Độ Brix: Độ Brix là chỉ tiêu đánh giá hàm lượng chất hữu cơ hòa tan trong dịch quả. Đáng chú ý là độ Brix của quả cà chua ở công thức I (7%) cao hơn hẳn độ Brix của công thức II và III (đều là 6%). Như vậy, màng chuyển hóa ánh sáng đã có tác dụng làm tăng độ Brix trong quả cà chua. Hàm lượng đường tổng số: Hàm lượng đường tổng số là một chỉ tiêu khá quan trọng dùng để đánh giá phẩm chất quả cà chua. Hàm lượng đường tổng số phụ thuộc nhiều vào giống, ngoài ra còn chịu tác động bởi điều kiện môi trường và các biện pháp kĩ thuật canh tác (thời vụ, phân bón, thời điểm thu hoạch,. . . ). Quả cà chua ở công thức I có hàm lượng đường tổng số cao nhất (1,9 g/100g). Hàm lượng đường tổng số trong quả cà chua ở công thức II và III là giống nhau (1,8g/100g) và thấp hơn công thức I là 0,1g. Hàm lượng vitamin C: Một trong những chỉ tiêu quan trọng tạo nên sức hấp dẫn về mặt dinh dưỡng của quả cà chua là hàm lượng vitamin C trong quả. Qua phân tích chúng tôi thấy hàm lượng vitamin C trong quả cà chua ở các công thức chênh lệch nhau rất nhiều. Quả cà chua ở công thức I có hàm lượng vitamin C cao nhất (10,2 mg/100 g), thứ hai là công thức III (7,9 mg/100 g), công thức II có hàm lượng vitamin C thấp nhất (7,6 mg/100 g). Như vậy, màng chuyển hóa ánh sáng đã có tác động tích cực đến các chỉ tiêu về quả và phẩm chất quả cà chua. Đó là các chỉ tiêu về đường kính quả, hàm lượng đường tổng số, độ Brix và hàm lượng vitamin C. Trong đó, sự cải thiện về hàm lượng vitamin C thể hiện vượt trội nhất. Có thể nói, màng chuyển hóa ánh sáng đã có tác động tốt đến quá trình tích lũy và đồng hóa các chất, làm tăng chất lượng quả cà chua.
9 trang |
Chia sẻ: hachi492 | Lượt xem: 10 | Lượt tải: 0
Bạn đang xem nội dung tài liệu Nghiên cứu trồng cây cà chua trong nhà màng chuyển hóa ánh sáng chứa phức chất (PHEN)₂Eu1−xYx(NO₃)₃ trong vụ đông xuân 2009 - 2010 ở Quảng Bình, Việt Nam, để tải tài liệu về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
JOURNAL OF SCIENCE OF HNUE
Natural Sci., 2011, Vol. 56, No. 3, pp. 115-123
NGHIÊN CỨU TRỒNG CÂY CÀ CHUA TRONG NHÀ MÀNG
CHUYỂN HÓA ÁNH SÁNG CHỨA PHỨC CHẤT (PHEN)2Eu1−xYx(NO3)3
TRONG VỤ ĐÔNG XUÂN 2009 - 2010 Ở QUẢNG BÌNH, VIỆT NAM
Nguyễn Đức Vượng và Lê Minh Thắng(∗)
Trường Đại học Quảng Bình
Nguyễn Trọng Hùng
Viện Công nghệ Xạ Hiếm
(∗)E-mail: thangthqb@yahoo.com
1. Mở đầu
Trồng cây trong nhà màng là một giải pháp tăng năng suất cây trồng cũng
như chất lượng sản phẩm. Hiện nay, màng polyetylen (PE) có tính chất chuyển hóa
ánh sáng đang được sử dụng làm mái che nhà màng ở các nước có nền nông nghiệp
phát triển, điển hình là Ixraen [1,2]. Màng chuyển hóa ánh sáng chứa phức chất
(phụ gia) chuyển hóa ánh sáng phân tán đều trong màng này. Chất phụ gia chuyển
hóa ánh sáng là phức chất của RE (nguyên tố đất hiếm), ví dụ như: phức của RE
với phenanthroline (phen), với các dẫn xuất của β-diketones, hoặc các oxit và hỗn
hợp các oxit đất hiếm ở kích thước nano [1, 2]. Tính chất quan trọng nhất của phức
chất RE với các cấu tử hữu cơ này là khả năng chuyển hóa ánh sáng có bước sóng
ở vùng tử ngoại trung bình không thuận lợi cho sự quang hợp của cây trồng sang
vùng đỏ rất thuận lợi cho sự quang hợp của cây trồng. Một số nghiên cứu cho thấy
khi bị kích thích bằng nguồn bức xạ có bước sóng 3660A˚ (thuộc vùng tử ngoại trung
bình) thì những phức Eu sẽ phát ra những nguồn bức xạ có bước sóng từ 5790 đến
6300A˚ [1, 2, 3].
