Nghiên cứu tuyển chọn một số dòng ngô ngọt phục vụ chọn tạo giống ngô trái cây dựa trên kiểu hình và chỉ thị phân tử
Mười một tính trạng được sử dụng để phân nhóm di truyền bao gồm: khả năng kết hạt (KETHAT), năng suất lý thuyết (NSH), năng suất bắp tươi thực thu (NSBT), tỉ lệ nảy mầm (NAYMAM), chiều dài bắp (CDB), đường kính bắp (DKB), sô' hàng hạt/bắp (HH.B), sô' hạt/hàng (HAT.H), thời gian sinh trưởng (TGST), chênh lệch tung phấn - phun râu (ASI), chiều cao đóng bắp (CDB.l). Các tính trạng này được dùng để phân tích mức độ đa dạng của 44 dòng ngô ngọt đời tự phối S3-4 sử dụng phương pháp tính khoảng cách trung bình vối giá trị sô' đại sô' (UPGMA). Kết quả cho thấy các dòng có mức độ đa dạng cao về tính trạng và đặc điểm hình thái (Hình 3). Vối hệ sô' tương đồng là 0,1(5 các dòng ngô ngọt được phân thành 8 nhóm di truyền. Các dòng sử dụng làm bô' mẹ xa nhau về di truyền có khả năng tìm được các dòng có khả năng kết hợp và cho ưu thê' lai cao hơn. Kết quả chọn lọc các dòng ưu tú bằng phương pháp LPSI - Linear Phenotypic Selection Index (Smith, 1936) vối áp lực chọn lọc dựa trên 9 nhóm tính trạng (°Brix, độ dày vỏ hạt, năng suất bắp tươi, năng suất hạt khô, khả năng kết hạt, chiều dài bắp, đường kính bắp, sô' hạt/hàng, khối lượng 1.000 hạt) chọn được 17 dòng triển vọng bao gồm các dòng D18, D27, D12, D15, DỈ3, D41, D20, D38, D29, D39, D9, D26, DI9, D24, D8, Dio, D43. Các dòng này có °Brix đạt từ 13,5 đến 23,8; độ mỏng vỏ từ 44,5pm đến 81,9pm và năng suất bắp tươi cả lá bi đạt từ 6,7 đến 9,7 tấn/ha.
Các file đính kèm theo tài liệu này:
nghien_cuu_tuyen_chon_mot_so_dong_ngo_ngot_phuc_vu_chon_tao.pdf


