sự đồng nhất giữa hai pha lỏng - rắn.
Trên đồ thị hình 4 cho thấy ứng với thời gian
siêu âm tăng thì thời gian cô đặc, chi phí năng
lượng riêng tăng và điểm tổng hợp chất lượng
sản phẩm cô đặc có xu hướng giảm xuống.
Trên đồ thị hình 2-4 cho thấy ứng với
khoảng biến thiên của nhiệt độ cô đặc trong
khoảng từ 35-53C thì việc việc tăng chiều cao
vành dẫn chất lỏng từ 380-680mm và thời gian
sóng siêu âm từ 15-30 phút sẽ có hiệu quả hơn so
với việc nâng cao nhiệt độ cô đặc, vì sản phẩm cô
đặc ít bị biến đổi xấu về chất lượng do nhiệt, cho
phép nâng cao chất lượng sản phẩm, giảm thời
gian cô đặc và chi phí điện năng riêng.
So với các thiết bị cô đặc thông dụng trong
sản xuất, thiết bị cô đặc CD-1 có ưu điểm: Thời
gian cô đặc giảm khá nhiều nhiều nhờ có vành
dẫn chất lỏng và bộ phát sóng siêu âm đã làm
tăng diện tích bốc hơi và vận tốc chuyển động
tuần hoàn của dịch mật trong buồng cô đặc,
tăng khả năng phá kết tinh đường trong dịch
mật, vì vậy đã nâng cao chất lượng sản phẩm cô
đặc, giảm chi phí điện năng riêng và tăng thời
gian kết tinh trở lại trong thời gian tồn trữ.
10 trang |
Chia sẻ: hachi492 | Lượt xem: 1 | Lượt tải: 0
Bạn đang xem nội dung tài liệu Nghiên cứu thiết kế thiết bị cô đặc mật ong kiểu chân không dạng ống có vành dẫn chất lỏng phối hợp phá kết tinh bằng sóng siêu âm, để tải tài liệu về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
Vietnam J. Agri. Sci. 2020, Vol. 18, No.12: 1182-1191 Tạp chí Khoa học Nông nghiệp Việt Nam 2020, 18(12): 1182-1191
www.vnua.edu.vn
1182
NGHIÊN CỨU THIẾT KẾ THIẾT BỊ CÔ ĐẶC MẬT ONG KIỂU CHÂN KHÔNG DẠNG ỐNG CÓ VÀNH
DẪN CHẤT LỎNG PHỐI HỢP PHÁ KẾT TINH BẰNG SÓNG SIÊU ÂM
Đặng Thanh Sơn1*, Trần Như Khuyên2, Nguyễn Thanh Hải2
1Trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật Vĩnh Long
2Học viện Nông nghiệp Việt Nam
*Tác giả liên hệ: sondt@vlute.edu.vn
Ngày nhận bài: 29.06.2020 Ngày chấp nhận đăng: 14.08.2020
TÓM TẮT
Thiết bị cô đặc mật ong kiểu chân không dạng ống có vành dẫn chất lỏng CĐ-1 được thiết kế và chế tạo theo
nguyên lý mới, sử dụng vành dẫn chất lỏng và bộ phận phát sóng siêu âm nhằm tăng khả năng bốc hơi nước và phá
kết tinh đường trong mật ong, góp phần nâng cao chất lượng sản phẩm mật ong trong quá trình cô đặc. Áp dụng
phương pháp nghiên cứu thực nghiệm đơn yếu tố để nghiên cứu mức độ ảnh hưởng riêng của nhiệt độ cô đặc,
chiều cao vành dẫn chất lỏng và thời gian phát sóng siêu âm đến điểm tổng hợp chất lượng sản phẩm cô đặc, thời
gian cô đặc, thời gian kết tinh trở lại khi tồn trữ và chi phí điện năng riêng. Kết quả nghiên cứu thực nghiệm cho thấy,
ứng với khoảng biến thiên của nhiệt độ cô đặc trong khoảng từ 35-53C thì việc tăng chiều cao vành dẫn chất lỏng
từ 380÷680mm và thời gian sóng siêu âm từ 15-30 phút sẽ có hiệu quả hơn so với việc nâng cao nhiệt độ cô đặc, vì
sản phẩm cô đặc ít bị biến đổi xấu về chất lượng do nhiệt, cho phép nâng cao chất lượng sản phẩm, giảm thời gian
cô đặc và chi phí điện năng riêng.
Từ khóa: Thiết bị cô đặc, mật ong, vành dẫn chất lỏng, sóng siêu âm, chi phí điện năng riêng.
Study on the Design of the Tube-Type Vacuum Honey Concentrator
with Liquid Ring Parts and Ultrasonic Device Combination to Prevent the Crystallization
ABSTRACT
The CD-1 tube-type vacuum honey concentrator with a liquid ring has been designed and manufactured based
on the new principle, using the liquid ring and ultrasonic device to increase the evaporation ability and crystallization
in honey to enhancing the quality of honey products during the condensed process. The single-case experiments
have been applied to determine the influence of concentration temperature, height of liquid ring, and time of
broadcasting ultrasonic waves to the synthesis point of concentrated product quality, concentration and
recrystallization time, and specific cost of electricity. The results of the experiments showed that the equivalent of
concentration temperature between 35C and 53C, increasing the height of liquid ring from 380mm to 680mm and
time of broadcasting ultrasonic waves from 15 to 30 min will be more effective than increasing the concentration
temperature in terms of reducing quality due to heat effect, the concentration-time and specific cost of electricity.
