Theo một số tác giả, tổng số trứng của loài
ruồi B. dorsalis phụ thuộc vào hai yếu tố độc lập
trong cơ thể ruồi mẹ đó là mầm tế bào trứng và
chất lượng thức ăn nuôi sâu non, thức ăn nuôi
trưởng thành. Trong thí nghiệm này, ruồi trưởng
thành được ăn cùng một loại hỗn hợp là đường
trộn với đạm dạng hydrolysed. Theo dõi tổng số
lượng trứng đẻ của 20 cặp từ khi ruồi trưởng
thành được 20 ngày tuổi cho đến ngày tuổi thứ
40 đã ghi nhận trưởng thành từ công thức nuôi
sâu non bằng cà rốt, cám ngô và khoai lang có
tổng số trứng nhiều hơn hẳn (tương ứng là 3383
trứng; 3279,7 và 3333 trứng) và không khác biệt
nhau ở mức có ý nghĩa thống kê (P≤ 0,05). Số
lượng trứng do trưởng thành cái từ công thức
nuôi sâu non bằng khoai tây đẻ đạt thấp hơn
nhiều (2682,3 trứng) (hình 3). Sự sai khác về
tổng số trứng giữa các công thức là do chất
lượng các nguyên liệu dùng làm thức ăn sâu
non. Thức ăn là củ cà rốt, cám ngô và khoai lang
có lẽ đã giúp cho trưởng thành cái hình thành
nhiều tế bào trứng hơn. Như vậy, danh sách ưu
tiên về nguyên liệu trộn trong thức ăn sâu non
dựa trên chỉ tiêu tổng số trứng thu được là cà rốt,
khoai lang, cám và cuối cùng là khoai tây.
Tổng hợp chung các chỉ tiêu nghiên cứu cho
thấy cả bốn loại nguyên liệu cà rốt, cám ngô,
khoai lang, khoai tây dùng làm thức ăn nuôi sâu
non đều thích hợp với loài B. dorsalis. Trong số
bốn loại nguyên liệu kể trên thì cà rốt, khoai lang,
khoai tây tỏ ra ưu thế hơn so với cám. Trong
nhóm ưu thế đó thì thức ăn cà rốt có hạn chế do
phụ thuộc mùa vụ, trưởng thành vũ hóa từ nguồn
sâu non nuôi bằng thức ăn khoai tây cho thời
gian vòng đời dài hơn so với khoai lang. Vì vậy,
mặc dù giá mua khoai tây và khoai lang trên thị
trường gần tương đương nhau, nhưng rõ ràng
vòng đời trưởng thành dài hơn dẫn đến chi phí
sẽ tăng, do đó dù nằm trong nhóm thức ăn có ưu
thế song khoai tây chưa phải là lựa chọn phù
hợp trong nhân nuôi ruồi. Thức ăn khoai lang do
có giá bán thấp, nguồn cung sẵn quanh năm, ít bị
nhi m hóa chất và rút ngắn được thời gian nuôi
là lựa chọn hợp lý cho sản xuất nhộng ruồi trong
điều kiện đầu tư của Việt Nam.
6 trang |
Chia sẻ: hachi492 | Lượt xem: 9 | Lượt tải: 0
Bạn đang xem nội dung tài liệu Nghiên cứu thức ăn nuôi sâu non hỗ trợ quy trình sản xuất ruồi đục quả (bactrocera dorsalis hendel) quy mô lớn, để tải tài liệu về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
Kết quả nghiên cứu khoa học BVTV - Sè 5/2018
15
NGHIÊN CỨU THỨC ĂN NUÔI SÂU NON HỖ TRỢ QUY TRÌNH SẢN XUẤT
RUỒI ĐỤC QUẢ (Bactrocera dorsalis Hendel) QUY MÔ LỚN
Development of the Larval Diets to Support the Mass Rearing Fruit Fly
of Bactrocera dorsalis Hendel
Nguyễn Thị Thanh Hiền, Vũ Thị Thùy Trang, Lê Đức Khánh,
Hà Thị Kim Liên, Vũ Văn Thanh, Đặng Đình Thắng, Lê Thị Xuyến
Viện Bảo vệ thực vật
Ngày nhận bài: 09.08.2018 Ngày chấp nhận: 19.08.2018
Abstract
Studying on using fresh carrot, corn powder, sweet potato and potato as a major part of larval diet was
conducted in order to find out the most suitable diet in mass rearing, supporting the sterilized insect
technique in AW-IPM strategy. Results showed that the percentage of egg hatching, larval, pupae in each
diet formula had met the standard and recorded as 76.3-81%; 76.7-88.3% 85.7-91.7%, respectively. Pupal
weight of 100 was the same among four kinds of larval diet and ranged between 1.51-1.59 gram. The
developing time of egg was 2.1-2.5 days while larval needed 9.89-10.46 days and 9.26-11.17 days was time
to complete pupal growth. Females spent 20.03-20.42 days pre-opvipositing. Life cycle of B. dorsalis reared
by fresh carrot, corn powder, sweet potato and potato was from 40.21 to 41.63 days. The total number of
egg of twenty 20 – 40 day-old pairs varied between 2682 - 3383 eggs. As a result, four kinds of larval diet
were completely suitable, among which sweet potato is recommended to be used in mass rearing of B.
