Nghiên cứu tính mẫn cảm thuốc trừ sâu của rầy nâu nilaparvata lugens (stål) (homoptera: delphacidae) ở một số vùng trồng lúa Việt Nam

KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 4.1 Kết luận Quần thể rầy nâu ở Hưng Yên, Nam Định, Nghệ An, Phú Yên và An Giang đã xuất hiện tính kháng từ trung bình đến kháng cao với hoạt chất Fenobucarb, Imidacloprid. Quần thể rầy nâu đã kháng nhẹ đến trung bình với hoạt chất Pymetrozine, Nitenpyram, Buprofezin qua các năm từ 2015 – 2017. Đối với hoạt chất Dinotenfuran quần thể rầy nâu thu thập ở các tỉnh Hưng Yên, Nam Định, Phú Yên, Nghệ An chưa thể hiện tính kháng, riêng quần thể rầy nâu ở An Giang bắt đầu biểu hiện tính kháng nhẹ. Các quần thể rầy nâu ở Hưng Yên, Nam Định, Nghệ An, Phú Yên và An Giang vẫn mẫn cảm với hoạt chất Sulfoxaflor. 4.2 Đề nghị Các hoạt chất Fenobucarb, Imidacloprid nên hạn chế sử dụng trong phòng trừ rầy nâu. Hoạt chất Sulfoxaflor có thể là ưu tiên sử dụng trừ rầy nâu hiệu quả đồng thời hạn chế sự kháng thuốc của các quần thể rầy nâu ở các vùng trồng lúa trọng điểm. Khuyến cáo nông dân sử dụng hoạt chất Dinotefuran ở các tỉnh miền Bắc, miền Trung. Các hoạt chất Pymetrozine, Nitenpyram, Buprofezin nên sử dụng luân phiên với các hoạt chất trừ sâu có cơ chế tác động khác nhau.

pdf11 trang | Chia sẻ: hachi492 | Lượt xem: 7 | Lượt tải: 0download
Bạn đang xem nội dung tài liệu Nghiên cứu tính mẫn cảm thuốc trừ sâu của rầy nâu nilaparvata lugens (stål) (homoptera: delphacidae) ở một số vùng trồng lúa Việt Nam, để tải tài liệu về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
Kết quả nghiên cứu khoa học BVTV – Số 2/2018 31 8. Sure K. Satpute, et al , 2010. Method for investgating biosurfactants and bioemulsifiers: a review. Critical reviews in Biotechnology, 30(2), 127-144 9. Thomas J. Smyth et al , 2014. Protocols for the Isolation and Analysis of Lipopeptides and Bioemulsifiers. In: McGenity T et al (eds) Hydrocarbon and Lipid Microbiology Protocols. Springer Protocols Handbooks. Springer, Berlin, Heidelberg 10. Tiêu chuẩn ngành nông nghiệp Việt Nam, 10 TCN 224-2003, 2003. Phương pháp điều tra phát hiện sinh vật hại cây trồng, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Hà Nội. 11. Viện Bảo vệ thực vật , 1997. Phương pháp nghiên cứu Bảo vệ thực vật tập I. NXB Nông nghiệp Hà Nội. Phản biện: TS. Lê Mai Nhất NGHIÊN CỨU TÍNH MẪN CẢM THUỐC TRỪ SÂU CỦA RẦY NÂU Nilaparvata lugens (Stål) (HOMOPTERA: DELPHACIDAE) Ở MỘT SỐ VÙNG TRỒNG LÖA VIỆT NAM Insecticide Susceptibility Survey of Nilaparvata lugens (Stål) (Homoptera: Delphacidae) in Regions Hồ Thị Thu Giang 1 , Nguyễn Đức Khánh 1 , Lê Ngọc Anh 1 , Nguyễn Thị Kim Oanh 1 và Bùi Xuân Thắng 2 Ngày nhận bài: 06.03.2018 Ngày chấp nhận: 28.03.2018 Abstract The brown planthopper (BPH) Nilaparvata lugens is a serious rice pest in VietNam. Chemical insecticides have been considered a satisfactory mean of controlling the brown planthopper. In the present study, we determined the susceptibility of five local populations of Nilaparvata lugens to seven insecticides by a rice- stem dipping method from 2015 to 2017. Results showed that resistance ratio (RR) of BPH were significantly higher than the susceptible strain. BPH were highly resistant to Imidacloprid (RR = 31.575 - 127.971) Fenobucarb (RR = 23.441 – 89.461) and low to moderate levels of resistance to Nitenpyram (RR= 4.087 – 24.112), Pymetrozine (RR = 2.762 – 25.664), Buprofezin (RR = 4.733 – 14.114), Dinotenfuran (RR = 2.096 – 4.600) and susceptible to Sulfoxaflor (RR = 1.226 – 2.868), suggesting that the over usage of some pesticide ingredients could relate to increasing resistance status of BPH in rice. These results would