Các cuộc thử nghiệm trong nông nghiệp cho thấy màng chuyển hóa ánh sáng
đã kích thích tăng trưởng cũng như tăng năng suất cây trồng từ 10 - 90% và đảm
bảo sản xuất sạch vì không đưa tác nhân hóa học hay sinh học vào quá trình sản
xuất. Hiện nay màng này được dùng nhiều trong thực tế sản xuất [1].
Ở Việt Nam, đã có một số địa phương (Đà Lạt, Sapa) nhập khẩu công nghệ
trồng rau quả sạch và hoa trong nhà màng sử dụng màng PE chuyển hóa ánh sáng.
Một số kết quả tăng năng suất cụ thể là: cà chua 30 - 70%, dưa chuột: 15 - 50%,
bắp cải 20 - 42%, xà lách 46%, dưa hấu 20 - 60%, hoa 30%, ớt quả 30 - 80%. Để
chủ động trong công nghệ trồng rau sạch, đáp ứng tính cấp thiết và nhu cầu ngày
càng tăng về thực phẩm sạch, trong bài báo này chúng tôi trình bày các kết quả
115
Nguyễn Đức Vượng, Lê Minh Thắng và Nguyễn Trọng Hùng
nghiên cứu trồng cây cà chua trong nhà màng sử dụng màng chuyển hóa ánh sáng
được chế tạo tại Quảng Bình, Việt Nam.
2. Nội dung nghiên cứu
2.1. Phương pháp nghiên cứu
Phương pháp tổng hợp phức chất chuyển hóa ánh sáng và chế tạo màng chuyển
hóa ánh sáng đã được chỉ rõ trong tài liệu [3]. Giống cà chua TN52, có nguồn gốc
từ Ấn Độ, do Công ty TNHH Hạt giống Trang Nông phân phối, có năng suất trung
bình 30 - 33 tấn/ha, thời gian sinh trưởng trung bình là: 130 - 140 ngày.
Các thí nghiệm bố trí theo kiểu khối ngẫu nhiên hoàn toàn (RCB) bao gồm 3
công thức, 3 lần nhắc lại:
- Công thức 1: Sử dụng màng PE chuyển hóa ánh sáng chứa phức chất
(phen)2Eu1−xYx(NO3)3.
- Công thức 2: Sử dụng màng PE trong suốt bình thường.
- Công thức 3: Không sử dụng màng PE, đây là công thức đối chứng (ĐC).
Bố trí thí nghiệm được tiến hành theo Tiêu chuẩn ngành 10TCN 219:2006,
ban hành kèm theo quyết định số 1698 QĐ/BNN-KHCN, ngày 12 tháng 06 năm
2006 của Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn.
Các chỉ tiêu theo dõi và phương pháp theo dõi, bao gồm: các giai đoạn phát
triển, các chỉ tiêu sinh trưởng, khả năng chống chịu sâu bệnh (bệnh mốc sương
- Phytopthora infestans Debary, bệnh héo xanh vi khuẩn - Ralstonia solanacerum
Smith, bệnh vi rút), các yếu tố cấu thành năng suất và năng suất, các chỉ tiêu về
quả và phẩm chất quả.
