KẾT LUẬN Kết quả nghiên cứu tối ưu các điều kiện (kích thích chuyển vị NF-κB nội bào, điều kiện nhuộm huỳnh quang phân tử đích, tối ưu đa thông số thu nhận, hệ số Z' và phân tích hình ảnh ) cho thấy sử dụng kỹ thuật miễn dịch huỳnh quang kết hợp phân tích hình ảnh trên thiết bị hiển vi huỳnh quang nội hàm cao thu được hình ảnh rõ nét, đảm bảo đủ chất lượng phân tích để có thể định lượng được yếu tố NF-κB nội bào. Cụ thể trong nghiên cứu đã thử nghiệm với mẫu chất zerumbone (SHTN-4, nồng độ 25 µg/mL) cho thấy SHTN-4 có hoạt tính ức chế NF-κB qua xác định được hàm lượng protein p65-GFP trong bào tương cao (82%) so với đối chứng (19,4%) khi xử lý tế bào HeLa với chất cảm ứng IL-1 ở nồng độ 10 ng/mL. Như trên đã trình bày, mặc dù có một số phương pháp xác định hoạt tính ức chế NF-κB, tuy nhiên thường chỉ đánh giá định tính và chi phí thử nghiệm cao bởi việc phát hiện chuyển vị của yếu tố nhân NF-κB thường gặp nhiều khó khăn do các tương tác protein nội bào xảy ra nhanh và phức tạp. Kết quả nghiên cứu này góp phần đánh giá khả năng ứng dụng kỹ thuật mới phục vụ cho sàng lọc hoạt tính kháng viêm và ức chế ung thư in vitro trên đích phân tử protein ở điều kiện nghiên cứu trong nước.
9 trang |
Chia sẻ: hachi492 | Lượt xem: 4 | Lượt tải: 0
Bạn đang xem nội dung tài liệu Nghiên cứu ứng dụng kỹ thuật miễn dịch huỳnh quang và phân tích hình ảnh nội hàm cao trong đánh giá hoạt tính ức chế chuyển vị yếu tố nhân NF-κB, để tải tài liệu về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
Tạp chí Công nghệ Sinh học 18(1): 157-165, 2020
157
NGHIÊN CỨU ỨNG DỤNG KỸ THUẬT MIỄN DỊCH HUỲNH QUANG VÀ PHÂN
TÍCH HÌNH ẢNH NỘI HÀM CAO TRONG ĐÁNH GIÁ HOẠT TÍNH ỨC CHẾ
CHUYỂN VỊ YẾU TỐ NHÂN NF-κB
Đỗ Hữu Nghị1,2,*, Nguyễn Xuân Vũ3, Nguyễn Xuân Thành4, Lưu Văn Chính1,2, Lê Mai Hương1,2
1Viện Hóa học các hợp chất thiên nhiên, Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam
2Học viện Khoa học và Công nghệ, Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam
3Trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên, Đại học Thái Nguyên
4Chi cục Quản lý Chất lượng Nông Lâm Thủy sản Thái Nguyên
*Người chịu trách nhiệm liên lạc. E-mail: nghi@inpc.vast.vn
Ngày nhận bài: 02.10.2019
Ngày nhận đăng: 16.3.2020
TÓM TẮT
Yếu tố nhân kappa B hay NF-κB là yếu tố phiên mã thiết yếu kiểm soát quá trình biểu hiện gen
mã hóa của các cytokine tiền viêm trong quá trình sinh lý bệnh viêm và ung thư. Trong nghiên cứu
này trình bày ứng dụng kỹ thuật miễn dịch huỳnh quang kết hợp phân tích hình ảnh nội hàm cao để
phát hiện và định lượng sự chuyển vị của tiểu đơn vị NF-κB p65 liên kết protein huỳnh quang xanh
(green fluorescent protein, GFP) kích hoạt bởi cytokine trên dòng tế bào ung thư cổ tử cung HeLa.
Sau khi nghiên cứu các điều kiện thích hợp, hình ảnh thu được đủ chất lượng phân tích và đảm bảo
độ tin cậy của phép thử khi hệ số Z' tính theo tỷ lệ protein trong nhân (Nu) và tế bào chất (Cyto) được
xác định lần lượt là 0,70 đối với Nuc-Cyto và 0,73 cho Nuc/Cyto. Cụ thể thử nghiệm với mẫu hợp
chất zerumbone (SHTN-4, nồng độ 25 µg/mL) có thể hiện hoạt tính ức chế NF-κB qua xác định lượng
p65-GFP trong bào tương cao hơn đáng kể (82 %) so với đối chứng (19,4 %) khi xử lý tế bào HeLa
với chất cảm ứng IL-1 (10 ng/mL) trong 1 giờ. Kết quả nghiên cứu là cơ sở để xây dựng quy trình
định lượng protein nội bào trong sàng lọc các hoạt chất trên đích phân tử sinh học liên quan hoạt tính
kháng viêm và ung thư ở điều kiện nghiên cứu trong nước.