provide a scientific guideline for correct use of the pesticides to prevent or delay increase of resistance insecticide in N. lugens. Keywords: brown planthopper, insecticides, resistance, rice pest. 1. ĐẶT VẤN ĐỀ * Rầy nâu Nilaparvata lugens (Stål) là dịch hại chính trên cây lúa ở Việt Nam, đồng thời là môi giới truyền bệnh vi rút lúa lùn xoắn lá và bệnh lúa 1. Học viện Nông nghiệp Việt Nam 2. Viện Bảo vệ thực vật cỏ (Hà Minh Trung, 1982). Năm 2005 - 2006 dịch rầy nâu bùng phát ở các tỉnh phía Nam với diện tích bị nhiễm rầy 486 nghìn ha và 17,8 nghìn ha đã bị thiệt hại nặng (Bộ NN và PTNT, 2006). Nông dân đã áp dụng nhiều biện pháp để phòng trừ rầy nâu nhưng chủ yếu vẫn là sử dụng biện pháp hóa học do hiệu quả phòng trừ cao, khả năng dập tắt nhanh sự bùng phát dịch trên quy Kết quả nghiên cứu khoa học BVTV – Số 2/2018 32 mô lớn. Tuy nhiên, sử dụng thuốc hóa học trong thời gian dài, nồng độ thuốc cao, nhiều chủng loại, cùng với tần xuất phun thuốc 3 - 4 lần/vụ, cá biệt một số nông dân phun 5 - 8 lần/vụ (Phan Văn Tương, 2014), là một trong những nguyên nhân nhiều loại thuốc không đạt hiệu quả cao như trước do sự hình thành tính kháng của rầy nâu với thuốc. Hiện tượng rầy nâu kháng thuốc đã được nghiên cứu ở Việt Nam bởi các tác giả: Nguyễn Thị Me (2002), Lê Thị Kim Oanh (2011), Phan Văn Tương (2014), Phùng Minh Lộc (2016), Lê Thị Diệu Trang (2012)...Việc nông dân sử dụng thuốc phòng trừ rầy nâu với liều cao hơn liều hướng dẫn, trung bình cao hơn gấp 1,6 lần so với liều cho phép sử dụng đã được Huỳnh Thị Ngọc Diễm (2017) ghi nhận tại Tiền Giang khi điều tra hiện trạng sử dụng thuốc 3 vụ liên tiếp năm 2015 - 2016. Bên cạnh đấy với thói quen sử dụng liên tục một hoạt chất thuốc trừ rầy nâu nhiều lần trong một vụ khiến hiện tượng rầy nâu trở nên quen thuốc và có khả năng sẽ hình thành gen kháng thuốc. Việc nghiên cứu, theo dõi diễn biến tính kháng thuốc của rầy nâu đối với các chủng loại thuốc BVTV sử dụng phổ biến hiện nay trở nên cấp thiết, cần thực hiện có tính hệ thống và liên tục trong nhiều năm. Các thông tin thu thập được là cơ sở đề xuất các giải pháp lựa chọn sử dụng thuốc phòng trừ rầy nâu an toàn, hiệu quả nhằm hạn chế sự hình thành và phát triển tính kháng thuốc của rầy nâu. 2. VẬT LIỆU VÀ PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 2.1 Vật liệu và đối tƣợng nghiên cứu + Giống lúa: chuẩn nhiễm TN1 (Taichung Native 1) sử dụng nhân nuôi rầy nâu. + Các quần thể rầy nâu thu thập ở Hưng Yên, Nam Định, Nghệ An, Phú Yên và An Giang. + Dòng rầy nâu mẫn cảm có nguồn gốc từ Viện Nghiên cứu Nông nghiệp Quốc gia tại vùng Okinawa - Kyushu (Nhật Bản) được duy trì nhân nuôi cách ly hoàn toàn với thuốc BVTV tại Trung tâm BVTV Phía Nam và chuyển giao cho Học viện Nông Nghiệp Việt Nam tiếp tục duy trì nhân nuôi từ tháng 5/2014 đến nay. + Hoạt chất Nitenpyram (98%) và Imidacloprid (97%), Fenobucarb (96%), Sulfoxaflor (98%), Pymetrozine (99%), Buprofezin (97%), Dinotenfuran (99%) có nguồn gốc từ công ty Sigma-Aldrich Pte Ltd. Các hoạt chất này được pha loãng trong nước cất với dãy thang 5 - 6 nồng độ sử dụng cho thí nghiệm, mỗi nồng độ sau là một nửa của nồng độ trước. + Trang thiết bị hỗ trợ: Buồng nuôi sinh thái, kính lúp soi nổi, lồng nuôi, khay đánh giá, ống hút rầy, dụng cụ pha thuốc, ống nghiệm (dài 20cm x đường kính 3cm). + Nghiên cứu được thực hiện từ năm 2015 - 2017 tại Học Viện Nông nghiệp Việt Nam và Viện Bảo vệ thực vật. 2.2. Phƣơng pháp nghiên cứu 2.2.1. Xác định mức độ háng thuốc của quần thể rầy nâu Nilaparvata lugens Mức độ kháng thuốc của các quần thể rầy nâu được xác định theo phương pháp nhúng dảnh lúa vào dung dịch thuốc thử nghiệm (Zhuang and Shen, 2000). Cây lúa sử