2.2. Kết quả nghiên cứu
2.2.1. Ảnh hưởng của màng chuyển hóa ánh sáng đến các giai đoạn sinh
trưởng và phát triển của cây cà chua
Qua quá trình theo dõi các giai đoạn sinh trưởng của cây cà chua ở các công
thức thí nghiệm, chúng tôi thu được kết quả được trình bày ở Bảng 1.
Bảng 1. Thời gian hoàn thành các giai đoạn sinh trưởng,
phát triển của cây cà chua
Công
thức
Tuổi cây
con
Thời gian từ
lúc trồng đến
khi ra hoa
Thời gian từ
lúc trồng đến
khi quả chín
Thời
gian thu
quả
Tổng thời
gian sinh
trưởng
I 25 29 82 35 142
II 25 31 87 39 151
III 25 37 85 38 148
Đơn vị tính: ngày
116
Nghiên cứu trồng cây cà chua trong nhà màng chuyển hóa ánh sáng chứa phức chất
Kết quả ở Bảng 1 chỉ ra rằng cây cà chua ở các công thức thí nghiệm bắt đầu
ra hoa trong khoảng từ 29 - 37 ngày. Cây cà chua ở công thức I ra hoa sớm nhất,
sau khi trồng 29 ngày. Trong giai đoạn từ lúc trồng đến khi quả chín, cây ở công
thức I ra hoa sớm nhất, đồng thời cũng chín sớm nhất ở 51 ngày sau khi trồng. Thời
gian thu quả của các công thức dao động trong khoảng 35 - 39 ngày. Công thức I
có thời gian thu quả ngắn nhất, 35 ngày. Có thể nói màng chuyển hóa ánh sáng đã
giúp cây cà chua rút ngắn được thời gian thu hoạch. Cây cà chua ở công thức I có
tổng thời gian sinh trưởng ngắn nhất: 142 ngày. Như vậy, với tính năng quan trọng
là chuyển hóa từ ánh sáng tím thành ánh sáng đỏ làm tăng hiệu suất quang hợp,
màng chuyển hóa ánh sáng có tác dụng thúc đẩy cây cà chua ra hoa sớm hơn, chín
nhanh hơn và tập trung hơn. Kết quả là rút ngắn tổng thời gian sinh trưởng, phát
triển của cây cà chua trồng trong nhà màng này.
2.2.2. Ảnh hưởng của màng chuyển hóa ánh sáng đến sự tăng trưởng
chiều cao của cây
Bảng 2. Động thái tăng trưởng chiều cao
của cây ở các công thức
Thời gian
sau khi
trồng
Công thức I Công thức II Công thứcIII LSD0,05
7 (ngày) 9,33a 5,60b 4,87b 2,32
14 13,43a 7,72b 6,83b 2,27
21 19,30a 10,68b 9,82b 5,06
28 30,80a 18,23b 16,73b 9,93
35 44,33a 39,26b 39,70b 4,47
42 55,90a 49,41a 52,50a 9,45
49 62,83a 56,93a 56,86a 8,72
56 75,34a 67,63b 67,12b 8,10
63 91,83a 85,15b 79,96b 5,56
70 104,69a 97,67ab 88,79b 9,63
77 108,53a 100,37b 90,79c 7,68
84 113,31a 102,37b 94,25c 6,84
91 125,14a 112,30b 101,71c 8,51
98 136,48a 122,56b 107,42c 7,67
105 146,86a 127,22b 113,50c 5,49
112 146,93a 127,37b 113,96c 5,89
Thu hoạch 146,93a 127,48b 114,13c 6,10
Đơn vị tính: cm
Ghi chú: a, b, c là kí hiệu cho các nhóm, trong đó các công thức có cùng kí hiệu
không có sự sai khác tại các mức tin cậy α = 0,05 hay ở xác suất P = 95%
117
Nguyễn Đức Vượng, Lê Minh Thắng và Nguyễn Trọng Hùng
Nguyên tắc xác định chiều cao của cây là đo từ cổ rễ đến đỉnh sinh trưởng
ngọn. Qua nghiên cứu chúng tôi thu được kết quả được ghi trong Bảng 2.
