Nghiên cứu tạo giống cây trồng biến đổi gen
là lĩnh vực được quan tâm nghiên cứu ở Việt
Nam. Tạo giống cây trồng biến đổi gen đòi hỏi
có sự đầu tư cao, sự gắn kết chặt chẽ của nhiều
lĩnh vực công nghệ cao như: công nghệ tế bào,
sinh học phân tử. Trước năm 2000, lực lượng
nghiên cứu chủ yếu là một số cán bộ khoa học ở
các viện nghiên cứu, trường đại học có tham gia
vào các dự án hợp tác quốc tế tạo cây trồng biến
đổi gen và hầu như chưa có các nghiên cứu
cũng như chưa chuẩn bị một cách có hệ thống
cho việc tạo giống cây trồng biến đổi gen như:
nguồn gen để tạo giống cây trồng, nhân lực
khoa học công nghệ, trang thiết bị, kỹ thuật. Chỉ
đến sau năm 2000, một vài đề tài nghiên cứu
đầu tiên về tạo giống cây trồng biến đổi gen đã
được triển khai thực hiện trong Chương trình
Công nghệ sinh học quốc gia KC04, Chương
trình Giống cây trồng, vật nuôi do Bộ Nông
nghiệp và Phát triển nông thôn quản lý.
Mặc dù nghiên cứu tuyển chọn, sàng lọc và
chọn giống truyền thống trên thế giới cho thấy
đã thành công trong việc tạo ra các dòng đậu
tương kháng sâu nhưng ở Việt Nam chưa có
nghiên cứu nào đi theo hướng này. Cho đến nay,
hầu hết các giống đậu tương kháng sâu trên thế
giới được tạo ra thông qua con đường chuyển
gen. Ở Việt Nam, nghiên cứu chuyển gen vào
đậu tương đã được thực hiện thành công ở nhiều
trung tâm, viện nghiên cứu như Viện Di truyền
nông nghiệp (Nguyễn Văn Đồng et al., 2013a,
b), Viện Lúa đồng bằng sông Cửu Long, Viện
Công nghệ sinh học. Tuy nhiên, nghiên cứu
chuyển gen kháng sâu mới chỉ được triển khai
tại Viện Di truyền nông nghiệp (Nguyễn Văn
Đồng et al., 2010a, b) và Viện Lúa đồng bằng
sông Cửu Long (Trần Thị Cúc Hoà et al., 2013).
Các đề tài nghiên cứu liên quan đến phân lập và
cải biến gen có nguồn gốc từ Bt, thiết kế vector
biểu hiện trong vi khuẩn và trong thực vật (Lê
Thị Thu Hiền et al., 2002a, b; Lê Thị Minh
Thành et al., 2005, 2008, 2009, 2011, 2012a, b;
Ngô Đình Bính et al., 2008, 2010; Trần Thị
Ngọc Diệp et al., 2010). Bên cạnh đó, các đề tài
cũng tập trung vào việc chuyển các gen cry1Ac,
cry2Aa, cry4A và vip3A vào giống đậu tương
nhập nội Williams 82, Maverick và giống đậu
tương Việt Nam MTĐ176 (Nguyễn Văn Đồng
et al., 2010a, b; Trần Thị Cúc Hoà et al., 2013).
Việc phân lập các gen từ vi sinh vật bản địa (Bt)
và thiết kế vector biểu hiện được các gen kháng
hiệu quả một số loài sâu đục quả gây hại chính
góp phần tạo giống đậu tương biến đổi gen có
năng suất cao, chất lượng tốt, kháng sâu có thể
áp dụng được cho sản xuất, góp phần đáp ứng
nhu cầu thực tiễn, đồng thời giảm ảnh hưởng
của việc sử dụng thuốc trừ sâu đến môi trường
và sức khỏe con người
21 trang |
Chia sẻ: hachi492 | Lượt xem: 5 | Lượt tải: 0
Bạn đang xem trước 20 trang tài liệu Nghiên cứu và phát triển các giống đậu tương biến đổi gen sử dụng các gen kháng sâu có nguồn gốc từ vi khuẩn Bacillus Thuringiensis, để xem tài liệu hoàn chỉnh bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
, cry1Ab, cry2Ab2, cry2Ae, cry1C, cry1F,
vip3Aa, cry1A, CpTI (cowpea trypsin inhibitor)
Khoai tây (Solanum tuberosum) 30 cry3a
Đậu tương (Glycine max) 4 cry1Ac, cry1Ab2, cry1F
Lúa (Oryza sativa) 3 cry1Ac, cry1Ab
Bạch dương (Populus sp.) 2 cry1Ac, API (arrowhead protease inhibitor)
Cà tím (Solanum melongena) 1 cry1Ac
Cà chua (Lycopersicon esculentum) 1 cry1Ac
Tổng cộng 191
TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ ỨNG DỤNG
GEN MÃ HÓA PROTEIN ĐỘC TỐ ĐỂ TẠO
CÁC GIỐNG ĐẬU TƯƠNG KHÁNG SÂU
Phương pháp phát hiện và phân lập gen mã
hóa các protein độc tố từ vi khuẩn B.