Keywords: Concentrator, honey, liquid ring, ultrasonication, specific cost of electricity.
1. ĐẶT VẤN ĐỀ
Mật ong là sản phẩm có giá trị kinh tế và
dinh dưỡng cao, được sử dụng làm thực phẩm,
dược phẩm và mỹ phẩm (Mohapatra & cs., 2011;
Eteraf-Oskouei & Najafi, 2013; Voidarou & cs.,
2011). Vì vậy, nhu cầu sử dụng mật ong ngày
càng tăng cao trên toàn thế giới (Manyi-Loh &
cs., 2011; Eteraf-Oskouei & Najafi, 2013). Theo
thống kê của Tổ chức Nông lương thế giới, tính
từ năm 2003 đến 2011, nhu cầu mật ong trên
toàn thế giới đã tăng 14% (Rahima, 2013). Theo
các số liệu của Tổ chức Xuất khẩu mật ong quốc
tế (IHEO), sản lượng mật ong của thế giới đạt
khoảng 1.250.000 tấn/năm, trong đó khoảng
350.000÷370.000 tấn được giao dịch buôn bán
Đặng Thanh Sơn, Trần Như Khuyên, Nguyễn Thanh Hải
1183
giữa các nước. Ở Việt Nam, mặc dù nghề nuôi
ong đã có từ lâu nhưng trong những năm gần
đây, tốc độ phát triển đàn ong đã tăng khá
nhanh cả về số lượng và chất lượng. Theo Cục
Chăn nuôi, đến năm 2018, cả nước có 1.258.578
đàn ong (tăng 6,7% so với năm 2017), với tổng
sản lượng mật ong đạt 49.084 tấn, trong đó xuất
khẩu gần 43.938 tấn, trị giá 76,5 triệu USD, trở
thành quốc gia đứng thứ 6 thế giới và thứ 2
châu Á về xuất khẩu mật ong. Trong đó, sản
lượng xuất khẩu lớn nhất sang thị trường Hoa
Kỳ với 90-95%, còn lại xuất khẩu sang thị
trường châu Âu và tiêu thụ ở thị trường nội địa.
Mật ong sau khi khai thác thường có độ ẩm
22-23% (Vũ Thục Linh, 2015) đặc biệt khi thu
hoạch non hoặc thu hoạch vào trời mưa, độ ẩm
có thể tới 25-27%. Mật ong có độ ẩm trên 20%
rất dễ bị lên men (Bogdanov & cs., 2008), khi bị
lên men, mật ong có mùi khó chịu và chứa nhiều
nấm men, nấm mốc, hàm lượng butanol, ethanol
và HMF (Hydroxymethylfurfural) tăng lên gây
ảnh hưởng không tốt cho sức khỏe người tiêu
dùng (Bogdanov & cs., 2008). Vì vậy, trong quy
trình sản xuất và chế biến mật ong, việc cô đặc
mật ong sau thu hoạch đến độ ẩm 18-19% (theo
tiêu chuẩn xuất khẩu) là rất cần thiết để đảm
bảo không bị hư hỏng trong quá trình tồn trữ.
Để cô đặc mật ong, ở các nước có trình độ
khoa học phát triển đã sử dụng các thiết bị cô
đặc tiên tiến, mức độ cơ khi hóa và tự động hóa
cao như: thiết bị cô đặc chân không, thiết bị sấy
thăng hoa, thiết bị sấy bơm nhiệt, thiết bị sấy
phun,... Tuy nhiên, do giá thành thiết bị và chi
phí chuyển giao công nghệ, chi phí vận hành,
bảo trì và sửa chữa còn khá cao nên các cơ sở
sản xuất ở Việt Nam khó chấp nhận (chi phí
đầu tư ban đầu cho một hệ thống thiết bị chế
biến mật ong năng suất 100 kg/h nhập khẩu
khoảng 0,5-1,0 triệu USD). Vì vậy, ở nước ta
hiện nay, chủ yếu vẫn sử dụng thiết bị cô đặc
bằng bơm nhiệt (Vũ Kế Hoạch & cs., 2010) hoặc
sấy phun với tác nhân sấy là không khí nóng ở
nhiệt độ cao (45-55C). Các thiết bị cô đặc này
có ưu điểm: cấu tạo thiết bị đơn giản, chi phí
đầu tư thiết bị thấp nhưng còn tồn tại nhiều
nhược điểm: thời gian cô đặc kéo dài, hàm lượng
dinh dưỡng, màu sắc và mùi vị đều bị giảm sút
nhiều so với mật ong trước khi đưa vào cô đặc,
đặc biệt là hàm lượng HMF
(Hydroxymethylfurfural) là sản phẩm phân hủy
của đường fructose (Ajlouni & Sujirapinyokul,
2009) tăng nhanh dưới tác động của nhiệt độ cô
đặc trên 50C (Dimins & cs., 2006) làm ảnh
hưởng xấu đến sức khỏe của người sử dụng.
Ngoài ra, mật ong là dung dịch đường bão hòa,
sau khi cô đặc có thể bị kết tinh trở lại trong
thời gian từ 3-12 tháng tồn trữ ở điều kiện nhiệt
độ phòng (Karabournioti & Zervalaki, 2001;
Tosi & cs., 2002; Shapla & cs., 2018). Khi bị kết
tinh dễ bị nấm mốc phát triển (do có độ ẩm cao),
gây ảnh hưởng lớn đến giá trị dinh dưỡng, giá
trị cảm quan, độ nhớt và khả năng chế biến các
sản phẩm từ mật ong (Tosi & cs., 2004; Ajlouni
& Sujirapinyokul, 2009). Đây là những nguyên
nhân chính làm cho thị trường xuất khẩu mật
ong của Việt Nam không ổn định, khó bán hoặc
phải chấp nhận giá bán thấp gây thiệt hại lớn
cho người sản xuất.