dorsalis due to its advantages.
Keywords: Mass rearing fruit fly, Sweet potato, B. dorsalis
1. ĐẶT VẤN ĐỀ
Trong những năm qua, nhiều loài ruồi đục
quả có ý nghĩa kinh tế quan trọng của Việt Nam
đã được nghiên cứu nhân nuôi như Bactrocera
dorsalis, Bactrocera cucurbitae, Bactrocera
carambolae, Bactrocera correcta,phục vụ cho
công tác bảo vệ thực vật và kiểm dịch thực vật.
Việc sản xuất đồng loạt nhộng ruồi với số lượng
lớn nhằm hướng tới áp dụng kỹ thuật triệt sản
côn trùng (Sterile Insect Technique - SIT) trong
kiểm soát ruồi gây hại quả thanh long được thử
nghiệm với hai loài Bactrocera dorsalis và
Bactrocera correcta tại Viện Bảo vệ thực vật từ
năm 2012. Theo đó, thức ăn giai đoạn sâu non là
quan trọng nhất của quy trình nuôi bởi có ảnh
hưởng trực tiếp đến chất lượng ruồi bất dục và
chiếm chi phí lớn. Cà rốt tươi, bột cà rốt nhập,
cám mì Nhật và bột ngô đã được sử dụng làm
nguyên liệu thức ăn nuôi sâu non trong các
nghiên cứu của Dương Minh Tú và nnk. (2001);
Nguy n Hữu Đạt và nnk. (2004) và Phạm Thị Mỹ
Nhan và nnk. (2013). Tuy nhiên, việc sử dụng
các nguyên liệu kể trên có những hạn chế do phụ
thuộc mùa vụ cà rốt hoặc giá thành tăng do chi
phí nhập khẩu. Vì vậy, nghiên cứu sử dụng
nguyên liệu có sẵn trong nước là cần thiết nhằm
tăng tính chủ động, lợi thế giá thành trong sản
xuất nhộng ruồi đục quả.
Bài viết này cung cấp kết quả nghiên cứu
sử dụng khoai lang trong thành phần thức ăn
nuôi sâu non loài Bactrocera dorsalis tại Viện
Bảo vệ thực vật trong khuôn khổ dự án hợp tác
với Cơ quan năng lượng nguyên tử quốc tế
(IAEA) với định hướng áp dụng kỹ thuật SIT tại
Việt Nam.
2. VẬT LIỆU VÀ PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Vật liệu
- Ruồi đục quả B. dorsalis Hendel thuộc thế
hệ thứ 6 và bố mẹ có nguồn gốc thu từ quả
thanh long
- Dụng cụ: Tủ lạnh, máy xay, hộp thu nhộng
(kích thước 20x20x20cm, nhựa PVC mềm), đĩa
nhựa, rây, lồng nuôi quần thể (kích thước 180 x
50 x 160cm), đĩa petri nhựa (đường kính 8,5cm),
khay inox dùng trong thí nghiệm thức ăn (kích
thước 48,5 x 33,5 x 1,5 cm); cốc đong bằng
nhựa có tay cầm, có chia vạch, dung tích 1 lít
(đường kính 11,5cm), .
- Nguyên liệu: Yeast Torula (xuất xứ từ Mỹ),
Yeast Hydrolysate Enzymatic (xuất xứ từ Mỹ),
đường kính trắng xuất khẩu (xuất xứ Việt Nam),
BVTV - Sè 5/2018 Kết quả nghiên cứu khoa học
16
vỏ trấu, khoai lang giống Nhật (vỏ tím ruột
vàng), khoai tây, cà rốt, cám ngô SH2000, nước
cất, giấy thấm,.. Các loại củ được hấp chín.