Qua Bảng 2 chúng tôi thấy rằng: trong các thời kì 7, 14, 21, 28, 35 ngày sau
khi trồng là thời gian cây cà chua hoàn thành bén rễ hồi xanh, bước sang thời kì
sinh trưởng dinh dưỡng mạnh mẽ. Bộ rễ phát triển mạnh, chiều cao và số lá tăng
nhanh. Cây cà chua ở công thức I có chiều cao hơn hẳn so với công thức II và III.
Giữa công thức II và III không thấy có sự sai khác nhau có ý nghĩa về mặt thống
kê. Trong các thời kì 42, 49 ngày sau khi trồng, thời gian này cây cà chua bắt đầu
ra hoa, đậu quả và phát triển quả. Giống cà chua Ấn Độ TN52 thuộc kiểu hình ra
hoa vô hạn nên cùng với quá trình phát triển quả ở tầng thấp là quá trình nở hoa,
tạo quả và tiếp tục phát triển quả ở các tầng trên cao. Do tập trung cho quá trình
sinh trưởng sinh thực này nên quá trình sinh trưởng dinh dưỡng bị hạn chế. Chiều
cao cây giữa các công thức không thấy có sự sai khác nhau về mặt thống kê. Thời kì
56, 63, 70 ngày sau khi trồng, cà chua ở công thức I có chiều cao tăng đáng kể, khác
biệt rõ rệt so với công thức II và III. Sang thời kì 70 ngày sau khi trồng, cây cà chua
ở công thức II có sự tăng chiều cao khá mạnh nên sự khác biệt về chiều cao cây giữa
công thức I và công thức II không còn rõ nét, công thức I có chiều cao cao hơn hẳn
so với công thức III. Trong các thời kì 77, 84, 91, 98, 105 ngày sau khi trồng, cây cà
chua ở các công thức chủ yếu phát triển quả, quả chín và cho thu hoạch. Các chùm
hoa ở phía trên vẫn tiếp tục ra nhưng yếu ớt, tỉ lệ tạo quả thấp, hình thành quả có
kích thước nhỏ. Chiều cao của cây ở công thức III chỉ tăng nhẹ. Trong khi đó, chiều
cao của cây ở công thức I và II vẫn tiếp tục tăng mạnh nên có sự sai khác rất rõ
ràng có ý nghĩa về mặt thống kê giữa 3 công thức thí nghiệm. Chiều cao của cây cà
chua ở công thức I cao nhất, tiếp đến là công thức II và thấp nhất là công thức III.
Khi xét đến chiều cao cây cuối cùng, chúng ta nhận thấy: chiều cao cây ở công
thức III thấp hơn có ý nghĩa về mặt thống kê so với công thức I và II. Công thức
I có chiều cao cây cuối cùng cao nhất (146,93 cm), tiếp đến là công thức II (127,48
cm). Công thức III có chiều cao cây cuối cùng thấp nhất (114,13 cm).
2.2.3. Ảnh hưởng của màng chuyển hóa ánh sáng đến sự ra lá của cây
cà chua
Theo dõi động thái ra lá của cây cà chua từ những công thức, chúng tôi nhận
thấy không có sự khác biệt về số lá/cây giữa các công thức thí nghiệm trong thời kì
theo dõi. Ảnh hưởng của màng chuyển hóa ánh sánh đối với chỉ tiêu này thể hiện
không rõ. Như vậy, chỉ tiêu số lá/cây chủ yếu do đặc tính di truyền của giống quyết
định.
Do đó cây cà chua trồng trong nhà màng chuyển hóa ánh sáng có chiều cao
lớn hơn so với cây ở công thức đối chứng và công thức có phủ màng PE bình thường
nhưng số lá lại tăng không đáng kể so với công thức đối chứng.