Vì vậy, việc nghiên cứu thiết kế cải tiến
thiết bị cô đặc đảm bảo chất lượng sản phẩm
theo yêu cầu xuất khẩu với kết cấu đơn giản, giá
thành hạ để có thể triển khai áp dụng rộng rãi
cho các cơ sở chế biến mật ong ở trong nước là
vấn đề cấp thiết.
Bài báo này trình bày một số kết quả cứu
thiết kế, chế tạo và khảo nghiệm hệ thống thiết
bị cô đặc mật ong kiểu chân không dạng ống có
vành dẫn chất lỏng phối hợp phá kết tinh bằng
sóng siêu âm nhằm tìm ra phương hướng khắc
phục những tồn tại nêu trên.
2. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1. Vật liệu nghiên cứu
Mật ong được lấy từ Công ty Cổ phần Ong
mật Việt Ý, thị xã Chí Linh Hải Dương. Đây là
loại mật ong hoa vải, thu hoạch vào tháng 2-
3/2019, có độ ẩm 26,02%, sau thời gian bảo quản
2 tháng đã bắt đầu kết tinh. Khối lượng mỗi mẻ
cô đặc là 16kg. Mật ong được cô đặc đến độ ẩm
an toàn để bảo quản phục vụ cho yêu cầu xuất
khẩu là 18%. Kết thúc mỗi thí nghiệm, lấy mẫu
phân tích hàm lượng HMF, hàm lượng đường
tổng số, hàm lượng nấm mốc, nấm men, vi sinh
Nghiên cứu thiết kế thiết bị cô đặc mật ong kiểu chân không dạng ống có vành dẫn chất lỏng phối hợp phá kết tinh
bằng sóng siêu âm
1184
vật và thời gian kết tinh trở lại của mật ong sau
khi cô đặc trong thời gian tồn trữ.
2.2. Phương pháp nghiên cứu
Áp dụng phương pháp nghiên cứu thực
nghiệm đơn yếu tố để nghiên cứu ảnh hưởng
riêng của một số thông số làm cơ sở cho việc lựa
chọn khoảng nghiên cứu của các yếu tố trong
nghiên cứu thực nghiệm đa yếu tố.
Các yếu tố ảnh hưởng: nhiệt độ cô đặc T
(C), thời gian phát sóng siêu âm s (phút),
chiều cao vành dẫn chất lỏng Hvd (mm).
Các chỉ tiêu cần xác định: điểm tổng hợp
chất lượng sản phẩm cô đặc Q(đ), thời gian cô
đặc ô(phút), thời gian kết tinh (ngày) và chi
phí điện năng riêng Nr (kWh/kg H2O).
Các thông số nghiên cứu của thiết bị sấy
được xác định như sau:
Nhiệt độ cô đặc được xác định bằng thiết bị
đo nhiệt độ điện tử hiện số mã hiệu SGK-MF-
904 (Hồng Kông), khoảng đo -40-200C, sai số
± 0,5C.
Độ ẩm của mật ong được xác định bằng máy
đo Brix kế hiện số (hãng ATAGO, Nhật Bản),
khoảng đo 0-93%, sai số ± 0,1%.
Hàm lượng HMF (mg/g) được xác định bằng
sắc ký lỏng hiệu năng cao.
Thời gian kết tinh trở lại ô(ngày) được xác
định bằng thời gian tồn trữ mật ong từ sau khi cô
đặc đến khi bắt đầu xuất hiện tinh thể đường.
Điểm tổng hợp chất lượng sản phẩm cô đặc
Qcđ được xác định theo phương pháp cho điểm,
Tiêu chuẩn Việt Nam (TCVN) 3215 - 79.
Thời gian cô đặc (phút) là khoảng thời gian
thực hiện một mẻ cô đặc được tính từ lúc bắt đầu
cô đặc đến khi sản phẩm đạt được độ độ ẩm theo
yêu cầu công nghệ bảo quản 18% và được xác
định bằng đồng hồ đo thời gian thông dụng.
Chi phí điện năng riêng Nr được xác định
bằng tỷ số giữa điện năng tiêu thụ với lượng
nước cần bốc hơi của mẻ cô đặc và được tính
theo công thức:
ct
r
N
N
W
, kWh/kg H2O
Nct - điện năng tiêu thụ trên công tơ cho 01
mẻ cô đặc (kWh);
W - lượng nước cần bốc hơi trong 01 mẻ cô
đặc (kg H2O).
3. KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN
3.1. Thiết kế thiết bị cô đặc mật ong
Thiết bị cô đặc mật ong (ký hiệu CĐ-1)
được thiết kế và chế tạo tại Bộ môn Thiết bị bảo
quản và Chế biến nông sản Khoa Cơ điện, Học
viện Nông nghiệp Việt Nam. Đây là thiết bị cô
đặc dạng ống có vành dẫn chất lỏng, năng suất
16 kg/mẻ. Sơ đồ nguyên lý cấu tạo của thiết bị
cô đặc trên hình 1.