Đường xay nhỏ trộn với nước và sử dụng ở
dạng sệt (nhão).
- Hóa chất: Cồn 70
°
, nippagin (xuất xứ Trung
Quốc), agar (Trung Quốc)
2.2 Phƣơng pháp nghiên cứu
Phương pháp nuôi ruồi và đánh giá tỷ lệ
trứng nở, thời gian phát triển, khối lượng
nhộng theo Walker G.P. và nnk., (1996);
FAO/IAEA/USDA (2014).
2.2.1. Nghiên cứu lựa chọn thức ăn
- Công thức thí nghiệm:
Công thức 1(gọi tắt là công thức khoai lang):
90gram khoai lang chín + 8gram torula yeast +
2gram nippagin + 50ml nước cất
Công thức 2 (gọi tắt là công thức cám ngô):
175gram cám ngô SH2000 + 35gram torula yeast
+ 50gram đường + 3gram nippagin + 25gram
giấy ăn + 500ml nước cất
Công thức 3 (gọi tắt là công thức khoai tây):
90gram khoai tây chín + 8gram torula yeast +
2gram nippagin + 70ml nước cất
Công thức 4 (gọi tắt là công thức cà rốt):
86gram cà rốt + 10gram torula yeast + 1gram
nippagin + 3gram đường
- Định mức thức ăn: 0,3 gam thức ăn/ 1 trứng;
Khoai lang và khoai tây hấp chín sau đó xay
nhuy n và trộn theo tỷ lệ tương ứng mỗi công
thức nêu trên
- Phương pháp đánh giá chất lượng thức ăn:
Pha trứng: Rải trứng lên đĩa thức ăn và đặt
đĩa trứng vào phòng nuôi. Bắt đầu kiểm tra vỏ
trứng sót lại trên thức ăn từ sau khi thu trứng 18-
20 giờ, thực hiện 2 lần/ngày vào lúc 8 giờ sáng
và 18 giờ chiều hàng ngày. Theo dõi 100
trứng/lần nhắc lại, thực hiện nhắc lại 3 lần. Ghi
nhận thời gian có quả trứng nở đầu tiên đến quả
trứng cuối cùng nở. Tỷ lệ trứng nở được tính
theo công thức:
Tỷ lệ trứng nở (%) = (Σ vỏ trứng/Σ trứng theo
dõi ) x 100 (1)
Pha sâu non: Đặt đĩa có sâu non vào phòng
nuôi. Khi sâu non được 4 ngày tuổi bắt đầu quan
sát việc sâu non chuyển sang giai đoạn nhộng
vào 13 giờ hàng ngày. Theo dõi 100 sâu non/lần
nhắc lại, thực hiện nhắc lại 3 lần. Ghi nhận thời
gian có nhộng đầu tiên xuất hiện và thời gian
nhộng cuối cùng xuất hiện. Tỷ lệ sâu non vào
nhộng tính theo công thức:
Tỷ lệ sâu non vào nhộng (%) = (Σ nhộng/Σ
sâu non theo dõi) x 100 (2)
Pha nhộng: Dùng bút lông nhẹ nhàng gạt
nhộng vào hộp có sẵn mùn cưa ẩm, sau đó
dùng mùn cưa ẩm phủ kín nhộng một lớp dày
1,5 cm. Đặt hộp có nhộng vào phòng nuôi. Khi
nhộng được 7 ngày tuổi bắt đầu quan sát vũ
hoá trưởng thành. Kiểm tra mỗi ngày 1 lần vào
10 giờ sáng. Theo dõi 100 nhộng/lần nhắc lại,
thực hiện nhắc lại 3 lần. Ghi nhận thời gian có
nhộng đầu tiên vũ hóa trưởng thành đến nhộng
cuối cùng vũ hóa trưởng thành. Tỷ lệ nhộng vũ
hoá tính theo công thức:
Tỷ lệ nhộng vũ hoá (%) = (Σ trưởng thành vũ
hoá/Σ nhộng theo dõi ) x 100 (3)
Pha trưởng thành: Tách và ghép cặp trưởng
thành ngay sau khi vũ hoá vào lồng nuôi cá thể.