dụng trong thí nghiệm được chọn đồng đều ở giai đoạn phát triển đẻ nhánh, chiều dài thân từ 10 - 12cm giữ nguyên rễ và để ráo nước trước khi tiến hành thí nghiệm. Sử dụng 3 cây lúa làm thành một khóm, nhúng ngập thân trong dung dịch hoạt chất thuốc thí nghiệm trong 30 giây. Thí nghiệm tiến hành trên 5 nồng độ khác nhau và đối chứng là nước cất, lặp lại 3 lần với mỗi nồng độ. Cây lúa sau xử lý thuốc được để khô tự nhiên 1h trong phòng thí nghiệm, gốc lúa quấn bông ẩm xung quanh và đặt trong ống nghiệm có ghi chú công thức. Mỗi công thức thí nghiệm thả 15 cá thể rầy nâu non tuổi 3 - tuổi 4 trong một lần nhắc lại. Hàng ngày kiểm tra số lượng rầy nâu non chết trong từng công thức, ghi chép số lượng rầy nâu chết sau 3 ngày đối với nhóm thuốc Carbamat, 4 ngày đối với nhóm Neonicotinoid, 5 ngày với Buprofezin và Pymetrozine là 7 ngày sau xử lý. Thí nghiệm được thực hiện ở nhiệt độ trung bình 27C, độ ẩm trung bình 75%, thời gian chiếu sáng: 16 giờ sáng và 8 giờ tối. 2.2.2. Phân tích số liệu Giá trị LC50 được tính bằng phần mềm IBM SPSS 20 xử lý thống kê theo phân tích Probit. Tỷ lệ kháng (RR) được xác định bằng tỷ lệ giữa giá trị LC50 của quần thể rầy nâu thí nghiệm và giá trị LC50 của dòng rầy nâu mẫn cảm: RR < 3 mẫn Kết quả nghiên cứu khoa học BVTV – Số 2/2018 33 cảm; RR = 3 - 5 kháng nhẹ; RR = 5 - 10 kháng thấp; RR = 10 - 40 kháng trung bình; RR = 40 - 160 kháng cao; RR > 160 kháng rất cao (Shen and Wu, 1995). Bảng 1. Giá trị LC50 của rầy nâu mẫn cảm Nilaparvata lugens STT Hoạt chất LC50 (mg/l) Giới hạn tin cậy 95% 1 Imidacloprid 0,207 0,097 - 0,294 2 Nitenpyram 0,473 0,308 - 0,606 3 Fenobucarb 4,522 2,765 - 5,958 4 Sulfoxaflor 0,371 0,195 - 0,511 5 Pymetrozine 20,662 10,385 - 28,864 6 Buprofezin 19,369 9,948 - 26,878 7 Dinotenfuran 0,280 0,158 - 0,377 3. KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 3.1 Mức độ kháng thuốc của các quần thể rầy nâu ở một số vùng đối với hoạt chất Imidacloprid Các quần thể rầy nâu N. lugens địa phương được thu thập ngoài ruộng lúa ở Hưng Yên, Nam Định, Nghệ An, Phú Yên, An Giang qua các năm từ 2015 – 2017 và được nuôi trong phòng thí nghiệm trên giống lúa TN1, sau 1 thế hệ sẽ tiến hành xác định mức độ kháng của các quần thể rầy nâu với hoạt chất Imidacloprid. Hình 1. Mức độ kháng thuốc của các quần thể rầy nâu đối với hoạt chất Imidacloprid từ năm 2015 – 2017 Các thuốc trừ sâu chứa hoạt chất Imidacloprid (nhóm neonicotinoid) được ghi nhận là sử dụng rộng rãi để trừ rầy nâu trong nhiều năm tại các vùng trồng lúa trong cả nước. Chúng tôi tiến hành thí nghiệm xác định mức độ kháng thuốc của rầy nâu trong thời gian từ 2015 -2017, kết quả cho thấy cả hai quần thể rầy nâu ở Hưng Yên và Nam Định có mức kháng trung bình với hoạt chất Imidacloprid. Tỷ lệ kháng của các quần thể rầy nâu với hoạt chất Imidacloprid biến động trong khoảng từ 31,575 - 41,082 qua các năm. Nhưng đối với các quần thể rầy nâu ở Nghệ An, 41,082 36,918 58,285 83,289 127,971 37,681 34,729 54,101 74,425 161,768 32,599 31,575 51,415 69,328 118,294 0 20 40 60 80 100 120 140 160 180 Hưng Yên Nam Định Nghệ An Phú Yên An Giang T ỷ lệ k h án g Hoạt chất Imidacloprid 2015 2016 2017 Kết quả nghiên cứu khoa học BVTV – Số 2/2018 34 Phú Yên và An Giang đã có mức kháng cao với hoạt chất Imidacloprid. Tỷ lệ kháng của các quần thể rầy nâu với hoạt chất Imidacloprid biến động trong khoảng từ 51,415 - 127,971. Tuy nhiên chúng tôi ghi nhận tỷ lệ kháng của các quần thể rầy nâu ở Hưng Yên, Nam Định, Nghệ An, Phú Yên và An Giang đều giảm dần qua các năm theo dõi điều này có thể cho thấy xu hướng lựa chọn của nông dân trong sử dụng hoạt chất này trong phòng trừ rầy nâu cũng ít hơn. Theo Huỳnh Thị Ngọc Diễm (2017) cho