Bộ phận cô đặc dạng ống hình trụ, đặt
thẳng đứng. Theo chiều cao thiết bị cô đặc, bộ
phận cô đặc được phân thành 5 buồng: Buồng
cấp liệu có dạng hình trụ, đáy hình chóp cụt,
phía trên có lắp van nạp liệu, phía dưới có van
xả mật sau khi cô đặc, mặt ngoài có lắp các đầu
phát sóng siêu âm. Ở vùng này tạo ra rất nhiều
bọt chứa khí dưới tác động của sóng siêu âm
(gồm không khí và các loại khí khác sinh ra khi
lên men còn gọi là khí trơ). Buồng cấp nhiệt là
ống hình trụ được giới hạn bởi hai mặt bích trên
dưới, trong đó có lắp 6 ống đun sôi (chứa dịch
mật) có đường kính Ø21 theo vòng tròn đồng
tâm bao quanh ống tuần hoàn dịch mật có
đường kính Ø42. Bên ngoài các ống chứa đầy
nước, được đốt nóng bằng bộ gia nhiệt điện trở.
Buồng sôi có dạng hình trụ là nơi phát triển
kích thước hạt bọt nhờ nhận thêm hơi nước
trong dịch mật. Buồng phá bọt là buồng có lắp
vành dẫn chất lỏng. Đây là tổ hợp của các ống
hình trụ đồng tâm có đường kính nhỏ dần nhằm
tạo ra các khe hẹp hình vành khăn, phá vỡ hạt
bọt để giải phóng hơi nước và khí trong các hạt
bọt đồng thời cũng tạo ra nhiều lớp màng mỏng
để tăng diện tích bề mặt bốc hơi và tăng tốc độ
chuyển động của dịch mật trong các khe hẹp
theo hướng từ dưới lên trên. Buồng bốc hơi ở
trên vành dẫn chất lỏng là nơi tiếp nhận hơi
nước và phân ly dịch mật.
Bộ phận phân ly hơi thứ dạng vít xoắn
được nối với phần trên của bộ phận cô đặc có
Đặng Thanh Sơn, Trần Như Khuyên, Nguyễn Thanh Hải
1185
nhiệm vụ phân riêng hơi thứ và để thu hồi tiếp
phần dịch mật bị bay theo hơi thứ tránh gây
lãng phí.
Bộ phận ngưng tụ hơi thứ dạng hộp, vỏ
ngoài được cách nhiệt với không khí môi trường,
một đầu được nối với ống dẫn hơi thứ, một đầu
được nối với bơm chân không. Bên trong bộ
phận phân ly hơi thứ có lắp 2 dàn lạnh song
song có nhiệm vụ ngưng tụ hơi thứ thành dạng
lỏng nhằm tạo ra không khí khô trước khi vào
bơm chân không để vừa giảm tải cho bơm chân
không vừa tránh ngưng tụ nước trong bơm.
Ghi chú: 1 - bơm chân không; 2 - khung máy; 3 - buồng ngưng tụ hơi thứ; 4 - dàn lạnh; 5 - dàn nóng;
6 - block máy lạnh; 7 - đồng hồ chân không; 8 - hộp điều khiển điện; 9 - ống dẫn hơi thứ; 10 - ống
dẫn mật sau khi phân ly hơi thứ; 11 - bộ phận phân ly hơi thứ; 12 - cảm biến nhiệt độ mật vùng bay
hơi; 13 - buồng bay hơi; 14 - ống quan sát bọt dịch mật; 15 - vành dẫn chất lỏng; 16 - ống tuần hoàn
dịch mật; 17 - buồng sôi; 18 - cảm biến nhiệt độ mật ở buồng sôi; 19 - van cấp nước; 20 - buồng gia
nhiệt bằng nước nóng; 21 - ống quan sát mức nước trong buồng gia nhiệt; 22 - bộ điện trở nhiệt; 23 -
van tháo nước; 24 - van nạp liệu; 25 - cửa lấy mẫu; 26 - buồng chứa dịch mật; 27 - đầu phát sóng
siêu âm; 28 - cảm biến nhiệt độ mật; 29 - van tháo mật; 30 - cửa nối bơm nước rửa; 31 - máy bơm
nước rửa; 32 - thùng chứa nước rửa; 33, 35 - cảm biến nhiệt độ buồng ngưng tụ hơi thứ; 34 - van xả
nước ngưng; 36, 37 - cảm biến nhiệt độ nước.
Hình 1. Thiết bị cô đặc mật ong CĐ-1
Nghiên cứu thiết kế thiết bị cô đặc mật ong kiểu chân không dạng ống có vành dẫn chất lỏng phối hợp phá kết tinh
bằng sóng siêu âm
1186
Bộ phận phát sóng siêu âm gồm 09 đầu
phát sóng có tổng công suất 900W, tần số 28kHz
được lắp ở phần đáy côn của bộ phận cô đặc, có
nhiệm vụ tạo ra sóng siêu âm để tiêu diệt các vi
sinh vật gây hại đồng thời phá kết tinh trong
quá trình cô đặc và ngăn cản hiện tượng kết
tinh trở lại của mật ong trong quá trình tồn trữ.
Bộ phận điều khiển có nhiệm vụ điều khiển
các thông số công nghệ trong quá trình cô đặc,
bao gồm: điều khiển nhiệt độ nước ở vùng đốt
nóng được thực hiện nhờ rơle nhiệt, điều khiển
nhiệt độ sôi của dịch mật được thực hiện nhờ
điều chỉnh áp suất chân không thông qua việc
thay đổi số vòng quay của bơm chân không bằng
biến tần, điều khiển nhiệt độ ngưng tụ hơi thứ ở
bộ phận ngưng tụ được thực hiện nhờ điều chỉnh
nhiệt độ dàn lạnh,...