Bôi đường nhão lên vải màn phía đỉnh lồng trong
3 ngày đầu, từ ngày tuổi thứ 4 trở đi thay đường
nhão bằng hỗn hợp thức ăn gồm 1 phần Yeast
Hydrolysate và 4 phần đường. Nước được cung
cấp bằng xốp mút nối trên đỉnh lồng tới hộp
nước. Đặt lồng nuôi vào phòng nuôi. Khi trưởng
thành ngoài 11 ngày tuổi bắt đầu quan sát
trưởng thành đẻ trứng bằng cách dùng miếng
agar nấu chín (kích thước 4 cm x 4cm x 1,5 cm)
để lên đỉnh lồng. Kiểm tra mỗi ngày 1 lần vào 16
giờ chiều. Quan sát 20 cá thể cho mỗi lần nhắc
lại, thực hiện 3 lần nhắc lại. Ghi nhận thời gian
đẻ quả trứng đầu tiên của mỗi cặp trưởng thành,
thời gian sống và đẻ trứng của trưởng thành,
tổng số trứng thu được trong giai đoạn tuổi từ 20
– 40 ngày tuổi.
Điều kiện phòng thí nghiệm: Các pha phát
dục trứng, sâu non, nhộng nuôi ở nhiệt độ 26-
28
°
C, ẩm độ 60-80%, tắt ánh sáng. Pha trưởng
thành nuôi trong phòng nuôi có điều kiện nhiệt độ
26-28
°
C, ẩm độ 60-80%, chiếu sáng 12
tiếng/ngày.
Số liệu được xử lý thống kê sinh học theo
phương pháp của Võ Văn Huy và nnk. (1997) và
IRISTAT 5.0. Các giá trị phần trăm (%) sẽ được
chuyển đổi bằng hàm Arcsine để xử lý thống kê.
3. KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN
Ruồi đục quả Bactrocera dorsalis có tỷ lệ
hoàn thành phát triển pha trứng đạt cao nhất ở
công thức dùng cà rốt (82,3%), tiếp đến là công
thức cám ngô (82,0%), khoai lang (81,0%) và
thấp nhất là công thức khoai tây (76,3%) (bảng
Kết quả nghiên cứu khoa học BVTV - Sè 5/2018
17
1). Tỷ lệ nở của trứng ở các công thức cà rốt,
cám ngô và khoai tây không khác biệt ở mức có
ý nghĩa thống kê với nhau song lại có sai khác so
với công thức khoai lang (P≤ 0,05) (bảng 1). Tỷ
lệ nở của trứng trong nghiên cứu này cao hơn
hẳn so với kết quả của Nguy n Hữu Đạt và Bùi
Công Hiển (2004), khi các tác giả này chỉ ghi
nhận có 75,5% trứng nở.
Tỷ lệ sâu non hoàn thành phát triển cao nhất
88,3% ở công thức cà rốt. Chỉ tiêu này ở công
thức cám ngô, khoai lang và khoai tây thấp hơn,
lần lượt là 85,7%; 82,0% và 76,7% (bảng 1).
Giữa các công thức thử nghiệm đã thể hiện có
sự sai khác ở mức có ý nghĩa thống kê (bảng 1).
Tuy nhiên tỷ lệ sâu non vào nhộng của các công
thức trong thí nghiệm này lại cao hơn so với
73,3% như kết quả của Nguy n Hữu Đạt và Bùi
Công Hiển (2004).
Tỷ lệ nhộng vũ hóa trưởng thành ở công thức
thức ăn cà rốt và cám là khá cao (tương ứng là
91,0% và 91,7 %). Trong khi ở công thức thức ăn
khoai lang, khoai tây thấp hơn và cùng đạt 85,7%
(bảng 1). Dữ liệu chênh lệnh này đã tạo ra sự sai
khác ở mức có ý nghĩa thống kê giữa các công
thức thí nghiệm (bảng 1). Tuy nhiên, giá trị thu
được trong nghiên cứu này lại thấp hơn so với
tỷ lệ 98,28% như ghi nhận của Dương Minh Tú
và nnk. (2001).