thuringiensis
Có nhiều phương pháp khác nhau đã được
sử dụng để phân lập các gen mã hóa cho độc tố
mới từ Bt. Phương pháp PCR được Carozzi và
đồng tác giả (1991) sử dụng đầu tiên để dự đoán
hoạt tính diệt côn trùng của các chủng Bt chưa
được nghiên cứu trước đây. Tiếp theo sau là các
phương pháp cải biến dựa trên PCR như lai
PCR (Kalman et al., 1993), PCR-RFLP (Kuo,
Chak, 1996), E-PCR (Juarez-Perez et al., 1997)
và PCR-SSCP (Lin et al., 2007). Việc xây dựng
các thư viện DNA của Bt trong E. coli và sàng
lọc bằng phương pháp lai Western (Schnepf,
Whiteley, 1981; McLinden et al., 1985),
phương pháp dựa vào lai khác (Masson et al.,
1992; Lee, Gill, 1997; Balasubramanian et al.,
2002; Kongsuwan et al., 2005), hoặc phát triển
thư viện DNA trong chủng Bt đột biến không
hình thành tinh thể Cry và quan sát dưới kính
hiển vi cũng đã được sử dụng để phát hiện các
gen cry mới.
Tuy nhiên, các phương pháp dựa trên PCR
được sử dụng phổ biến để phân lập các gen cry
mới. Các mồi nhân gen được thiết kế chủ yếu
dựa vào các trình tự bảo thủ được công bố bởi
Höfte và Whiteley (1989). Mặc dù vậy, phương
pháp này tồn tại nhiều hạn chế như khó tìm
được gen cry mới (gen có ít hơn 45% trình tự
amino acid tương đồng với gen cry đã biết) và
khó thu nhận được trình tự hoàn chỉnh của gen
Lê Thị Thu Hiền et al.
10
cry. Thành công trong việc giải trình tự hệ gen
người năm 2003 đã mở ra một giai đoạn phát
triển mới trong nghiên cứu về khoa học sự sống,
kỷ nguyên hậu genome hay kỷ nguyên omics
với nhiều kỹ thuật mới được phát triển và ứng
dụng. Một trong những kỹ thuật được phát triển
rất mạnh là kỹ thuật giải trình tự gen thế hệ mới
(NGS) cho phép giải trình tự hệ gen hiệu quả và
nhanh hơn rất nhiều so với kỹ thuật trước đây.
Với các tiến bộ về thiết bị và hóa chất, hiện nay
giải trình tự hệ gen của một cơ thể sống có thể
được thực hiện tại các phòng thí nghiệm được
cấp kinh phí vừa phải với thiết bị đọc trình tự
thế hệ mới như solid, solexa, ion-proton, 454,
trong thời gian ngắn (có thể chỉ trong 24h) và
giá thành rẻ. Trình tự hệ gen vi khuẩn hay virus
có thể được xác định dễ dàng với các thiết bị có
công suất nhỏ khoảng 6-10 Gb. NGS là một
công cụ mạnh nhất để phát hiện được các tác
nhân gây bệnh, các đột biến với tỷ lệ thấp.
Chính vì vậy, giải trình tự gen thế hệ mới là
công cụ không thể thiếu trong phát hiện và định
lượng các đột biến trong ung thư, bệnh di
truyền
Do có tác động rất lớn đến sản xuất nông
nghiệp cũng như tính đa dạng cao về gen của
từng chủng Bt nên các nghiên cứu về hệ gen của
chúng trên thế giới rất được quan tâm. Các gen
mới có hoạt tính kháng sâu mạnh hơn và phổ
diệt sâu rộng hơn được phát hiện và tính đa
dạng gen của các chủng được xác định. Việc sử
dụng kỹ thuật PCR đã cho phép phân lập số
lượng lớn các gen Bt diệt côn trùng đặc hiệu.
Đến nay, công nghệ NGS mới cho phép sàng
lọc nhanh, nhiều, hiệu quả, với chi phí thấp các
protein diệt sâu Bt.