Ngoài ra, trong thiết bị có lắp các ống quan
sát mức nước trong buồng gia nhiệt bằng nước
nóng, ống quan sát quá trình tạo bọt trong vùng
sôi và hệ thống bơm nước rửa máy.
Cấu tạo thiết bị cô đặc mật ong gồm có 5 bộ
phận chính: bộ phận cô đặc, bộ phận phân ly hơi
thứ, bộ phận ngưng tụ hơi thứ, bộ phận phát
sóng siêu âm và bộ phận điều khiển.
Quá trình làm việc của hệ thống thiết bị cô
đặc như sau: Khởi động cho thiết bị làm việc,
dịch mật được bơm chân không hút vào thiết bị
qua van nạp liệu nhờ áp suất chân không với
khối lượng quy định (16kg) vào buồng cấp liệu,
qua vùng phát sóng siêu âm, sau đó vào các ống
đun sôi nhận nhiệt từ nước nóng ở buồng đun
nóng để đạt được nhiệt độ sôi theo yêu cầu công
nghệ cô đặc. Ở buồng sôi, kích thước bọt dịch
mật tăng lên rất nhanh do nhận thêm lượng hơi
nước trong dịch mật, khi đi vào các khe hẹp
hình vành khăn của vành dẫn chất lỏng các bọt
dịch mật bị vỡ ra, hỗn hợp hơi nước (hơi thứ),
không khí, khí trơ và dịch mật theo khe hẹp
vành khăn đi vào buồng bốc hơi với tốc độ rất
lớn. Do buồng bốc hơi có kích thước lớn hơn rất
nhiều so với khe hẹp hình vành khăn nên sau
khi hơi thứ và khí trơ được tách ra khỏi hỗn hợp
làm cho khối lượng riêng của dịch mật tăng lên
(nặng hơn) chảy theo ống tuần hoàn về buồng
cấp liệu, tiếp tục theo ống đun sôi vào buồng
đun nóng chuyển động lên phía trên thành vòng
tuần hoàn, còn hỗn hợp hơi thứ, không khí và
khí trơ có kéo theo một phần nhỏ bọt dịch mật
được hút vào bộ phận phân ly hơi thứ. Do bộ
phận phân ly hơi thứ được kết cấu theo dạng
xoắn vít nên dưới tác dụng của lực ly tâm, dịch
mật trượt theo bề mặt cánh vít chảy ra theo
thành trong của bộ phận phân ly hơi thứ, theo
ống dẫn mật về buồng cấp liệu, còn hơi thứ,
không khí và khí trơ chuyển động theo ống
trong của vít xoắn đi vào bộ phận ngưng tụ, qua
dàn lạnh qua dàn lạnh của máy lạnh được
ngưng tụ chảy xuống đáy bình và được định kỳ
tháo ra qua van tháo nước ngưng, không khí và
khí trơ theo ống dẫn đưa lên trên nhận nhiệt từ
dàn nóng (để hóa hơi lượng nước trong hơi thứ
khi chưa ngưng tụ hết) trước khi vào bơm chân
không để tránh ngưng tụ nước trong bơm. Sau
khi cô đặc đến độ ẩm 18% dịch mật được lấy ra
qua van tháo liệu. Do dịch mật vận chuyển tuần
hoàn nhiều lần qua vùng phát sóng siêu âm,
dưới tác dụng của sóng siêu âm đã phá được kết
tinh, ngăn cản được quá trình kết tinh trở lại
trong thời gian tồn trữ.
Các thông số kỹ thuật chính của thiết bị cô
đặc trong bảng 1.
Với kết cấu như trên, thiết bị cô đặc CĐ-1
có thể đạt được những ưu điểm như sau:
Dịch mật được cô đặc trong chân không,
nhiệt độ sôi thấp nên đã nâng cao chất lượng mật
ong cả về giá trị dinh dưỡng và giá trị cảm quan.
Nhờ có lắp vành dẫn chất lỏng với nhiều
khe hẹp hình vành khăn đã phá vỡ bọt dịch mật
làm, hơi thứ thoát ra khỏi dịch làm tăng cường
độ bốc hơi nước, do đó đã giảm thời gian cô đặc.
Do có bộ phận phá kết tinh mật ong bằng
sóng siêu âm nên đã kéo dài được thời gian kết
tinh trở lại của mật ong trong quá trình tồn trữ.
3.2. Khảo sát ảnh hưởng của một số thông
số đến quá trình cô đặc
Tiến hành nghiên cứu thực nghiệm đơn yếu
tố để nghiên cứu ảnh hưởng riêng của một số
thông số chính như: nhiệt độ cô đặc Tcđ (C), thời
gian phát sóng siêu âm s (phút), chiều cao vành
dẫn chất lỏng Hvd đến điểm tổng hợp chất lượng
sản phẩm cô đặc Qcđ (đ), thời gian cô đặc cđ
(phút), thời gian kết tinh trở lại kt (ngày) và chi
phí điện năng riêng Nr (kWh/kgH2O).