Bảng 1. Một số chỉ tiêu sinh học của loài B. dorsalis khi nuôi sâu non
bằng các loại thức ăn khác nhau
(Viện Bảo vệ thực vật, năm 2013-2014)
Thức ăn có
thành phần
Tỷ lệ (%) hoàn thành phát triển tại pha
Trứng Sâu non Nhộng
Cà rốt (ĐC) 82,3 ± 1,3 a 88,3 ± 1,8 a 91,0 ± 2,6 a
Cám ngô 82,0 ±17 a 85,7 ±1,5 a 91,7 ± 1,9 a
Khoai lang 81,0
± 35 ab 82,0± 4,7 ab 85,7 ± 4,4 b
Khoai tây 76,3
± 2,6 b 76,7
± 3,5 b 85,7 ± 4,1 b
LsD0,05 9,5 9,8 7,0
CV% 5,4 6,0 4,4
Ghi chú: Nhiệt độ 26-28°C, ẩm độ: 60-80%; Trong cùng một cột, các giá trị có cùng chữ cái không
khác nhau với mức ý nghĩa 5%. ĐC: đối chứng
Khối lượng trung bình 100 nhộng giao động
từ 1,51 đến 1,59 gram (hình 1) và không có sự
sai khác ở mức có ý nghĩa thống kê (P≤ 0,05)
giữa các công thức thí nghiệm. Khối lượng
nhộng trong nghiên cứu này thấp hơn so với kết
quả nghiên cứu của Dương Minh Tú và nnk.
(2001) và Nguy n Thị Thanh Hiền (2014). Nhóm
tác giả Dương Minh Tú và nnk. (2001), Nguy n
Hữu Đạt và Bùi Công Hiển (2004) dùng cà rốt
khô nuôi sâu non đã thu được khối lượng 100
nhộng trung bình 1,67 gram. Theo tác giả
Nguy n Thị Thanh Hiền thì khối lượng 100
nhộng từ sâu non nuôi bằng củ cà rốt, ổi, xoài
đạt lần lượt tương ứng là 1,83 gram, 1,61 gram
và 1,59 gram. Tuy nhiên kết quả trong nghiên
cứu này lại cao hơn so với nuôi sâu non bằng
bột ngô của Dương Minh Tú và nnk. (2001), nuôi
bằng cà rốt tươi và bột bắp của nhóm tác giả
Nguy n Hữu Đạt và Bùi Công Hiển (2004) và
nuôi bằng đào mèo, đu đủ của Nguy n Thị
Thanh Hiền (2014). Mặc dù kết quả nghiên cứu
có khác nhau nguyên do là các tác giả sử dụng
nguồn thức ăn không giống nhau, song tất cả
đều đạt trong ngưỡng khuyến cáo về đánh giá
chất lượng quần thể nuôi thông qua khối lượng
nhộng ruồi của Walker G.P. và nnk., (1996) và
IAEA (2014).
Trứng loài B. dorsalis trong công thức sử
dụng khoai lang nuôi sâu non cho thời gian phát
dục là ngắn nhất (2,1 ngày) và khoai tây là dài
nhất (2,5 ngày). Như vậy, thời gian phát dục pha
trứng của thí nghiệm này là trên 2 ngày và dài hơn
hẳn so với chỉ tiêu đã công bố trong nghiên cứu
của Nguy n Hữu Đạt (2003), Manoto và Tuazon
(1992-1993), Võ Thị Bảo Trang và nnk., (2012).
Theo các tác giả này, thời gian phát dục pha trứng
của ruồi đục quả B. dorsalis chỉ biến động trong
phạm vi 1,04 -1,3 ngày. Sự khác nhau này có thể
lý giải bởi các tác giả đã tiến hành trong những
điều kiện thí nghiệm khác nhau.
Thời gian phát dục pha sâu non giao động
9,89- 10,46 ngày và không có sự sai khác giữa
bốn công thức thí nghiệm (P≤ 0,05) (bảng 2).
Điều này ngược với ghi nhận trong nghiên cứu
BVTV - Sè 5/2018 Kết quả nghiên cứu khoa học
18
của Nguy n Thị Thanh Hiền (2014) khi sử dụng
quả đào mèo (Prunus persica L.), quả xoài
(Mangifera indica L.), quả ổi (Psidium guajava
L.), quả đu đủ (Carica papaya L.) và củ cà rốt
(Daucus carota subsp. sativus) làm thức ăn nuôi
sâu non. Tác giả này ghi nhận có sự sai khác
giữa các công thức về thời gian phát dục sâu
non và giá trị tương ứng lần lượt với mỗi loại
thức ăn là 11,26 ngày; 9,83 ngày; 10,66 ngày,
9,62 ngày và 9,04 ngày. Ngoài ra, thời gian phát
dục pha sâu non trong nghiên cứu này dài hơn
nhiều so với trong nghiên cứu của Nguy n Hữu
Đạt và Bùi Công Hiển (2004) khi nhóm tác giả
này chỉ ghi nhận là 5,7 - 6,8 ngày.