Từ khóa: cytokine, miễn dịch huỳnh quang, sàng lọc nội hàm cao, tế bào HeLa, yếu tố nhân NF-κB
ĐẶT VẤN ĐỀ
Được phát hiện đầu tiên bởi Sen và Baltimore
vào năm 1986, NF-κB (nuclear factor-kappa B)
trước đây được xem như là yếu tố phiên mã hay
yếu tố nhân của riêng tế bào lympho B. Hiện nay
NF-κB được tìm thấy trong nhiều loại tế bào khác
nhau và có 5 thành viên được xác định: p105/p50
(nfkb1), p100/p52 (nfkb2), p65 (RelA), RelB và
c-Rel. Một đặc trưng của NF-κB là tất cả các
thành viên của họ này đều bảo tồn được một vùng
domain Rel giống nhau chứa khoảng 300 amino
acid chịu trách nhiệm chính cho quá trình gắn với
DNA, nhị phân hóa và tương tác với IκB - chất
ức chế nội bào của NF-κB. Khi tế bào ở trạng thái
nghỉ, NF-κB tồn tại trong bào tương ở dạng
tương tác không đồng hóa trị với các protein IκB.
Những tác nhân hoạt hóa NF-κB gây nên quá
trình phosphoryl hóa các IκB. Kết quả là IκB bị
giáng hóa bởi quá trình thủy phân protein hoặc bị
phân hủy do các proteasome hay các protease
khác. Khi đó các NF-κB sẽ được giải phóng, đi
vào nhân tế bào và kích hoạt quá trình phiên mã
tại đây. Sự kích hoạt sai lệch tín hiệu NF-κB có
liên quan đến các bệnh viêm như viêm khớp dạng
thấp và hen suyễn và một số bệnh chuyển hóa
(Đỗ Thị Thanh Huyền et al., 2017; Liu et al.,
2017). Mặt khác, khi viêm không hồi phục dễ
Đỗ Hữu Nghị et al.
158
chuyển sang giai đoạn viêm mạn tính và nhiều
nghiên cứu đã chứng minh có mối liên hệ giữa
viêm mạn tính và nguy cơ ung thư cao thông qua
yếu tố NF-κB. Nhiều loại khối u khác nhau của
con người do sự kiểm soát sai NF-κB bởi nó hoạt
động giúp biểu hiện của các gen giữ cho tế bào
tăng sinh và bảo vệ tế bào khỏi các điều kiện cảm
ứng quá trình chết theo chương trình apoptosis
(Hoesel, Schmid, 2013). Việc ức chế yếu tố NF-
κB có thể dẫn đến ức chế tăng sinh tế bào khối u
hoặc làm cho tế bào này trở nên nhạy cảm hơn
với tác dụng của thuốc. Do vậy, NF-κB được
quan tâm trong nhiều nghiên cứu như một trong
các đích sinh học quan trọng trong liệu pháp
kháng viêm và ung thư.
Tuy nhiên, nghiên cứu phát hiện chuyển vị
của yếu tố nhân NF-κB thường gặp nhiều khó
khăn do các tương tác protein nội bào xảy ra
nhanh và phức tạp. Kỹ thuật chuyển gel hay di
động điện di EMSA (electrophoretic mobility
shift assay) thường được sử dụng để phát hiện
liên kết đặc hiệu NF-κB và DNA hoặc có thể sử
dụng kỹ thuật Western blot (Maguire et al.,
2011). Một trong các yếu điểm của phương pháp
EMSA và Western blot là chúng không cung cấp
đầy đủ thông tin trong mẫu phân tích phức tạp và
do đó thiếu độ tin cậy. Mặt khác các phương pháp
hóa sinh-phân tử này cũng không đủ nhạy để phát
hiện các hiện tượng hiếm khi chỉ thực hiện trên
số lượng tế bào hạn chế. Trong khi đó phân tích
trắc lưu tế bào flow cytometry có thể cung cấp
nhiều dữ liệu từ số lượng lớn tế bào thử nghiệm,
tuy nhiên rõ ràng kỹ thuật này không thể thu
được các dữ liệu phân tích nội bào từ các tín hiệu
huỳnh quang (Du et al., 2019; Maguire et al.,
2011). Những hạn chế này có thể được khắc phục
bằng kỹ thuật phân tích hình ảnh tế bào và
chuyển vị nội bào sử dụng thiết bị hiển vi huỳnh
quang. Bất lợi của kỹ thuật này là một số kit thử
thương mại sử dụng dòng tế bào biến nạp hiện đã
ngừng sản xuất hoặc có giá thành rất cao. Do vậy
chúng tôi nghiên cứu đánh giá khả năng chuyển
vị yếu tố nhân NF-κB nhờ kết hợp phương pháp
miễn dịch huỳnh quang và phân tích hình ảnh nội
hàm cao trên hệ thiết bị hiển vi tự dộng Olympus
scanˆR với quy trình đơn giản hơn và chi phí thấp
phù hợp với điều kiện trong nước.
VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP
Vật liệu
Dòng tế bào ung thư cổ tử cung HeLa
(ATCC® CCL-2TM) được mua từ nguồn ATCC
(American Type Culture Collection, Virginia,
USA) và lưu giữ tại Phòng Sinh học Thực
nghiệm (Viện Hóa học Các hợp chất thiên
nhiên).
Các kit nhuộm huỳnh quang, chất tiền viêm
[Interleukin-1 (IL-1), yếu tố hoại tử khối u
(TNFa)], lipopolysaccharide (LPS), môi trường
nuôi cấy tế bào DMEM (Dulbecco’s Modified
Eagle Medium) và hóa chất sử dụng trong nghiên
cứu được cung cấp bởi Sigma-Aldrich và
ThermoFisher Scientific, USA. Kháng thể sơ cấp
(rabbit anti-p65 NF-κB antibody) cung cấp bởi
Santa Cruz Biotechnology, USA. Mẫu hợp chất
thiên nhiên được cung cấp bởi TS Lưu Văn
Chính, Viện Hóa học các HCTN là mẫu chất
sạch, đã được xác định cấu trúc.
Xử lý mẫu
Mẫu chất thử được pha trong
dimethylsulfoxide (DMSO 100%), siêu âm trong
30-60 min. Mẫu được nhỏ lên phiến 24 hoặc 96
giếng, nồng độ cuối đến 50 µg/mL (hoặc µM).
Nồng độ cuối cùng trong giếng thử của DMSO
từ 0,25-1%.
Nuôi cấy và hoạt hóa tế bào
Tế bào được nuôi cấy ở 37oC, CO2 5% trong
môi trường DMEM (Dulbecco's Modified Eagle
Medium, high glucose; Sigma-Aldrich, USA) có
bổ sung L-glutamine 2 mM, kháng sinh (100
U/mL penicillin + 100 µg/mL streptomycin;
Gibco, USA) và bổ sung huyết thanh thai bò
(FBS 10%, v/v). Sau khi tế bào phát triển đạt trên
70%, loại bỏ môi trường cũ và rửa với dung dịch
đệm phosphate (PBS 0,1 M, pH 7,8), sau đó bổ
sung Trypsin-EDTA 0,05% để tách tế bào bám
dính khỏi đáy đĩa nuôi cấy. Dịch tế bào được
chuyển sang ống falcon-15 mL có chứa 4-5 mL
dịch môi trường mới và ly tâm 300 rpm. Sau khi
loại bỏ phần dịch, phần cặn tế bào được trộn với
môi trường dinh dưỡng và được chuyển sang
Tạp chí Công nghệ Sinh học 18(1): 157-165, 2020
159
bình nuôi cấy mới để sẵn sàng cho các thử
nghiệm hoạt tính.
Kích hoạt yếu tố NF-κB
Đưa mẫu chất thử đã pha trong DMSO 0,25-
1% lên phiến đã có dịch tế bào HeLa (90
µL/giếng), ủ 30 min ở 37oC trước khi bổ sung 10
µL chất cảm ứng [Interleukin-1 (IL-1), yếu tố
hoại tử khối u (TNFa) hoặc lipopolysaccharide
(LPS), nồng độ cuối 0,5-15 ng/mL]. Tiếp tục ủ ở
37oC trong 1 h tới khi kết thúc, rửa phiến 2 lần
với PBS 0,1 M lạnh cho bước cố định tế bào.
Cố định tế bào
Tế bào có thể cố định bằng
paraformaldehyde 3,7% (v/v) trong đệm
phosphate (PBS 0,1 M, pH 7,8) theo mô tả bởi
Harlow và Lane (2006). Protein NF-κB ở tế bào
HeLa có thể ổn định trong một vài ngày ở 4oC
trước khi nhuộm với kháng thể NF-κB và cố định
với paraformaldehyde 3,7-4%.
Nhuộm huỳnh quang đích phân tử p65
Sau khi cố định định tế bào, block các kháng
nguyên không đặc hiệu bằng bổ sung 100 µL sữa
bột không béo 5% trong đệm PBS 0,1 M, pH 7,8,
để trong 20 min ở nhiệt độ phòng. Sau khi rửa 2
lần với Tris-HCl 0,1 M, ủ tế bào trong 1h với 100
µL kháng thể sơ cấp (rabbit anti-p65 NF-κB
antibody). Thêm dung dịch 0,01% Tween 20 và
rửa với đệm PBS 0,1 M trước khi ủ với 100 µL
kháng thể thứ cấp (Alexa Fluor® 488 goat anti-
rabbit) đồng thời với 300 nM DAPI. Ủ phiến
trong 1h ở điều kiện tối, nhiệt độ phòng và rửa
lại với đệm PBS 0,1 M. Bọc phiến và lưu giữ
trong điều kiện tối ở 4oC tới khi ghi ảnh và phân
tích.