Đặng Thanh Sơn, Trần Như Khuyên, Nguyễn Thanh Hải
1187
Bảng 1. Các thông số kỹ thuật chính của thiết bị cô đặc
Các thông sô Ký hiệu Đơn vị Giá trị
Năng suất thiết bị cô đặc Mcd kg/mẻ 16
Buồng tháo liệu:
Đường kính nón cụt trên
Chiều cao
Dnct
hnc
mm
mm
220
170
Buồng đun nóng:
Đường kính
Chiều dài
Ddn
Ldn
mm
mm
220
780
Buồng sôi:
Đường kính
Chiều dài
Ddn
Lbs
mm
mm
114
1350
Buồng phân ly hơi thứ:
Đường kính
Chiều dài
Ddn
Lnt
mm
mm
220
600
Buồng ngưng tụ:
Chiều dài
Chiều rộng
Chiều cao
Ld
Lr
Lc
mm
mm
mm
450
340
340
Bơm chân không:
Công suất
Số vòng quay
Nck
n
kW
vg/ph
2
1500
Bảng 2. Số liệu thí nghiệm xác định ảnh hưởng của nhiệt độ cô đặc
Nhiệt độ
cô đặc
Tcđ (C)
Các chỉ tiêu kinh tế - kỹ thuật
Điểm tổng hợp
chất lượng sản phẩm
cô đặc Qcđ (đ)
Thời gian
kết tinh trở lại
kt (ngày)
Thời gian
cô đặc
cđ (phút)
Chi phí năng lượng riêng
Nr (kWh/kg H2O)
Hàm lượng HMF
(mg/kg)
35 18,8 170 129 2,66 14,4
38 18,6 176 96 2,16 14,6
41 18,2 185 77 1,79 14,5
44 17,8 196 67 1,53 14,7
47 16,1 211 64 1,47 14,6
50 13,8 230 63 1,44 14,9
53 12,2 252 62 1,43 23,6
a. Ảnh hưởng của nhiệt độ cô đặc Tcđ (C)
Điều kiện thí nghiệm: Thời gian phát sóng
siêu âm s= 20 phút, chiều cao vành chất lỏng
Lvd = 580mm.
Kết quả thí nghiệm được ghi trong bảng 2 và
đồ thị biểu diễn mức độ ảnh hưởng trên hình 2.
Trên bảng 2 và hình 2 cho thấy, khi nhiệt
độ cô đặc tăng, tốc độ bốc hơi nước trong dịch
mật tăng, do vậy thời gian cô đặc, chi phí điện
năng riêng và điểm tổng hợp chất lượng sản
phẩm cô đặc giảm. Điều này có thể được giải
thích, tăng nhiệt độ cô đặc thì tốc độ các phản
ứng biến đổi về thành phần hóa học trong dịch
mật xảy ra mãnh liệt hơn, hiện tượng caramen
hóa làm cho sản phẩm cô đặc có màu nâu đen,
giảm vị ngọt, vì vậy điểm tổng hợp chất lượng
của sản phẩm cô đặc giảm xuống. Đặc biệt ở
nhiệt độ trên 50C hàm lượng HMF tăng lên
làm giảm chất lượng sản phẩm ảnh hưởng đến
Nghiên cứu thiết kế thiết bị cô đặc mật ong kiểu chân không dạng ống có vành dẫn chất lỏng phối hợp phá kết tinh
bằng sóng siêu âm
1188
chất lượng và tiêu chuẩn an toàn thực phẩm.
Như vậy, ở nhiệt độ khoảng 38-47C, điểm tổng
hợp chất lượng sản phẩm cô đặc tương đối cao,
thời gian cô đặc và chi phí điện năng riêng thấp
tương đối thấp và đặc biệt là hàm lượng HMF
không tăng trong sản phẩm sau khi cô đặc.
Hình 2. Đồ thị biểu diễn ảnh hưởng của nhiệt độ cô đặc Tcđ
Bảng 3. Số liệu thí nghiệm xác định ảnh hưởng của chiều cao vành dẫn chất lỏng Hvd
Chiều cao
vành chất lỏng Hvd
Các chỉ tiêu kinh tế - kỹ thuật
Điểm tổng hợp chất lượng sản
phẩm cô đặc Qcđ
Thời gian kết tinh trở lại
kt (ngày)
Thời gian cô đặc
cđ (phút)
Chi phí năng lượng riêng
Nr (kWh/kg H2O)
380 16,2 174 96 2,04
480 17,0 185 76 1,73
580 17,8 196 67 1,53
680 18,5 203 56 1,37
780 17,5 201 71 1,56
b. Ảnh hưởng của chiều cao vành dẫn chất lỏng
Hvd (mm)
Điều kiện thí nghiệm: Nhiệt độ cô đặc
Tcđ = 44C, thời gian phát sóng siêu âm
s= 20 phút.
Kết quả thí nghiệm được ghi trong bảng 3 và
đồ thị biểu diễn mức độ ảnh hưởng trên hình 3.
Khi tăng chiều cao vành dẫn chất lỏng sẽ
tăng được diện tích bề mặt bốc hơi nước trên bề
mặt các vách trụ của vành dẫn chất lỏng, đồng
thời cũng làm tăng tốc độ dòng chảy của dịch mật
trong các khe hẹp hình vành khăn làm tăng tốc
độ tuần hoàn của dịch mật trong bộ phận cô đặc,
nhờ đó, quá trình bốc hơi nước xảy ra mãnh liệt
nên thời gian cô đặc và chi phí điện năng riêng
giảm, điểm tổng hợp chất lượng sản phẩm cô đặc
tăng và thời gian kết tinh khi tồn trữ tăng. Nếu
tiếp tục tăng chiều cao vành dẫn chất lỏng thì
thời gian cô đặc và chi phí điện năng riêng tăng,
điểm tổng hợp chất lượng sản phẩm cô đặc và
thời gian kết tinh trở lại khi tồn trữ giảm nhẹ.