Hình 1. Khối lƣợng nhộng ruồi đục quả B. dorsalis khi nuôi sâu non
bằng các loại thức ăn khác nhau
(Điều kiện thí nghiệm: nhiệt độ 26-28
°
C và 60-80% ẩm độ)
(Viện Bảo vệ thực vật, 2013- 2014)
Thời gian phát dục pha nhộng của ruồi đục quả
B. dorsalis trong nghiên cứu của Dương Minh Tú
và nnk. (2001) nuôi bằng củ cà rốt kéo dài trung
bình 10,7 - 11,5 ngày. Chỉ tiêu này trong thí nghiệm
của Nguy n Hữu Đạt và Bùi Công Hiển (2004) nuôi
sâu non bằng củ cà rốt chỉ là 7 - 8 ngày. Trong khi
nghiên cứu này lại thu được giá trị biến động trong
phạm vi từ 9,26 đến 11,17 ngày (bảng 2).
Bảng 2. Thời gian phát dục các pha của ruồi B. dorsalis khi sâu non
nuôi bằng các loại thức ăn khác nhau
(Viện Bảo vệ thực vật, năm 2013-2014)
Loại thức ăn
Thời gian phát dục các pha (ngày) TG trước trưởng thành
đẻ trứng (ngày)
Trứng Sâu non Nhộng
Cà rốt (ĐC) 2,4 ± 0,43 a 9,89 ± 0,07 a 10,60 ± 0,09 a 20,18 ± 0,82 a
Cám ngô 2,4 ± 0,03 a 10,16 ± 0,07 a 10,88 ±0,07 a 20,03 ±1,26 a
Khoai lang 2,1 ± 0,04 a 9,92 ± 0,09 a 9,26 ± 0,1 a 20,08 ± 0,81 a
Khoai tây 2,5 ± 0,04 a 10,46 ± 0,07 a 11,17±0,12 a 20,42 ±1,02 a
LsD0,05 0,1 0,5 0,62 0,5
CV(%) 2,3 2,6 3,1 1,3
Ghi chú: Nhiệt độ 26 -28
°
C, ẩm độ 60 – 80%; ĐC: đối chứng
Thời gian trước đẻ trứng của trưởng thành ở
các công thức thí nghiệm không có sự sai khác
đáng kể (P≤ 0,05). Chỉ tiêu này biến động từ
20,03 ngày khi nuôi sâu non bằng cám đến 20,42
ngày khi nuôi sâu non bằng khoai tây (bảng 2).
Thời gian vòng đời loài B. dorsalis giao động
từ 40 đến 41 ngày giữa các công thức thí nghiệm
(hình 2). Trong đó, có thời gian vòng đời ngắn
nhất là công thức khoai lang (40,21 ± 1,52 ngày)
và dài nhất là công thức khoai tây (41,63 ± 1,01
Kết quả nghiên cứu khoa học BVTV - Sè 5/2018
19
ngày). Như vậy, thức ăn nuôi sâu non khác nhau
đã có ảnh hưởng rõ rệt tới thời gian vòng đời loài
B. dorsalis (P< 0,05%). Thời gian vòng đời của
ruồi đục quả B. dorsalis trong thí nghiệm này dài
gấp hơn 1,5 lần so với chỉ tiêu này (là 18,5 – 26,5
ngày) trong các kết quả nghiên cứu của Kamala
Jayanthi (2002), Nguy n Hữu Đạt và Bùi Công
Hiển (2004). Kết quả nghiên cứu cũng cho thấy,
để rút ngắn thời gian nuôi loài B. dorsalis nên ưu
tiên sử dụng thức ăn sâu non có thành phần
khoai lang, tiếp đến là cà rốt, đứng thứ ba là cám
ngô và cuối cùng là khoai tây .