biết qua điều tra tại Tỉnh Tiền Giang tỷ lệ hộ nông dân sử dụng thuốc trừ rầy nâu có chứa hoạt chất Imidacloprid trong 3 vụ liên tiếp chỉ chiểm 0,5%. Trong nghiên cứu này, các quần thể rầy nâu có mức kháng trung bình đến kháng cao với hoạt chất Imidacloprid. Kết quả này phù hợp với nghiên cứu của Phan Văn Tương (2014), Phùng Minh Lộc (2016), Lê Thị Diệu Trang (2012) với chỉ số kháng biến động trong khoảng từ 26,24 - 210,00 ở vùng đồng bằng sông Cửu Long. Lê Thị Kim Oanh (2011) nghiên cứu vùng đồng bằng sông Hồng cho thấy quần thể rầy nâu Hưng Yên đã có chỉ số kháng cao với thuốc (Ri = 42,35). Sự khác nhau về mức độ kháng thuốc giữa các quần thể rầy nâu địa phương có thể do tập quán thói quen sử dụng thuốc giữa các địa phương khác nhau về liều lượng sử dụng thuốc trên đồng ruộng cũng như cường độ sử dụng trong cùng một vụ lúa, nên áp lực chọn lọc của rầy nâu đối với thuốc cũng khác nhau (Phan Văn Tương, 2014). Ngay trong nghiên cứu vùng đồng bằng sông Hồng thì mức độ kháng của các quần thể rầy nâu với hoạt chất Imidacloprid cũng khác nhau (Lê Thị Kim Oanh, 2011). Ở Trung Quốc hoạt chất Imidacloprid trừ rầy nâu bắt đầu đưa vào sử dụng đầu những năm 1990, rầy nâu đã xuất hiện tính kháng thuốc từ năm 2003 đến nay và tỷ lệ kháng rất cao RR là 233,3 – 2029 trong thời gian nghiên cứu từ năm 2012- 2014, mặc dù hoạt chất đã hạn chế sử dụng từ năm 2006 bởi mức độ kháng thuốc cao của rầy nâu đối với hoạt chất này (Xiaolei Zhang et al., 2016). 3.2 Mức độ kháng thuốc của các quần thể rầy nâu ở một số vùng đối với hoạt chất Nitenpyram Kết quả xác định mức độ kháng thuốc của các quần thể rầy nâu đối với hoạt chất Nitenpyram cho thấy 2 quần thể rầy nâu ở Hưng Yên, Nam Định bắt đầu hình thành tính kháng thuốc ở mức kháng nhẹ trong hai năm 2015 – 2016. Đến năm 2017 cả hai quần thể này đã phát triển ở mức kháng thấp với hoạt chất Nitenpyram. Tỷ lệ kháng của các quần thể rầy nâu với hoạt chất Nitenpyram biến động trong khoảng từ 4,087 - 5,230. Hình 2. Mức độ kháng thuốc của các quần thể rầy nâu đối với hoạt chất Nitenpyram từ năm 2015 – 2017 4,087 4,607 5,418 7,867 16,552 4,471 4,896 5,736 8,448 19,054 5,23 5,175 5,932 9,357 24,112 0 5 10 15 20 25 30 Hưng Yên Nam Định Nghệ An Phú Yên An Giang T ỷ l ệ k h án g Hoạt chất Nitenpyram 2015 2016 2017 Kết quả nghiên cứu khoa học BVTV – Số 2/2018 35 Từ năm 2015 - 2017 các quần thể rầy nâu ở Nghệ An, Phú Yên đã có mức kháng thấp hoạt chất Nitenpyram với tỷ lệ kháng biến động trong khoảng từ 5,418 - 9,357. Nhưng quần thể rầy nâu ở An Giang đã có mức kháng trung bình hoạt chất Nitenpyram với tỷ lệ kháng biến động trong khoảng từ 16,552 - 24,112. Tỷ lệ kháng của các quần thể rầy nâu ở Hưng Yên, Nam Định, Nghệ An, Phú Yên và An Giang đều có hiện tượng gia tăng qua các năm (hình 2). Như vậy trong nghiên cứu này các quần thể rầy nâu có mức kháng nhẹ đến kháng trung bình với hoạt chất Nitenpyram. Giống với nhận xét của Phùng Minh Lộc (2017) cho rằng ở vùng đồng bằng sông Cửu Long các quần thể rầy nâu đã kháng với hoạt chất Nitenpyram với chỉ số kháng biến động từ 24,8 - 63,5. Theo nghiên cứu của Zang et al., (2014) nguồn rầy nâu ở Trung Quốc chưa xuất hiện tính kháng (RR = 0,96 – 2,4 năm 2011) với hoạt chất Nitenpyram, kết quả này thấp hơn mức độ kháng thuốc của các quần thể rầy nâu ở Việt Nam. 3.3 Mức độ kháng thuốc của các quần thể rầy nâu ở một số vùng đối với hoạt chất Fenobucarb Chúng tôi xác định mức độ kháng thuốc của các quần thể rầy nâu đối với hoạt chất Fenobucarb cho thấy 2 quần thể rầy nâu ở Hưng Yên, Nam Định có mức kháng trung bình hoạt chất Fenobucarb với tỷ lệ kháng biến động trong khoảng từ 23,441 - 39,827. Đối với các quần thể rầy nâu tại Nghệ An, Phú