Nguyên nhân là do chiều cao vùng sôi giảm, số
lượng bọt tạo ra trong lòng khối dịch mật ở vùng
sôi ít, kích thước bọt nhỏ nên lượng hơi nước chứa
trong bọt ít, vì vậy tốc độ bay hơi nước giảm, thời
gian cô đặc kéo dài, gây nhiều biến đổi xấu về
màu sắc và mùi vị của sản phẩm.
Đặng Thanh Sơn, Trần Như Khuyên, Nguyễn Thanh Hải
1189
Hình 3. Đồ thị biểu diễn ảnh hưởng của chiều cao vành dẫn chất lỏng Hvd
Bảng 4. Số liệu thí nghiệm xác định ảnh hưởng của thời gian phát sóng siêu âm
Thời gian phát sóng
siêu âm s (phút)
Các chỉ tiêu kinh tế - kỹ thuật
Điểm tổng hợp chất lượng
sản phẩm cô đặc Qcđ
Thời gian kết tinh trở lại
kt (ngày)
Thời gian cô đặc
cđ (phút)
Chi phí năng lượng riêng
Nr(kWh/kg H2O)
5 17,5 116 81 1,93
10 18,0 148 76 1,79
15 18,4 170 72 1,66
20 17,8 196 67 1,53
25 17,4 220 64 1,48
30 17,1 244 62 1,55
35 16,8 268 68 1,66
c. Ảnh hưởng của thời gian phát sóng siêu âm
s (phút)
Điều kiện thí nghiệm: Nhiệt độ cô đặc
Tcđ = 44C, chiều cao vành chất lỏng Hvd = 580mm.
Kết quả thí nghiệm được ghi trong bảng 4 và
đồ thị biểu diễn mức độ ảnh hưởng trên hình 4.
Khi phát sóng siêu âm, trong khối chất lỏng
tạo ra chu trình kéo và nén tạo ra nhiều bọt khí.
Khi nén các phân tử ở gần nhau hơn tạo nên các
hạt bọt khí nhỏ, khi kéo sẽ làm cho các phân tử
tách nhau ra làm cho các bọt khí lớn dần. Chu
trình kéo nén phụ thuộc vào công suất, tần số của
đầu phát sóng siêu âm và thời gian phát sóng.
Khi tăng thời gian phát sóng siêu âm sẽ tạo
ra nhiều bọt khí trong dịch mật hơn, khi dịch
mật đi vào vùng cấp nhiệt và đặc biệt vào vùng
sôi các bọt khí nhận thêm nhiều hơi nước vào
trong bọt, quá trình tách ẩm ra khỏi dịch mật
càng thuận lợi hơn, nhờ đó đã làm giảm thời
gian cô đặc và chi phí điện năng riêng, điểm
tổng hợp chất lượng sản phẩm cô đặc tăng. Đồng
thời do sóng siêu âm truyền vào trong lòng chất
lỏng gây nên sự kích thích mãnh liệt trong khối
chất lỏng. Tại bề mặt tiếp xúc giữa hai pha lỏng
- rắn hoặc khí - rắn (phấn hoa chẳng hạn), sóng
siêu âm gây nên sự hỗn loạn cực độ do tạo thành
những vi xoáy. Hiện tượng này làm giảm ranh
giới giữa các pha, tăng cường sự chuyển khối đối
lưu và thúc đẩy sự khuếch tán giữa pha rắn vào
pha lỏng, nhờ đó đã làm tăng sự đồng nhất giữa
hai pha lỏng - rắn và loại bỏ được mầm kết tinh
(phấn hoa). Vì vậy, thời gian kết tinh trở lại khi
tồn trữ càng tăng cao.
Nghiên cứu thiết kế thiết bị cô đặc mật ong kiểu chân không dạng ống có vành dẫn chất lỏng phối hợp phá kết tinh
bằng sóng siêu âm
1190
Hình 4. Đồ thị biểu diễn ảnh hưởng của thời gian phát sóng siêu âm ôs
Hình 5. Sản phẩm mật ong sau khi cô đặc
Tuy nhiên, nếu tiếp tục tăng thời gian phát
sóng siêu âm, chu trình kéo nén tăng. Khi năng
lượng đủ lớn, tại chu trình kéo tương tác giữa
các phân tử sẽ vượt quá lực hấp dẫn nội tại,
hình thành các lỗ hổng nhỏ trong khối chất
lỏng, khi đó sẽ có một lượng nhỏ các cấu tử khí
khuếch tán vào pha lỏng làm giảm quá trình tạo
bọt và sự đồng nhất giữa hai pha lỏng - rắn.
Trên đồ thị hình 4 cho thấy ứng với thời gian
siêu âm tăng thì thời gian cô đặc, chi phí năng
lượng riêng tăng và điểm tổng hợp chất lượng
sản phẩm cô đặc có xu hướng giảm xuống.
Đặng Thanh Sơn, Trần Như Khuyên, Nguyễn Thanh Hải
1191
Trên đồ thị hình 2-4 cho thấy ứng với
khoảng biến thiên của nhiệt độ cô đặc trong
khoảng từ 35-53C thì việc việc tăng chiều cao
vành dẫn chất lỏng từ 380-680mm và thời gian
sóng siêu âm từ 15-30 phút sẽ có hiệu quả hơn so
với việc nâng cao nhiệt độ cô đặc, vì sản phẩm cô
đặc ít bị biến đổi xấu về chất lượng do nhiệt, cho
phép nâng cao chất lượng sản phẩm, giảm thời
gian cô đặc và chi phí điện năng riêng.