118
Nghiên cứu trồng cây cà chua trong nhà màng chuyển hóa ánh sáng chứa phức chất
2.2.4. Ảnh hưởng của màng chuyển hóa ánh sáng đối với một số loại sâu
bệnh hại chính ở các công thức thí nghiệm
Sâu xanh đục quả, nụ hoa (Heliothis armigera):
Đây là đối tượng phá hoại trên nhiều loài cây trồng. Sâu đục vào nụ hoặc quả
non, ăn rỗng ở bên trong, làm nụ, quả bị rụng hoặc bị thối. Sâu đục đến đâu đùn
phân ra đến đó, một nửa thân sâu thường ở bên ngoài, một nửa nằm trong trái.
Khi trái đã già, sâu thường đục từ cuống xuống và chui vào bên trong ăn phá. Kết
quả theo dõi diễn biến mật độ sâu xanh đục quả trên cây cà chua ở các công thức
thí nghiệm được chỉ ra ở Bảng 3.
Bảng 3. Diễn biến mật độ sâu xanh đục quả
trên các công thức thí nghiệm
Ngày theo dõi Công thức I Công thức II Công thức III
13/1/2010 0,13 0,00 0,00
20/1/2010 0,20 0,33 0,87
27/1/2010 0,20 0,87 1,07
3/2/2010 0,00 0,07 0,00
10/2/2010 0,00 0,20 1,07
17/2/2010 0,20 0,60 0,80
24/2/2010 0,40 0,73 1,33
3/3/2010 0,47 1,13 3,73
10/3/2010 0,13 0,93 2,60
17/3/2010 0,10 0,70 1,73
24/3/2010 0,07 0,63 1,13
Đơn vị tính: con/m2
Công thức I xuất hiện sâu xanh đục quả sớm nhất vì do cây hình thành quả
sớm nhất. Công thức II và III bị sâu xanh phá hại muộn hơn, nhưng mật độ cao
hơn so với công thức I ở các kì theo dõi. Vào ngày 3/3/2010 công thức I, II và III có
mật độ sâu xanh cao nhất lần lượt là 0,47; 1,13 và 3,73 con/m2. Qua kết quả nghiên
cứu, có thể thấy diễn biến mật độ sâu xanh của các công thức đều thay đổi theo
thời gian. Nhìn chung công thức III có mật độ sâu xanh cao nhất nhưng lại giảm
mạnh vào cuối vụ, trong khi ở công thức I và II lại chỉ giảm nhẹ.
Bệnh xoăn lá (do virus TYLCV):
Bệnh xoăn lá do virus bắt đầu xuất hiện vào ngày 23/12/2009 ở công thức III.
Ở công thức I và II bệnh xuất hiện muộn hơn. Trong ba công thức thì công thức I
bị hại nhẹ nhất, công thức III bị hại nặng nhất. Tỉ lệ hại ngày cao điểm 3/2/2010 ở
công thức III là 0,32%. Công thức II bị hại nặng nhất vào ngày 30/12/2009, với tỉ
lệ hại 0,20%. Đối với những cây bị bệnh, sau khi đếm để xác định tỉ lệ bệnh, chúng
119
Nguyễn Đức Vượng, Lê Minh Thắng và Nguyễn Trọng Hùng
tôi tiến hành nhổ bỏ để tránh lây lan sang những cây khác. Vào các kì theo dõi sau,
tỉ lệ hại của công thức I và II không đáng kể và dần bằng 0. Công thức III có tỉ lệ
hại tăng cao vào kì theo dõi 3/2/2010, tuy nhiên sau đó giảm hẳn. Bệnh xoăn lá do
virus không còn tiến triển nữa khi quả bắt đầu lớn.
Bảng 4. Diễn biến của bệnh xoăn lá trên các công thức thí nghiệm
Ngày theo dõi Công thức I Công thức II Công thức III
23/12/2009 0,00 0,00 0,03
30/12/2010 0,03 0,20 0,00
6/1/2010 0,04 0,00 0,04
13/1/2010 0,00 0,14 0,06
20/1/2010 0,04 0,02 0,17
27/1/2010 0,00 0,00 0,00
3/2/2010 0,00 0,00 0,32
10/2/2010 0,00 0,00 0,00
Đơn vị tính: % cây bị bệnh
Như vậy, cây cà chua ở công thức I có phủ màng chuyển hóa ánh sáng có khả
năng chống chịu sâu bệnh tốt hơn cây cà chua ở hai công thức còn lại. Cây cà chua
ở công thức đối chứng bị sâu, bệnh hại nặng nhất.