Hình 2. Thời gian vòng đời của loài B. dorsalis khi sâu non nuôi bằng các loại thức ăn
(Viện Bảo vệ thực vật, 2015-2016)
Ghi chú: Nhiệt độ 26 -28
°
C, ẩm độ 60 – 80%; TG: thời gian;
Theo một số tác giả, tổng số trứng của loài
ruồi B. dorsalis phụ thuộc vào hai yếu tố độc lập
trong cơ thể ruồi mẹ đó là mầm tế bào trứng và
chất lượng thức ăn nuôi sâu non, thức ăn nuôi
trưởng thành. Trong thí nghiệm này, ruồi trưởng
thành được ăn cùng một loại hỗn hợp là đường
trộn với đạm dạng hydrolysed. Theo dõi tổng số
lượng trứng đẻ của 20 cặp từ khi ruồi trưởng
thành được 20 ngày tuổi cho đến ngày tuổi thứ
40 đã ghi nhận trưởng thành từ công thức nuôi
sâu non bằng cà rốt, cám ngô và khoai lang có
tổng số trứng nhiều hơn hẳn (tương ứng là 3383
trứng; 3279,7 và 3333 trứng) và không khác biệt
nhau ở mức có ý nghĩa thống kê (P≤ 0,05). Số
lượng trứng do trưởng thành cái từ công thức
nuôi sâu non bằng khoai tây đẻ đạt thấp hơn
nhiều (2682,3 trứng) (hình 3). Sự sai khác về
tổng số trứng giữa các công thức là do chất
lượng các nguyên liệu dùng làm thức ăn sâu
non. Thức ăn là củ cà rốt, cám ngô và khoai lang
có lẽ đã giúp cho trưởng thành cái hình thành
nhiều tế bào trứng hơn. Như vậy, danh sách ưu
tiên về nguyên liệu trộn trong thức ăn sâu non
dựa trên chỉ tiêu tổng số trứng thu được là cà rốt,
khoai lang, cám và cuối cùng là khoai tây.
Hình 3. Ảnh hƣởng của thức ăn nuôi sâu non đến sức đẻ trứng của trƣởng thành cái
ruồi đục quả B. dorsalis (Viện Bảo vệ thực vật, 2013- 2014)
Ghi chú: Nhiệt độ 26 -28
°
C, ẩm độ 60 – 80%; TG: thời gian;
3383,0
2979,7
3333,0
2682,3
0
500
1000
1500
2000
2500
3000
3500
4000
Cà rốt Cám ngô Khoai lang Khoai tây
TS. trứng
(trứng)
Thức ăn
BVTV - Sè 5/2018 Kết quả nghiên cứu khoa học
20
Tổng hợp chung các chỉ tiêu nghiên cứu cho
thấy cả bốn loại nguyên liệu cà rốt, cám ngô,
khoai lang, khoai tây dùng làm thức ăn nuôi sâu
non đều thích hợp với loài B. dorsalis. Trong số
bốn loại nguyên liệu kể trên thì cà rốt, khoai lang,
khoai tây tỏ ra ưu thế hơn so với cám. Trong
nhóm ưu thế đó thì thức ăn cà rốt có hạn chế do
phụ thuộc mùa vụ, trưởng thành vũ hóa từ nguồn
sâu non nuôi bằng thức ăn khoai tây cho thời
gian vòng đời dài hơn so với khoai lang. Vì vậy,
mặc dù giá mua khoai tây và khoai lang trên thị
trường gần tương đương nhau, nhưng rõ ràng
vòng đời trưởng thành dài hơn dẫn đến chi phí
sẽ tăng, do đó dù nằm trong nhóm thức ăn có ưu
thế song khoai tây chưa phải là lựa chọn phù
hợp trong nhân nuôi ruồi. Thức ăn khoai lang do
có giá bán thấp, nguồn cung sẵn quanh năm, ít bị
nhi m hóa chất và rút ngắn được thời gian nuôi
là lựa chọn hợp lý cho sản xuất nhộng ruồi trong
điều kiện đầu tư của Việt Nam.
4. KẾT LUẬN
Bốn loại thức ăn nuôi sâu non với thành phần
có cám ngô, khoai lang, khoai tây và cà rốt đều
có thể sử dụng trong nhân nuôi quần thể loài ruồi
B. dorsalis.
Thời gian vòng đời loài B. dorsalis khi sâu non
nuôi bằng thức ăn khoai lang đạt ngắn nhất và là
40,2 ngày, khối lượng 100 nhộng ruồi đạt trung
bình 1,51gram và tổng số trứng đẻ của 20 cặp ruồi
trong giai đoạn từ 20 ngày tuổi đến 40 ngày đạt
trung bình 3333 trứng. Các chỉ tiêu như tỷ lệ hoàn
thành phát triển pha phát dục trứng, sâu non,
nhộng đạt ngưỡng cho phép và tương ứng lần lượt
là 81,0%; 82,0% và 85,7%. Do đó khoai lang là
nguyên liệu có ưu thế vượt trội dùng làm thức ăn
nuôi sâu non trong sản xuất ruồi quy mô lớn.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Nguy n Hữu Đạt, 2003.“Ruồi đục quả và biện
pháp xử lý sau thu hoạch bằng hơi nước nóng”. Kỷ
yếu hội thảo khoa học:Bảo vệ thực vật phục vụ chủ
trương chuyển đổi cơ cấu cây trồng ở các tỉnh phía
Nam và Tây Nguyên: tr. 45-53.