Yên, An Giang đã có mức kháng cao với hoạt chất Fenobucarb với tỷ lệ kháng biến động trong khoảng từ 41,499 - 89,461 qua ba năm theo dõi (hình 3). Hình 3. Mức độ kháng thuốc của các quần thể rầy nâu đối với hoạt chất Fenobucarb từ năm 2015 – 2017 Kết quả trong nghiên cứu này phù hợp với nghiên cứu của Phan Văn Tương (2014), Phùng Minh Lộc (2016) ở vùng đồng bằng sông Cửu Long, các quần thể rầy nầu nghiên cứu đã kháng với hoạt chất Fenobucarb với chỉ số kháng biến động trong khoảng từ 43,06 - 128,2. Lê Thị Kim Oanh (2011) cho biết vùng đồng bằng sông Hồng các quần thể rầy nâu đã kháng với hoạt chất Fenobucarb khác nhau giữa các tỉnh nghiên cứu Hưng Yên, Thái Bình, Phú Thọ, Bắc Giang. Quần thể rầy nâu Hưng Yên biểu hiện kháng cao nhất (Ri = 33,31), tiếp theo đến các quần thể rầy nâu ở Thái Bình, Phú Thọ, Bắc Giang với các chỉ số kháng tương ứng Ri là 28,04; 20,87 và 11,08. Như vậy so với kết quả nghiên cứu của chúng tôi thì chỉ số kháng của 37,232 23,441 46,052 58,301 89,461 39,827 28,319 44,111 56,013 82,571 37,959 27,034 41,499 52,296 85,521 0 20 40 60 80 100 Hưng Yên Nam Định Nghệ An Phú Yên An Giang T ỷ lệ k h án g Hoạt chất Fenobucarb 2015 2016 2017 Kết quả nghiên cứu khoa học BVTV – Số 2/2018 36 rầy nâu đối với Fenobucarb là tăng chậm trong thời gian nghiên cứu từ năm 2015- 2017. 3.4 Mức độ kháng thuốc của các quần thể rầy nâu ở một số vùng đối với hoạt chất Sulfoxaflor Hoạt chất Sulfoxaflor là hoạt chất mới được đăng ký sử dụng từ năm 2012 trong phòng trừ rầy nâu, hiện nay có rất ít nghiên cứu công bố về hiện tượng kháng thuốc của rầy nâu với hoạt chất Sulfoxaflor. Kết quả cho thấy mức độ kháng thuốc của rầy nâu đối với hoạt chất Sulfoxaflor của 5 quần thể rầy nâu vẫn còn mẫn cảm hoạt chất Sulfoxaflor với tỷ lệ kháng biến động trong khoảng từ 1,226 - 2,868. Nhưng tỷ lệ kháng của các quần thể rầy nâu này với thuốc đều tăng nhẹ qua các năm theo dõi (hình 4). Phùng Minh Lộc (2017) sử dụng phương pháp nhỏ giọt để đánh giá tính kháng thuốc của rầy nâu, cho biết tại Tiền Giang quần thể rầy nâu vẫn mẫn cảm với hoạt chất Sulfoxaflor với chỉ số kháng Ri năm 2015 và 2016 là 7,2 và 6,5. Trong khi đấy ở An Giang năm 2015 chưa thể hiện tính kháng Ri = 5,5 nhưng đến năm 2016 tính mẫn cảm giảm dần và có tính kháng thấp Hình 4. Mức độ kháng thuốc của các quần thể rầy nâu đối với hoạt chất Sulfoxaflor từ năm 2015 - 2017 3.5 Mức độ kháng thuốc của các quần thể rầy nâu ở một số vùng đối với hoạt chất Pymetrozine Đối với hoạt chất Pymetrozine cho thấy 3 quần thể rầy nâu ở Hưng Yên, Nam Định, Nghệ An đã có mức độ kháng nhẹ hoạt chất Pymetrozine với tỷ lệ kháng biến động trong khoảng từ 2,762 - 4,896 qua các năm. Tỷ lệ kháng của các quần thể rầy nâu này có xu hướng tăng nhẹ qua các năm từ 2015 - 2017. Đối với các quần thể rầy nâu ở Phú Yên, An Giang đã kháng trung bình hoạt chất Pymetrozine với tỷ lệ kháng của rầy nâu biến động trong khoảng từ 11,263 - 25,664 (hình 5). Hoạt chất Pymetrozine thuộc nhóm hóa học Pyridine azomethines, lần đầu tiên được đưa vào sử dụng năm 1993 trên thế giới. Tại Việt Nam thuốc được đăng ký và sử dụng khoảng năm 2005 - 2006. Trong nghiên cứu này các quần thể rầy nâu có mức kháng nhẹ đến kháng trung bình với hoạt chất Pymetrozine. Kết quả nghiên cứu của Phùng Minh Lộc (2016) quần thể rầy nâu đã kháng trung bình hoạt chất Pymetrozine với tỷ lệ kháng biến động từ 9,7 - 15,8 tại An Giang. Sự 1,539 1,226 1,426 1,493 1,694 1,447 1,377 1,725 1,752 2,2345 1,943 1,563 2,353 2,091 2,868 0 0,5 1 1,5 2 2,5 3 3,5 Hưng Yên Nam Định Nghệ An Phú Yên An Giang T ỷ l ệ k h án g Hoạt chất Sulfoxaflor 2015 2016 2017 Kết quả nghiên cứu khoa học BVTV – Số 2/2018 37 thay đổi mức độ kháng thuốc của