2.2.5. Ảnh hưởng của màng chuyển hóa ánh sáng đến các yếu tố cấu
thành năng suất và năng suất của cây cà chua
Năng suất của giống cà chua được quyết định bởi các yếu tố: số cây/m2, số
quả thương phẩm/cây, trọng lượng trung bình một quả thương phẩm/cây. Qua theo
dõi chúng tôi thu được kết quả ở Bảng 5.
Bảng 5. Các yếu tố cấu thành năng suất và năng suất của các công thức
Số quả Khối Năng Năng Tăng giảm
Công Mật độ thương lượng suất lí
suất
thực so với
thức (cây/m2) phẩm/cây quả TB thuyết thu đối chứng(tấn/ha) (tấn/ha) tấn/ha %
I 3,30 16,00
a
(quả)
80,24a
(g) 42,67
a 34,63a 0,84 2,49
II 3,30 7,53a 71,11b 17,97a 14,01b 19,78 58,54
III 3,30 14,00a 78,48a 36,33a 33,79a - -
LSD0,05 - 12,45 6,27 33,91 15,35 - -
Ghi chú: a, b là kí hiệu cho các nhóm, trong đó các công thức có cùng kí hiệu
không có sự sai khác nhau ở mức xác suất P = 95%.
120
Nghiên cứu trồng cây cà chua trong nhà màng chuyển hóa ánh sáng chứa phức chất
Số quả thương phẩm/cây:
Bảng 5 đã chỉ ra rằng cây cà chua ở công thức I có số quả thương phẩm nhiều
nhất (16,00 quả), tiếp đến là công thức III (14,00 quả). Cây cà chua ở công thức
II có số quả thương phẩm/cây thấp nhất. Giữa các công thức không thấy có sự sai
khác có ý nghĩa về mặt thống kê. Như vậy, ảnh hưởng của màng chuyển hóa ánh
sáng đối với chỉ tiêu này không thể hiện rõ.
Khối lượng trung bình một quả thương phẩm:
Trong điều kiện canh tác tốt, khối lượng trung bình một quả cà chua thương
phẩm thuộc giống TN52 biến động trong khoảng 90 - 100g. Trong điều kiện thí
nghiệm, chỉ tiêu này thay đổi từ 71,48 - 80,24 g. Khối lượng trung bình một quả
thương phẩm thấp nhất ở công thức II, cao nhất ở công thức I. Sự chênh lệch về
khối lượng trung bình một quả thương phẩm giữa công thức I và III so với công
thức II là rõ ràng ở mức xác suất 95%. Tuy nhiên, không thấy có sự sai khác về mặt
thống kê giữa công thức I và III đối với chỉ tiêu này.
Năng suất lí thuyết (NSLT):
Hình 1. Năng suất lí thuyết
và năng suất thực thu của các công thức
Năng suất thương phẩm lí
thuyết cho biết tiềm năng năng
suất của giống có thể đạt được.
Năng suất thương phẩm lí thuyết
được quyết định bởi yếu tố mật độ
trồng, khối lượng trung bình quả,
số quả trung bình/cây. Công thức
I có NSLT cao nhất: 42,67 tấn/ha,
công thức II có NSLT thấp nhất:
17,97 tấn/ha. Giữa các công thức
không thấy có sự sai khác về mặt
thống kê.
Năng suất thực thu (NSTT):
Tùy theo điều kiện môi trường, NSTT trung bình của giống cà chua TN52
khoảng 20 - 30 tấn/ha. Trong thí nghiệm của chúng tôi, NSTT của các công thức
biến động trong khoảng 14,01 - 34,63 tấn/ha. Công thức I có NSTT cao nhất (34,63
tấn/ha), công thức II có NSTT thấp nhất (14,01 tấn/ha). Sự chênh lệch về NSTT
giữa công thức I và III không đáng kể. Công thức I có NSTT tăng 2,49% so với đối
chứng (ĐC). Công thức II có NSTT giảm 19,78% so với đối chứng. NSTT của công
thức II sai khác so với công thức I và III ở mức xác suất 95%.