Đánh giá hiệu suất sàng lọc qua hệ số Z’
Hệ số Z’ (Zhang et al., 1999) được sử dụng
để đánh giá hiệu suất thử nghiệm sàng lọc hiệu
năng cao. Tế bào được xử lý với TNFα và cố định
như trên. Thử nghiệm với n=45 giếng đối chứng
và mẫu có bổ sung cytokine. Hệ số Z’ được xác
định theo công thức: 𝑍" = 1 − 3 ∗ (𝜎+ + 𝜎-)∣ 𝜇+ − 𝜇- ∣
Trong đó: µ là giá trị trung bình và σ- độ lệch
chuẩn. p: positive control, n: negative control.
Thu nhận hình ảnh huỳnh quang tế bào
Hình ảnh tế bào và các đích phân tử huỳnh
quang được thu nhận sử dụng hệ thiết bị
Olympus scan^R (Olympus, Nhật Bản) ở các vật
kính x20 (Plan Semi-Apochromat 20xPH/0.45)
với bốn bộ lọc tiêu chuẩn cho các kênh
DAPI/FITC/TRICT/CY5.
Phần mềm dựa trên gradient tự động lấy nét
có thể điều chỉnh thô và chỉnh tinh được sử dụng
để xác định mặt phẳng lấy nét trong kênh GFP
kích thích ở bước sóng 488 nm và phát hiện tại
510 nm. Hình ảnh được chụp sử dụng camera
cảm biến sCMOS (Hamamatsu, Nhật Bản), độ
phân giải ≥ 4.0 megapixel, tốc độ quét ≥ 100
hình/giây, mỗi lần quét và xử lý 9-16 vị trí/giếng.
Phân tích hình ảnh và số liệu
Các hình ảnh được phân tích bằng phần mềm
phân tích scan^R Analysis ver.2.7.2 (Olympus).
Các thí nghiệm được thực hiện với độ lặp lại ≥3
lần và phân tích thông kê trên phần mềm JMP
Pro 13.2. Với giá trị р < 0,05 được coi là sự khác
biệt có ý nghĩa thống kê.
GraphPad Prism 6.0 (GraphPad Software,
San Diego, CA, USA)
KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN
Kích thích chuyển vị NF-κB trên dòng tế bào
HeLa bởi các cytokine tiền viêm
Nghiên cứu sự phụ thuộc kích thích chuyển
vị NF-κB vào nồng độ cytokine cho thấy cả hai
loại cytokine tiền viêm IL-1 và TNFa đều có
hiệu quả cao ở nồng độ từ 10 ng/mL (Hình 1).
Ở các nồng độ cao hơn sự chuyển vị tăng NF-
κB không đáng kể, kết quả này phù hợp với các
nghiên cứu trước đó (Ding et al., 1998) và như
vậy có thể sử dụng một trong hai cytokine này
làm chất cảm ứng chuyển vị NF-κB trên dòng tế
bào HeLa. Sau khi ủ 1h với các cytokine, lượng
lớn p65 được phát hiện trong nhân mặc dù một
lượng nhất định p65 vẫn nằm ngoài tế bào chất.
Trong khi đó lipopolysaccharide của vi khuẩn
Đỗ Hữu Nghị et al.
160
(LPS) chỉ kích thích chuyển vị nội bào tối đa ở
nồng độ tới 12-16 ng và hiệu quả thấp hơn đáng
kể so với các cytokine. Mặc dù LPS được sử
dụng phổ biến kích thích sản sinh NO trong
đánh giá hoạt tính kháng viên trên dòng đại thực
bào RAW 264.7 hoặc kích thích chuyển vị NF-
κB trên các dòng tế bào A549, AGS,
L929(Bartfeld et al., 2010), rất ít nghiên cứu
đánh giá vai trò của LPS là chất cảm ứng yếu tố
NF-κB trên dòng HeLa. Để định lượng sự
chuyển vị này, kỹ thuật miễn dịch huỳnh quang
được phát triển nhằm đo được cường độ tín hiệu
huỳnh quang cả ở tế bào chất và trong nhân đối
với từng tế bào riêng lẻ cũng như phân tích tập
hợp các tế bào trên phiến đa giếng. Trong
nghiên cứu này chúng tôi nghiên cứu sử dụng
hệ thống sàng lọc phân tích nội hàm cao
Olympus scanˆR.
Hình 1. Tương quan nồng độ chất cảm ứng và sự chuyển vị NF-κB ở dòng tế bào HeLa. Các chất tiền viêm
cytokine Interleukin-1 (IL-1; ─●─), yếu tố hoại tử khối u (TNFa; --▲--) và lipopolysaccharide (LPS; ××ר×××).