các quần thể rầy nâu với hoạt chất Pymetrozine giữa các vùng có thể do mức độ sử dụng hoạt chất Pymetrozine giữa các vùng khác nhau. Trong 5 năm gần đây nông dân vùng đồng bằng sông Cửu Long quen sử dụng hoạt chất này để trừ rầy nâu trên ruộng khá phổ biến và nhiều lần trên vụ (Phùng Minh Lộc, 2015; Huỳnh Thị Ngọc Diễm, 2017). Hình 5. Mức độ kháng thuốc của các quần thể rầy nâu đối với hoạt chất Pymetrozine từ năm 2015 - 2017 3.6 Mức độ kháng thuốc của các quần thể rầy nâu ở một số vùng đối với hoạt chất Buprofezin Kết quả xác định mức độ kháng thuốc của các quần thể rầy nâu đối với hoạt chất Buprofezin đến năm 2017 cho thấy quần thể rầy nâu ở Nghệ An có mức độ kháng nhẹ hoạt chất Buprofezin với tỷ lệ kháng biến động trong khoảng từ 4,733 - 5,321. Hai quần thể rầy nâu ở Hưng Yên, Nam Định có mức độ kháng thấp hoạt chất Buprofezin với tỷ lệ kháng biến động trong khoảng từ 6,487 - 8,390. Nhưng đối với hai quần thể rầy nâu ở Phú Yên và An Giang đã có mức kháng trung bình hoạt chất Buprofezin với tỷ lệ kháng biến động trong khoảng từ 10,203 - 14,114 qua các năm. Tốc độ gia tăng tính kháng của 5 quần thể rầy nâu này chậm và không ổn định (hình 6). Kết quả nghiên cứu của Phan Văn Tương (2013) cho thấy quần thể rầy nâu tại Cai Lậy - Tiền Giang vẫn chưa kháng với hoạt chất Buprofezin. Ở hầu hết các quốc gia trồng lúa vùng Đông Nam Á năm 2008 rầy nâu vẫn chưa thể hiện tính kháng đối với hoạt chất Buprofezin (Matsumura, 2008). Ở Trung Quốc trước năm 2005 sự phát triển tính kháng thuốc buprofezin chậm và thuốc này được sử dụng thay thế cho Imidacloprid và Fipronil trong phòng chống rầy nâu, nhưng đến năm 2012 ở Trung Quốc có 4 tỉnh Gongan, Wuxi, Shaoguan và Nanning quần thể rầy nâu đã kháng ở mức độ cao với tỷ lệ kháng từ 160,5 - 221,6. Trong nghiên cứu của chúng tôi quần thể rầy nâu đã kháng nhẹ đến kháng trung bình với hoạt chất buprofezin. Kết quả này phù hợp với nghiên cứu của Phùng Minh Lộc (2016), các quần thể rầy nâu đã kháng từ thấp đến trung bình với hoạt chất buprofezin ở vùng đồng bằng sông Cửu Long với tỷ lệ kháng biến động trong khoảng từ 6,2 – 18,7. 2,762 3,872 4,139 11,263 15,946 2,939 4,202 4,494 14,209 20,338 3,435 4,762 4,896 16,321 25,664 0 5 10 15 20 25 30 Hưng Yên Nam Định Nghệ An Phú Yên An Giang T ỷ l ệ k h án g Hoạt chất Pymetrozine 2015 2016 2017 Kết quả nghiên cứu khoa học BVTV – Số 2/2018 38 Hình 6. Mức độ kháng thuốc của các quần thể rầy nâu đối với hoạt chất Buprofezin từ năm 2015 – 2017 3.7 Mức độ kháng thuốc của các quần thể rầy nâu ở một số vùng đối với hoạt chất Dinotenfuran Đối với hoạt chất Dinotenfuran trong thời gian từ năm 2015 đến năm 2017 cho thấy quần thể rầy nâu ở Hưng Yên, Nam Định, Nghệ An, Phú Yên chưa kháng hoạt chất Dinotenfuran với tỷ lệ kháng biến động trong khoảng từ 2,096 – 2,857. Đối với quần thể rầy nâu ở An Giang đã kháng nhẹ hoạt chất Dinotenfuran với tỷ lệ kháng biến động trong khoảng từ 3,686 – 4,600. Tốc độ gia tăng tính kháng của 5 quần thể rầy nâu này chậm qua các năm theo dõi (hình 7). Hình 7. Mức độ kháng thuốc của các quần thể rầy nâu đối với hoạt chất Dinotenfuran từ năm 2015 - 2017 6,487 7,357 4,733 10,203 11,607 7,256 7,657 5,321 11,422 14,114 6,89 8,39 4,903 10,918 13,152 0 2 4 6 8 10 12 14 16 Hưng Yên Nam Định Nghệ An Phú Yên An Giang T ỷ l ệ k h án g Hoạt chất Buprofezin 2015 2016 2017 2,354 2,096 2,15 2,336 3,686 2,407 2,3 2,25 2,65 4,136 2,568 2,678 2,446 2,857 4,6 0 0,5 1 1,5 2 2,5 3 3,5 4 4,5 5 Hưng Yên Nam Định Nghệ An Phú Yên An Giang T ỷ l ệ k h án g Hoạt chất Dinotenfuran 2015 2016 2017 Kết quả nghiên cứu khoa học BVTV – Số 2/2018 39 Hoạt chất Dinotenfuran thuộc nhóm hóa học Neonicotinoid, được đăng ký vào danh mục thuốc