Công thức I có NSLT cao hơn công thức đối chứng, tuy nhiên NSTT lại thấp
hơn đối chứng. Nguyên nhân quan trọng nhất dẫn đến điều này theo chúng tôi đó
là sự sinh trưởng dinh dưỡng quá mức trong quá trình phát triển quả đã làm hạn
chế lượng dinh dưỡng vận chuyển về quả, đặc biệt là trong các thời kì sau.
121
Nguyễn Đức Vượng, Lê Minh Thắng và Nguyễn Trọng Hùng
2.2.6. Ảnh hưởng của màng chuyển hóa ánh sáng đối với một số chỉ tiêu
về quả và chất lượng quả của cây cà chua
Để đánh giá ảnh hưởng của màng chuyển hóa ánh sáng đến một số chỉ tiêu về
quả và phẩm chất quả, chúng tôi đã tiến hành đo đường kính quả, độ dày thịt quả
và phân tích một số chỉ tiêu về phẩm chất. Kết quả được chỉ ra ở Bảng 6.
Bảng 6. Các chỉ tiêu về quả và chất lượng quả của các công thức
Công thức
Đường kính Độ dày thịt Chất lượng quả
quả (mm) quả (mm)
Độ
Brix
(%)
Hàm lượng
đường tổng
số (g/100g)
Hàm lượng
vitamin C
(mg/100g)
I 63,44a 7,33a 7,0 1,9 10,2
II 59,33b 7,00a 6,0 1,8 7,6
III 54,44c 7,00a 6,0 1,8 7,9
LSD0,05 3,14 1,69
Ghi chú: a, b, c là kí hiệu cho các nhóm, trong đó các công thức có cùng kí hiệu
không có sự sai khác tại các mức tin cậy α = 0,05 hay ở xác suất P= 95%
Đường kính quả: Đường kính quả cà chua thể hiện ở chỗ kích thước quả lớn
hay bé. Quả cà chua ở công thức I có đường kính quả lớn nhất (63,44 mm), tiếp
đến là công thức II (59,33 mm). Quả cà chua ở công thức III có đường kính quả bé
nhất (54,44 mm). Sự khác biệt về đường kính quả giữa công thức I so với công thức
II và III có ý nghĩa ở mức xác suất 95%.
Độ dày thịt quả: Đây là một yếu tố thể hiện chất lượng quả rõ nhất, độ dày
thịt quả càng dày thì chất lượng quả càng tốt. Chỉ tiêu này phụ thuộc khá nhiều
vào giống, đồng thời cũng chịu ảnh hưởng bởi điều kiện ngoại cảnh, các biện pháp
kĩ thuật tác động. Qua Bảng 6 chúng tôi có nhận xét rằng độ dày thịt quả cà chua
ở các công thức dao động trong khoảng 7 - 7,33mm, giữa các công thức không thấy
có sự sai khác về mặt thống kê.
Độ Brix: Độ Brix là chỉ tiêu đánh giá hàm lượng chất hữu cơ hòa tan trong
dịch quả. Đáng chú ý là độ Brix của quả cà chua ở công thức I (7%) cao hơn hẳn
độ Brix của công thức II và III (đều là 6%). Như vậy, màng chuyển hóa ánh sáng
đã có tác dụng làm tăng độ Brix trong quả cà chua.
Hàm lượng đường tổng số: Hàm lượng đường tổng số là một chỉ tiêu khá quan
trọng dùng để đánh giá phẩm chất quả cà chua. Hàm lượng đường tổng số phụ thuộc
nhiều vào giống, ngoài ra còn chịu tác động bởi điều kiện môi trường và các biện
pháp kĩ thuật canh tác (thời vụ, phân bón, thời điểm thu hoạch,. . . ). Quả cà chua
ở công thức I có hàm lượng đường tổng số cao nhất (1,9 g/100g). Hàm lượng đường
tổng số trong quả cà chua ở công thức II và III là giống nhau (1,8g/100g) và thấp
hơn công thức I là 0,1g.