Thu nhận hình ảnh huỳnh quang
Tế bào HeLa được ủ với chất cảm ứng (IL-1
10 ng/mL), cố định tế bào và xử lý với thuốc
nhuộm huỳnh quang như mô tử ở phần phương
pháp ở trên. Trước khi tiến hành thu nhận hình
ảnh nhuộm DAPI và GFP-p65, các mẫu đều được
quét kiểm tra ở chế độ tự động lấy nét autofocus
ở tất cả các giếng để đảm bảo độ đồng nhất. Để
phát hiện NF-κB kích hoạt bởi IL-1, sử dụng kỹ
thuật miễn dịch huỳnh quang với kháng thể sơ
cấp anti-p65 NF-κB và liên kết huỳnh quang
xanh phát hiện trên kênh GFP, kích thích ở λ =
488 nm. Đồng thời, nhân tế bào được nhuộm với
huỳnh quang DAPI, kích thích ở λ = 405 nm. Kết
quả thu được hình ảnh rõ, đủ chất lượng phân tích
(Hình 2).
Hình 2. Tín hiệu protein huỳnh quang xanh gắn với tiểu đơn vị NF-κB p65 (GFP-p65), DNA nhân tế bào (DAPI)
và chồng hình ảnh huỳnh quang (MERGE). Hình ảnh được ghi trên thiết bị hiển vi huỳnh quang Olympus scanˆR,
vật kính x20.
Tạp chí Công nghệ Sinh học 18(1): 157-165, 2020
161
Phân tích hình ảnh chuyển vị NF-κB
Trước hết, vùng tín hiệu nhân tế bào được khư
trú sử dụng một trong các thuốc nhuộm huỳnh
quang đặc hiệu DAPI. Nhân tế bào được xác định
theo phân vùng hình ảnh phân tích (mask) như mô
tả ở trên, sau đó kỹ thuật chồng hình ảnh thứ hai
(mask overlay/merge) được tạo từ viền bao quanh
toàn bộ tế bào hoặc vùng giới hạn nằm trong tế
bào chất. Nhờ đó NF-κB gắn huỳnh quang có thể
được định lượng qua phân vùng thứ hai này (nhân
hoặc/và tế bào chất). Trong sàng lọc các chất có
hoạt tính, sử dụng cường độ tín hiệu vùng nhân và
tế bào chất cũng có thể phát hiện đồng thời các
hợp chất có huỳnh quang trùng hoặc gần với phổ
của chất dò (kit nhuộm) tương ứng sử dụng khi
phát triển phương pháp thực nghiệm. Khi đó
những hợp chất này được đưa vào nhóm mẫu
"dương tính giả" (false positive) và cần xác định
mức tín hiệu "tự phát huỳnh quang" trong tế bào
khi có và không có mặt của chất dò.
Mỗi tế bào trong trường phân tích được xác
định số lượng và phân định bởi đường viền quanh
nhân (đường màu đỏ). Để giảm tín hiệu nhiễu
vùng tế bào chất, vòng đường viền thứ hai phía
trong (màu xanh) được tạo khi phân tích định
lượng. Lượng protein xác định ở vùng tế bào chất
và trong nhân là kết quả trung bình tín hiệu huỳnh
quang đo được theo diện tích của mỗi vùng phân
định. Như vậy trước khi kích thích tế bào, vùng tế
bào chất sẽ có tín hiệu huỳnh quang xanh mạnh
(GFP) so với ở vùng nhân. Khi kích thích chuyển
vị protein bởi cytokine hay LPS, tín hiệu huỳnh
quang vùng tế bào chất giảm và tăng lên trong
nhân do có sự di chuyển của protein từ vùng tế bào
chất, đồng nghĩa với tỷ lệ Nuc/Cyto tăng. Cần lưu
ý rằng, việc đo/quan sát từ hướng trên hoặc dưới
phiến tế bào có thể có hiện tượng chồng lấn do các
vùng nhân trùng nhau ở các tế bào khác phía trên
hay dưới nó, do vậy phân tích yêu cầu kỹ thuật
quét lớp và quan sát theo hướng cạnh tế bào.
Hình 3. A. Mô hình định lượng chuyển vị NF-κB từ tế bào chất (Cyto) vào nhân (Nuc). Khi chưa kích hoạt NF-κB,
tế bào chất biểu hiện tín hiệu màu xanh trong khi nhân tế bào không bao gồm protein sẽ không bắt màu và do vậy
tỷ lệ Nuc/Cyto hoặc Nuc-Cyto thấp. Ở các tế bào được kích hoạt, tín hiệu huỳnh quang ở tế bào chất giảm, ngược
lại tín hiệu trong nhân tăng lên do nồng độ protein tăng (đồng nghĩa với tỷ lệ Nuc/Cyto cao). B. Phân tích hình ảnh
thực trên phần mềm Olympus scanˆR Analysis ver.2.7.2. Tế bào HeLa kích hoạt NF-κB bởi IL-1 10 ng/mL trong
1h.