2. Nguy n Hữu Đạt và Bùi Công Hiển, 2004. “Một
số dẫn liệu về sinh học và thức ăn nhân tạo của ruồi
đục quả Bactrocera dorsalis Hendel”. Tạp chí Bảo vệ
thực vật số 5/2004: tr. 3-9.
3. Nguy n Thị Thanh Hiền, 2014. Nghiên cứu
đặc điểm sinh học, sinh thái chủ yếu của loài ruồi
đục quả Phương Đông Bactrocera dorsalis Hendel
hại cây ăn quả và biện pháp phòng chống theo
hướng tổng hợp ở Mộc Châu, Sơn La”. Luận án tiến
sỹ khoa học nông nghiệp.
4. Võ Văn Huy, Võ Thị Lan và Hoàng Trọng, 1997. Ứng
dụng SPSS for Windows để xử lý và phân tích dữ liệu
nghiên cứu. Nhà xuất bản Khoa học kỹ thuật, Hà Nội.
5. Dương Minh Tú, Tống Mai San và ctv., 2001.
“Kết quả nuôi ruồi đục quả Phương Đông bằng thức
ăn nhân tạo”. Tạp chí Bảo vệ thực vật (2): tr. 19-21.
6. Võ Thị Bảo Trang, Nhan Thị Minh Uyên, Chu
Hồng Châu, Hồ Thị Bích Ngọc, Nhụt Minh, Phạm Thị
Mỹ Nhan, Vũ Thị Lành, Nguy n Hữu Đạt, 2012. “
Xác định ngưỡng nhiệt độ và thời gian xử lý hơi nước
nóng trừ ruồi đục quả phương đông Bactrocera
dorsalis Hendel và ruồi đục quả ổi Bactrocera correcta
Bezii (Diptera: Tephritidae) trên giống Xoài Cát
chu”. Tạp chí Bảo vệ thực vật số 6: tr. 3-9.
7. Lawson A.E., McGuire D.J., Yeates D.K., Drew
R.A.I., Clarke A.R., 1998. ”DORSALIS” – An interactive
identification tool to fruit flies of the Bactrocera dorsalis
complex. (Lucid disk – Griffith University, Australia).
8. Manoto E., Tuazon E., 1992-1993). “Development
of Oriental Fruit Fly artificial diet”. In: Development of heat
system for quarantine disinfestation in Tropical fruit.
Annual report 1992-1993: page 6.
9. Mahfuza Khan, Aftab Hossain M., Shakil A.. Khan,
M. Saidul Islam and C.L. Chang, 2011. “Development of
liquid larval diet with modifiered rearing system for
Bactrocera dorsalis (Hendel) (Diptera: Tephritidae) for the
application of sterile insect technique”. In: ARPN Jounarl
of Agricultural and Biological Science. Vol. 6, No.10,
October: page 55-57.
10. Kamala Jayanthi P.D., 2002. “A simple and
cost - effitive mass rearing technique for the tephritid
fruit fly, Bactrocra dorsalis (Hendel)”. In: Current
science, Vol.82, No 3, 10 Febuary: page 266- 268.
11. Walker G.P., Tora Vueti E., Hamacek E.L. and
Allwood A.L., 1996. “ Laboratory- rearing techniques
for Tephritid fruit flies in the South Pacific”, In:
Management of Fruit flies in the Pacific -ACIAR
proceedings , No76, 1996: page 145-152.
12. FAO/IAEA/USDA.,2014. Product Quality
Control for Sterile Mass-Reared and released Tephritid
Fruit Flies, Version 6.0. International Atomic Energy
Agency, Vienna, Austria: 164 pages.
Phản biện: TS. Lại Tiến Dũng
Các file đính kèm theo tài liệu này:
nghien_cuu_thuc_an_nuoi_sau_non_ho_tro_quy_trinh_san_xuat_ru.pdf