Hàm lượng vitamin C: Một trong những chỉ tiêu quan trọng tạo nên sức hấp
dẫn về mặt dinh dưỡng của quả cà chua là hàm lượng vitamin C trong quả. Qua
122
Nghiên cứu trồng cây cà chua trong nhà màng chuyển hóa ánh sáng chứa phức chất
phân tích chúng tôi thấy hàm lượng vitamin C trong quả cà chua ở các công thức
chênh lệch nhau rất nhiều. Quả cà chua ở công thức I có hàm lượng vitamin C cao
nhất (10,2 mg/100 g), thứ hai là công thức III (7,9 mg/100 g), công thức II có hàm
lượng vitamin C thấp nhất (7,6 mg/100 g).
Như vậy, màng chuyển hóa ánh sáng đã có tác động tích cực đến các chỉ tiêu
về quả và phẩm chất quả cà chua. Đó là các chỉ tiêu về đường kính quả, hàm lượng
đường tổng số, độ Brix và hàm lượng vitamin C. Trong đó, sự cải thiện về hàm
lượng vitamin C thể hiện vượt trội nhất. Có thể nói, màng chuyển hóa ánh sáng đã
có tác động tốt đến quá trình tích lũy và đồng hóa các chất, làm tăng chất lượng
quả cà chua.
3. Kết luận
Việc sử dụng màng chuyển hóa ánh sáng đã rút ngắn thời gian sinh trưởng,
làm tăng khả năng sinh trưởng của cây cà chua, cụ thể là tăng chiều cao và số
lá/cây. Màng chuyển hóa ánh sáng làm tăng một cách rõ rệt khả năng chống chịu
sâu xanh và bệnh xoăn lá của cây, tăng phẩm chất của quả cà chua, cụ thể là độ
Brix đạt 7% so với 6% của công thức đối chứng, hàm lượng đường tổng số đạt 1,9
g/100 g so với 1,8 g/100 g của công thức đối chứng, hàm lượng vitamin C đạt 10,2
mg/100 g so với 7,9 mg/100 g của công thức đối chứng.
Từ khóa: Cà chua, nhà màng chuyển hóa ánh sáng, (phen)2Eu1−xYx(NO3)3,
sinh trưởng, Quảng Bình.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
[1] V.S. Riba A.S Minich, (1999). Công nghệ sản xuất màng Polyethylen chuyển hóa ánh
sáng phục vụ Nông nghiệp. Công nghiệp Hóa chất, Số 10, tr. 660-662, (nguyên bản tiếng
Nga).
[2] Pogreb Roman, Finkelshtein Binyamin et al, (2004). Low-density polyethylene films
doped with Eu(III) complex, their properties and applications. Polymers for Advanced
Technologies, 15, pp. 414–418.
[3] L. R. Melby, N. J. Rose, (1964). Synthesis and Fluorescence of Some Trivalent Lan-
thanide Complexes. J. Chem. Phys., Vol. 86, 5117.
SUMMARY
Study in Quang Binh winter - springtime 2009 - 2010 on the tomato
planted in membrance-house convered by converting light polyethylene
film doped with (phen)2Eu1−xYx(NO3)3 complex made in Vietnam
Study in Quang Binh on the tomatoes planted in house converted by converting light
polyethylene film doped with Eu(III) + Y(III) complex with phenanthroline ligand made in
Vietnam was reported in the paper. The study results indicated that the tomato planted in
the converting light film-house grew very good, especially noted was the shortened growing
time shortened, the anti-pestilent and insect abilities enhanced, quality of the tomato, for
example degrees Brix, content of total sugar and vitamin C, increased effectively.
123
Các file đính kèm theo tài liệu này:
nghien_cuu_trong_cay_ca_chua_trong_nha_mang_chuyen_hoa_anh_s.pdf