A
B
Đỗ Hữu Nghị et al.
162
Các tế bào không chỉ được được nhuộm với
kháng thể đặc hiệu p65 để xác định NF-κB ở mỗi
tế bào riêng biệt mà còn được nhuộm với kit đặc
hiệu để xác định nhân của tất cả tế bào trong
giếng hay vùng phân tích. Phần mềm Olympus
scanˆR Analysis cho phép định rõ vùng nhân và
đường viền bằng phương pháp giới hạn theo
động học (dynamic threshold) qua sự thay đổi tín
hiệu huỳnh quang so với tín hiệu nền. Theo đó
khi kích thích tế bào HeLa với IL-1 và có sự
chuyển vị của protein tiểu đơn vị p65, vùng xanh
đậm được xác định trong nhân với vùng giới hạn
là đường màu xanh và vùng tế bào chất nằm giữa
đường phân định của nhân và đường viền màu đỏ
như ở Hình 3 A, B.
Hệ số Z' và khả năng thử nghiệm sàng lọc hiệu
năng cao
Mức độ chuyển vị của yếu tố nhân NF-κB từ
tế bào chất vào nhân có thể biểu thị theo 2
phương pháp: (i) Theo hiệu số cường độ huỳnh
quang của NF-κB trong nhân và vùng tế bào chất
(Nuc-Cyto). Phương pháp này trước đây thường
được áp dụng, tuy nhiên kết quả biến thiên lớn
do tín hiệu huỳnh quang trong mỗi tế bào đơn lẻ
thường có sự thay đổi đánh kể; (ii) Theo tỷ lệ
cường độ huỳnh quang trong nhân và vùng tế bào
chất (Nuc/Cyto; Hình 3). Ở phương pháp này có
sai số thấp nên giá trị Z’ thường cao hơn ở các
thử nghiệm mức độ tế bào.
Để xác định hệ số Z’, 2 nhóm đối chứng
(control) và mẫu bổ sung chất kích hoạt chuyển
vị (vd. IL-1) phân đều trên phiến 96 giếng với n
= 48 giếng. Hệ số Z' không khác biệt đáng kể ở
hai phương pháp, theo đó giá trị Z' xác định lần
lượt là 0,70 đối với Nuc-Cyto và 0,73 cho
Nuc/Cyto. Về lý thuyết, Z'-factor trong khoảng
0,5 đến ~1,0 được đánh giá nhóm thử nghiệm tốt,
độ tin cậy cao (excellent assay). Mặt khác, biểu
đồ phân tán cho thấy sự phân tách rõ rệt của 2
nhóm control và bổ sung IL-1 (Hình 4). Kết quả
này cho thấy có thể phát triển kỹ thuật miễn dịch
huỳnh quang kết hợp phân tích hình ảnh nội hàm
cao (High content analysis) ứng dụng cho các thử
nghiệm hiệu năng cao HTS. Điều này là phù hợp
vì hệ thống Olympus scanˆR được thiết kế cho
sàng lọc HTS và độ chính xác cao nhờ kỹ thuật
lấy nét tự động (autofocus) và xác định vị trí đối
tượng phân tích độc lập. Điều này cho phép thực
hiện các thử nghiệm quy mô lớn, tiết kiệm thời
gian, kinh phí và đảm bảo độ chính xác của kết
quả truy suất. Do hệ số Z' cao hơn nên chúng tôi
sử dụng thông số tỷ lệ Nuc/Cyto trong các phân
tích kết quả hình ảnh chuyển vị NF-κB đánh giá
hoạt tính kháng viêm in vitro. Cũng lưu ý là, quy
trình phát hiện và phân tích sự chuyển vị NF-κB
bằng kỹ thuật miễn dịch huỳnh quang sử dụng hệ
thiết bị sàng lọc/phân tích nội hàm cao có thể
phát triển ứng dụng cho phân tích các phân tử
đích protein khác với đặc tính tương tự (chuyển
vị nội bào tế bào chất - nhân), ví dụ như đối với
NRF2 (nuclear factor erythroid-related factor 2)
- một yếu tố phiên mã liên quan đến stress oxy
hóa, ung thư và quá trình viêm.
Đánh giá hoạt tính ức chế chuyển vị NF-κB
trên tế bào HeLa
Để nghiên cứu cơ chế tác động của chất thử
lên các đích phân tử, mẫu hoạt tính tiềm năng
được sàng lọc trước hoạt tính ức chế tăng sinh tế
bào ung thư bằng phương pháp MTT qua đó xác
định giá trị IC25, IC50 và IC75 (kết quả không trình
bày ở đây) làm căn cứ cho các test thử tiếp theo.