được phép sử dụng tại Việt Nam năm 2004. Hoạt chất Dinotenfuran vẫn còn khá mới và có hiệu lực phòng trừ đạt khá cao với rầy nâu trên đồng ruộng ở Tiền Giang năm 2015 (Phùng Minh Lộc, 2016). Trong nghiên cứu của chúng tôi quần thể rầy nâu ở An Giang đã có mức kháng nhẹ với hoạt chất Dinotenfuran, kết quả này phù hợp với nhận xét của Phùng Minh Lộc (2017) sử dụng phương pháp nhỏ giọt để đánh giá tính kháng thuốc của rầy nâu, cho biết quần thể rầy nâu ở An Giang đã bắt đầu xuất hiện tính kháng nhẹ đối với Dinotenfuran với chỉ số kháng Ri từ 10,1 – 11,8 còn ở các tỉnh Tiền Giang, Cần Thơ thì quần thể rầy nâu chưa xuất hiện tính kháng với hoạt chất Dinotenfuran với chỉ số kháng từ 7,1- 9,7. 3.8 So sánh mức độ kháng giữa các hoạt chất thuốc Mức độ kháng của quần thể rầy nâu với 7 hoạt chất thuốc trong 3 năm theo thứ tự: Imidacloprid > Fenobucarb > Pymetrozine > Nitenpyram > Buprofezin > Dinotenfuran > Sulfoxaflor (hình 8). Giá trị LC50 của 7 hoạt chất thuốc lần lượt theo thứ tự: Fenobucarb > Pymetrozine > Buprofezin > Imidacloprid > Nitenpyram > Dinotenfuran > Sulfoxaflor (bảng 2). Các Hoạt chất Sulfoxaflor, Dinotenfuran độc hơn đối với quần thể rầy nâu (giá trị LC50 thấp) và mức độ kháng của quần thể rầy nâu với 2 hoạt chất này cũng thấp hơn hoạt chất khác. Hình 8. So sánh mức độ kháng giữa các hoạt chất thuốc 0 10 20 30 40 50 60 70 80 T ỷ l ệ k h án g 2015 2016 2017 Kết quả nghiên cứu khoa học BVTV – Số 2/2018 40 Bảng 2. Giá trị LC50 của quần thể rầy nâu nghiên cứu với một số hoạt chất thuốc STT Hoạt chất Năm 2015 Năm 2016 Năm 2017 LC50 (mg/l) và giới hạn tin cậy 95% LC50 (mg/l) và giới hạn tin cậy 95% LC50 (mg/l) và giới hạn tin cậy 95% 1 Imidacloprid 14,39 (9,36 - 18,49) 15,02 (9,12 - 19,76) 12,55 (8,15 - 16,13) 2 Nitenpyram 3,65 (2,35 - 4,68) 4,03 (2,67 - 5,13) 4,71 (3,09 - 5,98) 3 Fenobucarb 230,17 (147,99 - 296,68) 226,86 (146,63 - 291,53) 220,95 (143,25 - 283,55) 4 Sulfoxaflor 0,55 (0,35 - 0,71) 0,63 (0,39 - 0,83) 0,80 (0,52 - 1,03) 5 Pymetrozine 156,92 (102,35 - 200,03) 190,85 (123,44 - 244,52) 227,60 (148,18 - 281,61) 6 Buprofezin 156,45 (105,04 - 198,03) 177,25 (122,08 - 222,37) 171,43 (116,76 - 236,07) 7 Dinotenfuran 0,71 (0,47 – 0,90) 0,77 (0,52 – 0,98) 0,85 (0,59 – 1,07) Ghi chú: Giá trị LC50 được tính là trung bình giá trị LC50 của tất cả quần thể rầy nâu theo dõi 4. KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 4.1 Kết luận Quần thể rầy nâu ở Hưng Yên, Nam Định, Nghệ An, Phú Yên và An Giang đã xuất hiện tính kháng từ trung bình đến kháng cao với hoạt chất Fenobucarb, Imidacloprid. Quần thể rầy nâu đã kháng nhẹ đến trung bình với hoạt chất Pymetrozine, Nitenpyram, Buprofezin qua các năm từ 2015 – 2017. Đối với hoạt chất Dinotenfuran quần thể rầy nâu thu thập ở các tỉnh Hưng Yên, Nam Định, Phú Yên, Nghệ An chưa thể hiện tính kháng, riêng quần thể rầy nâu ở An Giang bắt đầu biểu hiện tính kháng nhẹ. Các quần thể rầy nâu ở Hưng Yên, Nam Định, Nghệ An, Phú Yên và An Giang vẫn mẫn cảm với hoạt chất Sulfoxaflor. 4.2 Đề nghị Các hoạt chất Fenobucarb, Imidacloprid nên hạn chế sử dụng trong phòng trừ rầy nâu. Hoạt chất Sulfoxaflor có thể là ưu tiên sử dụng trừ rầy nâu hiệu quả đồng thời hạn chế sự kháng thuốc của các quần thể rầy nâu ở các vùng trồng lúa trọng điểm. Khuyến cáo nông dân sử dụng hoạt chất Dinotefuran ở các tỉnh miền Bắc, miền Trung. Các hoạt chất Pymetrozine, Nitenpyram, Buprofezin nên sử dụng luân phiên với các hoạt chất trừ sâu có cơ chế tác động khác nhau. TÀI LIỆU THAM KHẢO 1. Bộ Nông nghiệp và PTNT, 2006. Báo cáo tình hình phòng chống rầy nâu và bệnh vàng lùn, lùn xoăn lá trên lúa ở các tỉnh, thành phía nam. Kết quả nghiên cứu khoa học BVTV – Số 2/2018 41 2. Huỳnh Thị Ngọc Diễm, Hồ Văn Chiến, Lê Thị Diệu Trang, 2017. Nghiên cứu tính kháng thuốc Pymetrozine trên rầy nâu (Nilaparvata lugens Stål) tại Tiền Giang. Tạp chí bảo vệ thực vật 5 (274): 22-39. 