So với các thiết bị cô đặc thông dụng trong
sản xuất, thiết bị cô đặc CD-1 có ưu điểm: Thời
gian cô đặc giảm khá nhiều nhiều nhờ có vành
dẫn chất lỏng và bộ phát sóng siêu âm đã làm
tăng diện tích bốc hơi và vận tốc chuyển động
tuần hoàn của dịch mật trong buồng cô đặc,
tăng khả năng phá kết tinh đường trong dịch
mật, vì vậy đã nâng cao chất lượng sản phẩm cô
đặc, giảm chi phí điện năng riêng và tăng thời
gian kết tinh trở lại trong thời gian tồn trữ.
4. KẾT LUẬN
Trong thiết bị cô đặc CD-1 đã thiết kế và chế
tạo, việc lắp đặt vành dẫn chất lỏng đã góp phần
tích cực để nâng cao chất lượng sản phẩm, giảm
thời gian cô đặc và chi phí điện năng riêng.
Từ kết quả thí nghiệm khảo sát ảnh hưởng
của 3 yếu tố nhiệt độ cô đặc, chiều cao vành dẫn
chất lỏng và thời gian phát sóng siêu âm cho
thấy, cho thấy ứng với khoảng biến thiên của
nhiệt độ cô đặc trong khoảng từ 35-53C thì việc
tăng chiều cao vành dẫn chất lỏng từ 380-
680mm và thời gian sóng siêu âm từ 15-30 phút
sẽ có hiệu quả hơn so với việc nâng cao nhiệt độ
cô đặc, vì sản phẩm cô đặc ít bị biến đổi xấu về
chất lượng do nhiệt, cho phép nâng cao chất
lượng sản phẩm, giảm thời gian cô đặc và chi
phí điện năng riêng.
Các kết quả nghiên cứu trên là cơ sở quan
trọng để hoàn thiện quy trình công nghệ và thiết
kế cải tiến hệ thống thiết bị cô đặc mật ong.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
Ajlouni S. & Sujirapinyokul P. (2009).
Hydroxymethylfurfuraldehyde and amylase
contents in Australian honey. Food Chemistry.
119: 1000-1005.
Bogdanov S., Jurendic N., Sieber R. & Gallmann P.
(2008). Honey for Nutrition and Health: Review”.
American Journal of the College of Nutrition.
27: 677-689.
Dimins F., Kuka F., Kuka M. & Cakste I. (2006). The
Criteria of Honey and its Changes during Storage
and Thermal Treatment, LLU Raksti, 16: 73-78
Eteraf-Oskouei T. & Najafi M. (2013). Traditional and
Modern Uses of Natural Honey in Human
Diseases: A Review. Iranian Journal of Basic
Medical Sciences. 16: 731-742.
Karabournioti S. & Zervalaki P. (2001). The effect of
heating on honey HMF and invertase. Apiacta. 4.
Manyi-Loh C.E., Clarke1 A.M. & Ndip R.N. (2011).
An overview of honey: Therapeutic properties and
contribution in nutrition and human health. African
Journal of Microbiology Research. 5: 844-852.
Mohapatra D.P., Thakur V. & Brar S.K. (2011).
Antibacterial Efficacy of Raw and Processed
Honey. Biotechnology Research International.
Rahima D.K. (2013). Ultrasound-assisted Liquefaction
of Honey, PhD Thesis submitted the Universitat
Politècnica de Catalunya. 172p.
Shapla U.M., Solayman Md., Alam N., Ibrahim Khalil
Md. & Gan S.H. (2018). 5-Hydroxymethylfurfural
(HMF) levels in honey and other food products:
efects on bees and human health. Chemistry
Central Journal. 12: 35.
Tosi E., Ré E., Lucero H. & Bulacio L. (2004). Effect
of honey high-temperature short-time heating on
parameters related to quality, crystallisation
phenomena and fungal inhibition. LWT - Food
Science and Technology. 37: 669-678.
Tosi E., Ciappini M., Ré E. & Lucero H. (2002). Honey
thermal treatment effects on
hydroxymethylfurfural content. Food Chemistry.
77: 71-74.
Voidarou C., Alexopoulos A., Plessas S., Karapanou
A., Mantzourani I., Stavropoulou E., Fotou K.,
Tzora A., Skoufos I. & Bezirtzoglou E. (2011).
Antibacterial activity of different honeys against
pathogenic bacteria. Anaerobe. 17: 375-379.
Vũ Thục Linh (2015). Báo cáo thị trường mật ong EU.
Cục Xúc tiến thương mại, Bộ Công thương.
Vũ Kế Hoạch, Nguyễn Hay, Lê Quang Giảng & Lê
Anh Đức (2010). Nghiên cứu xác định các thông
số tối ưu máy sấy lạnh mật ong. Tạp chí Khoa học
Công nghệ, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông
thôn. 6: 95-101.
Ye Y. (2015). Effect of high intensity ultrasound on
crystallization behavior and functional properties
of lipids. Doctor of philosophy thesis in Nutriton
anh Food Sciences. Utah State University,
Logan, Utah.
Các file đính kèm theo tài liệu này:
nghien_cuu_thiet_ke_thiet_bi_co_dac_mat_ong_kieu_chan_khong.pdf