Ví dụ cụ thể được thực hiện với hợp chất
zerumbone (SHTN-4) cho nghiên cứu đánh giá
hoạt tính kháng phân bào trên dòng HeLa. Đây là
một hợp chất sesquiterpene cấu trúc đơn vòng
được phân lập lần đầu tiên từ tinh dầu cây gừng
Zingiber zerumbet (L.) Smith và đã được chứng
minh có hoạt tính ức chế sự tăng sinh trên nhiều
tế bào ung thư (Rahman et al., 2014). Trong báo
cáo này trình bày kết quả đánh giá khả năng ức
chế yếu tố kappa B (NF-κB) trên dòng tế bào ung
thư cổ tử cung HeLa của hợp chất SHTN-4 dựa
trên sự chuyển vị protein p65 gắn với protein
huỳnh quang xanh GFP từ bào tương (trạng thái
không hoạt động) vào trong nhân (trạng thái hoạt
động). Kết quả phân tích cho thấy 2 vùng
“clouds” tương ứng với nồng độ p65 trong bào
tương cao so với trong nhân tế bào (“negative”),
trong khi ở mẫu đối chứng tín hiệu huỳnh quang
vùng tế bào chất thấp do lượng lớn p65 di chuyển
vào nhân (“positive”) sau khi kích hoạt với IL-1.
Theo đó nồng độ NF-κB trong bào tương cao
(82%) sau khi xử lý tế bào HeLa với SHTN-4 (25
A
Tạp chí Công nghệ Sinh học 18(1): 157-165, 2020
163
µg/mL) so với mẫu không xử lý (19,4%). Kết quả
logic là nồng độ NF-κB trong nhân được xác định
đối với mẫu xử lý SHTN-4 chỉ ở mức 8,2% so
với 70% ở mẫu đối chứng (Hình 5).
Hình 4. Xác định hệ số Z' đối với nhóm đối chứng (control) và tế bào HeLa kích hoạt với cytokine (hình-bảng
trên). Biểu đồ phân tán cường độ tín hiệu vùng tế bào chất và trong nhân với đối chứng Control (-) và kích hoạt
với IL-1 (hình dưới).
Đỗ Hữu Nghị et al.
164
Hình 5. Hợp chất SHTN-4 điều hòa/ức chế yếu tố kappa B (NF-κB) của tế bào ung thư cổ tử cung HeLa qua
đánh giá dựa trên sự chuyển vị NF-κB (p65 gắn GFP). Nhân được xác định đồng thời với nhuộm DAPI.
KẾT LUẬN
Kết quả nghiên cứu tối ưu các điều kiện (kích
thích chuyển vị NF-κB nội bào, điều kiện nhuộm
huỳnh quang phân tử đích, tối ưu đa thông số thu
nhận, hệ số Z' và phân tích hình ảnh) cho thấy
sử dụng kỹ thuật miễn dịch huỳnh quang kết hợp
phân tích hình ảnh trên thiết bị hiển vi huỳnh
quang nội hàm cao thu được hình ảnh rõ nét, đảm
bảo đủ chất lượng phân tích để có thể định lượng
được yếu tố NF-κB nội bào. Cụ thể trong nghiên
cứu đã thử nghiệm với mẫu chất zerumbone
(SHTN-4, nồng độ 25 µg/mL) cho thấy SHTN-4
có hoạt tính ức chế NF-κB qua xác định được
hàm lượng protein p65-GFP trong bào tương cao
(82%) so với đối chứng (19,4%) khi xử lý tế bào
HeLa với chất cảm ứng IL-1 ở nồng độ 10
ng/mL. Như trên đã trình bày, mặc dù có một số
phương pháp xác định hoạt tính ức chế NF-κB,
tuy nhiên thường chỉ đánh giá định tính và chi
phí thử nghiệm cao bởi việc phát hiện chuyển vị
của yếu tố nhân NF-κB thường gặp nhiều khó
khăn do các tương tác protein nội bào xảy ra
nhanh và phức tạp. Kết quả nghiên cứu này góp
phần đánh giá khả năng ứng dụng kỹ thuật mới
phục vụ cho sàng lọc hoạt tính kháng viêm và ức
chế ung thư in vitro trên đích phân tử protein ở
điều kiện nghiên cứu trong nước.
Lời cảm ơn: Công trình nghiên cứu có sử dụng
trang thiết bị từ Dự án đầu tư phòng TN trọng
điểm cấp Viện Hàn lâm KHCNVN về thử nghiệm
hoạt tính sinh học và Đề tài KHCN mã số VAST
04.05/18-19.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
Bartfeld S, Hess S, Bauer B, Machuy N, Ogilvie L-A,
Schuchhardt J, Meyer T-F (2010) High-throughput
and single-cell imaging of NF-kB oscillations using
monoclonal cell lines. BMC Cell Biology 11: 1471-
2121.