3. Phùng Minh Lộc, Trần Thanh Tùng, Lê Thị Diệu Trang và Taro Adati, 2015. Hiện trạng sử dụng thuốc bảo vệ thực vật của nông dân trong phòng trừ rầy nâu ở một số tỉnh đồng bằng sông cửu long. Tạp chí bảo vệ thực vật 6 (263): 28-34. 4. Phùng Minh Lộc, Trần Thanh Tùng, Lê Thị Diệu Trang, Hồ Thị Thu Giang và Taro Adati, 2016. Đánh giá hiệu lực phòng trừ rầy nâu (Nilaparvata lugens Stål.) hại lúa của các thuốc trừ sâu. Tạp chí bảo vệ thực vật 2 (265): 30-39. 5. Phùng Minh Lộc, Trần Thanh Tùng, Hồ Thị Thu Giang và Taro Adati, 2016. Hiện trạng kháng thuốc trừ sâu của rầy nâu (Nilaparvata lugens) tại Đồng bằng sông Cửu Long, Tạp chí bảo vệ thực vật số 4 (267), trang 37 - 42. 6. Phùng Minh Lộc, Trần Thanh Tùng, Võ Thái Dân, Nguyễn Hoàng Chương và Taro Adati, 2017. Theo dõi tính mẫn cảm của rầy nâu Nilaparvata lugens Stål (Hemiptera: Delphacidae) hại lúa đối với các hoạt chất thế hệ mới ở đồng bằng sông Cửu Long. Tạp chí bảo vệ thực vật số 3 (272) trang 40 - 44. 7. Nguyễn Thị Me, Nguyễn Thị Nhung, Nguyễn Thị Hồng Vân, Trần Ngọc Hân (2002). Kết quả xác định tính kháng thuốc của rầy nâu hại lúa ở một số tỉnh đồng bằng sông Hồng. Tuyển tập công trình nghiên cứu bảo vệ thực vật 2000 – 2002, Nhà xuất bản Nông nghiệp Hà Nộ i trang 86 - 94. 8. Lê Thị Kim Oanh, Tào Minh Tuấn, Nguyễn Thị Ngọc, Nguyễn Thị Hạnh, Nguyễn Thị Thu Hằng, Lê Thế Anh và Hà Minh Thành, 2011. Nghiên cứu tính kháng thuốc của rầy nâu ở các tỉnh đồng Bằng Sông Hồng. Tạp chí bảo vệ thực vật số 2 (236): 11 – 18. 9. Lê Thị Diệu Trang, 2012. Hội nghị Khoa học Nông nghiệp CAAB. Trường đại học Cần Thơ 10. Hà Minh Trung, 1982. Bệnh lúa lùn xoắn lá. NXB Nông nghiệp. 11. Phan Văn Tương, 2014. Nghiên cứu khả năng kháng thuốc của rầy nâu (Nilaparvata lugens Stål) đối với các hoạt chất thuốc fenobucarb, fipronil và imidacloprid tại Đồng Bằng Sông Cửu Long. Luận án Tiến sĩ Nônng nghiệp. Đại học Nông Lâm Tp. Hồ Chí Minh. 12. Phan Văn Tương, Võ Thái Dân, Phùng Minh Lộc, Danh Quốc An, Nguyễn Văn Hiếu, 2013. Đánh giá tính kháng thuốc của rầy nâu (Nilaparvata lugens Stål) đối với hoạt chất Buprofezin và hỗn hợp Buprofezin + Chlorpyrifos Ethyl. Tạp chí bảo vệ thực vật 4: 33 -37. 13. Matsumura M., Takeuchi H., Satoh M., Sanada-Morimura S., Watanabe T. And Dinh VT., 2008. Species-specific insecticide resistance to imidacloprid and fipronil in the rice planthoppers Nilapavarta lugens and Sogatella furcifera in East and South-east Asia, Pesticide Management Science 64, pp. 1115 - 1121. 14. Shen, J.L., Wu, Y.D., 1995. Insecticide Resistance in Cotton Bollworm and its Management. China Agricultural Press, Beijing, China, pp. 259 - 280. 15. Xiaolei Zhang, Xun Liao, Kaikai Mao, Kaixiong Zhang, Hu Wan, Jianhong Li. (2016) Insecticide resistance monitoring and correlation analysis of insecticides in field populations of the brown planthopper Nilaparvata lugens (stål) in China 2012–2014. Pesticide Biochemistry and Physiology 132, pp. 13-20. 16. Zang, X., Liu, X., Zhu, F., Li, J., You, H., Lu P., 2014. Field evolution of insecticide resistance in the brown planthopper (Nilaparvata lugens) in China. Crop Protection. Vol. 58, pp. 61 - 66. 17. Zhuang, Y.L., Shen, J.L., 2000. A method for monitoring of resistance to buprofezin in brown planthopper (in Chinese). Joural of Nanjing Agriccultural University 23, pp. 114 - 117. Phản biện: TS. Nguyễn Thị Nhung

Các file đính kèm theo tài liệu này:

  • pdfnghien_cuu_tinh_man_cam_thuoc_tru_sau_cua_ray_nau_nilaparvat.pdf
Tài liệu liên quan