Ding G, Fischer P, Boltz R, Schmidt J, Colaianne J,
Gough A (1998) Characterization and quantitation of
Counts % Counts %
Cells in all 732.0 100.0 720.0 100.0
Cells in "Positive" 600.0 82.0 140.0 19.4
Cell in "Negative" 60.0 8.2 504.0 70.0
Control SHTN-4
t Counts %
Cells in all 32. 100.0 720.0 100.0
Cells in "Positive" 60 . 82.0 140.0 19.4
Cell in "Negative" 60. 8 2 504.0 70.0
Control SHTN-4
Tạp chí Công nghệ Sinh học 18(1): 157-165, 2020
165
NF-KB nuclear translocation induced by interleukin-
1 and tumor necrosis factor-α: development and use
of a hight capacity fluorescence cytometric system. J
Biol Chem 273: 28897-28905.
Du K, Wu J, Pan A, Li D, Cui L, Peng C (2019) Cyclic
enzymatic amplification method for highly sensitive
detectionof nuclear factor-kappa B. Analytica
Chimica Acta 1068: 80-86.
Harlow E, Lane D (2006) Fixing attached cells in
paraformaldehyde. CSH Protoc 3: 4294-4296.
Hoesel B, Schmid JA (2013) The complexity of NF-
kappaB signaling in inflammation and cancer. Mol
Cancer 12:86.
Đỗ Thị Thanh Huyền, Trần Thị Thùy Anh, Nguyễn Thị
Hồng Vân, Nguyễn Văn Sáng, et al. (2017) Tách dòng,
biểu hiện và tinh sạch nhân tố phiên mã NF-κB p50 của
người trong tế bào vật chủ E. coli. Tạp chí Khoa học
Tự nhiên-Công nghệ (ĐHQGHN) 33: 299-304.
Liu T, Zhang L, Joo D, Sun S-C (2017) NF-κB
signaling in inflammation. Signal Transduct Target
Ther 2, e17023; doi:17010.11038/sigtrans.
12017.17023.
Maguire O, Collins C, O'Loughlin K, Miecznikowski
J, Minderman H (2011) Quantifying nuclear p65 as a
parameter for NF-κB activation: Correlation between
ImageStream Cytometry, Microscopy and Western
blot. Cytometry A. 79: 461-469.
Rahman HS, Rasedee A, Chartrand MS, Othmana M-
H, Yeap S-K, Namvar F (2014) Zerumbone induces
G2/M cell cycle arrest and apoptosis via
mitochondrial pathway in Jurkat cell line. Nat Prod
Commun 9: 1237-1242.
Sen R, Baltimore D (1986) Inducibility of kappa
immunoglobulin enhancer-binding protein Nf-kappa
B by a posttranslational mechanism. Cell 47: 921-928.
Zhang JH, Chung TD, Oldenburg KR (1999) A
simple statistical parameter for pse in evaluation and
validation of high throughput screening assays. J
Biomol Screen 4: 67-73.
APLICATION OF IMMUNOFLUORESCENCE IN COMBINATION WITH HIGH-
CONTENT IMAGING TO SCREEN THE ANTI-TRANSLOCATION OF NUCLEAR
FACTOR NF-κB
Do Huu Nghi1,2, Nguyen Xuan Vu3, Nguyen Xuan Thanh4, Luu Van Chinh1,2, Le Mai Huong1,2
1Institute of Natural Products Chemistry, Vietnam Academy of Science and Technology
2Graduate University of Science and Technology, Vietnam Academy of Science and Technology
3Thai Nguyen University of Agriculture and Forestry, Thai Nguyen University
4Thai Nguyen Department of Agriculture, Forestry and Fishery Quality Assurance
SUMMARY
Nuclear factor-kappa B or NF-κB is an essential transcription factor that regulates the expression
of pro-inflammatory cytokine encoding genes in the pathophysiology progression of inflammation
and cancer. This study lays out the result of the experimental application by using
immunofluorescence technique combined with high-content imaging and analysis to detect the
translocation of the nuclear NF-κB p65 factor binding with the green fluorescent protein (GFP)
activated by cytokine in the cervical cancer cell line, HeLa. Under optimized conditions, the image
was acquired with a sufficient quality for further analyses as well as a high reliability as the Z-factor
was defined by the protein ratio in the nucleus (Nu) and cytoplasm (Cyto) to be 0.70 for Nuc-Cyto
and 0.73 for Nuc/Cyto, respectively. As the result, a zerumbone sample (SHTN-4, 25 µg/mL)
inhibited NF-κB activation as a high amount of cytoplasmic protein p65-GFP (82%) was determined
in comparison to that of negative control (19.4%) after treatment of HeLa cells with IL-1 inducers at
10 ng/mL for 1h. This result can serve to develop a standard operating procedure to qualitatively
analyze the intracellular protein for the biomolecular-targeted screening of anti-inflammatory and
anti-cancer active compounds in accordance with domestic conditions.
Keywords: cytokine, immunofluorescence, high-content screening, HeLa cells, nuclear factor kappa
B (NF-κB)
Các file đính kèm theo tài liệu này:
nghien_cuu_ung_dung_ky_thuat_mien_dich_huynh_quang_va_phan_t.pdf