Trong các năm qua, nhiều trình tự hệ gen
của các chủng Bt đã được công bố trên Ngân
hàng Gen Quốc tế GenBank. Năm 2015, Li và
đồng tác giả đã công bố trình tự hệ gen của
chủng B. thuringiensis HD521. Chủng này vừa
có khả năng ức chế vi khuẩn gây bệnh bạc lá
(Rhizoctonia solani AG1 IB) và vừa có thể hình
thành các tinh thể độc tố Bt hình lưỡng tháp
gồm ba gen cry7 diệt ấu trùng sâu
Henosepilachna vigintioctomaculata (Bộ cánh
cứng). Hệ gen của HD521 có 1 nhiễm sắc thể
5.429.688 bp (tỷ lệ G + C của các nhiễm sắc thể
là 35,28%) và 6 plasmid: pBTHD521-1,
pBTHD521-2, pBTHD521-3, pBTHD521-4,
pBTHD521-5 và pBTHD521-6 (GenBank:
CP010106, CP010107, CP010108, CP010109,
CP010110, CP010111, CP010112), trong đó với
chiều dài gen mã hóa protein độc tố là
4.544.493 bp. Plasmid pBTHD521-5 chứa 3 gen
cry7, có thể hình thành các tinh thể độc tố hình
lưỡng tháp. Trong số 3323 các gen dự đoán, 25
là gen chức năng COG chung.
Palma và đồng tác giả (2014) đã giải trình
tự hệ gen của 2 chủng Bt sử dụng hệ thống
Illumina thế hệ mới. Chủng Hu4-2, diệt nhiều
loài côn trùng cánh phấn và một số loài muỗi,
mang gen cry1Ia và cry9Ea mã hóa 2 tinh thể
độc tố diệt côn trùng và một gen mã hóa protein
diệt côn trùng Vip (vip3Ca2). Chủng Leapi01
chứa các gen mã hóa cho 7 protein Cry (cry1Aa,
cry1Ca, cry1Da, cry2Ab, cry9Ea và hai biến thể
gen cry1Ia) và một gen vip3 (vip3Aa10). Một
gen dài 1.143 bp dự đoán là gen độc tố mới đã
được tìm thấy trong cả hai chủng. Protein dự
đoán có 57% tương đồng với protein 72 của
chủng Bt đã cấp bằng sáng chế (US8318900) và
100% tương ứng với 41,9 kDa độc tố diệt côn
trùng từ vi khuẩn B. cereus. Độc tố 41,9 kDa
được biểu hiện trong E. coli và được biết chống
lại bốn loài bướm (Mamestra brassicae,
Ostrinia nubilalis, Spodoptera frugiperda và S.
littoralis) và rệp hại đào Myzus persicae ở liều
khoảng 4,8 mg/mL và 1,5 mg/mL và không gây
tử vong hoặc triệu chứng ảnh hưởng đến các
côn trùng thử nghiệm (Porcar, Caballero, 2000).
Điều này cho thấy những protein gây độc đặc
hiệu chỉ với côn trùng đích.
Sheppard và đồng tác giả (2013) đã công bố
trình tự hệ gen của chủng Bt subsp. 407 Cry diệt
côn trùng bộ Cánh vảy. Hệ gen của chủng này
bao gồm 1 nhiễm sắc thể 5,5 Mb (GenBank:
CP003889) và 9 plasmid: BTB_2p, BTB_5p,
BTB_6p, BTB_7p, BTB_8p, BTB_9p,
BTB_15p, BTB_78p, và BTB_502p (GenBank:
từ CP003890 - CP003898); kích thước plasmid
từ 2.062 bp đến 501.911 bp. BTB_502p là
plasmid lớn nhất của B. thuringiensis 407 Cry
theo các công bố cho đến nay và là hoàn toàn
Tạp chí Công nghệ Sinh học 18(1): 1-21, 2020
11
mới, với các tìm kiếm trên ngân hàng gen cho
thấy 95% khác biệt với trình tự các plasmid đã
được công bố. Tỷ lệ G + C của nhiễm sắc thể là
35,4% và của plasmid từ 29,7% đến 35,7%.
Tổng số gen dự đoán là 6.635 trong đó 5.714
gen nằm trên nhiễm sắc thể và 921 gen trên
plasmid.
Năm 2013, Liu và đồng tác giả đã xác định
trình tự hệ gen của chủng B. thuringiensis subsp.
kurstaki HD73 diệt côn trùng cánh vẩy. Hệ gen
của chủng Bt HD-73 chứa 8 replicons, trong đó
có một nhiễm sắc thể và 7 plasmid (GenBank:
CP004069 (nhiễm sắc thể), CP004070 (pHT73),
CP004071 (pHT77), CP004073 (pHT11),
CP004074 (pHT8_1), CP004075 (pHT8_2) và
CP004076 (pHT7)). Nhiễm sắc thể dài 5,6 Mb
với tỉ lệ GC 31,4%, chứa 5.892 gen, 104 tRNA
và 36 operon rRNA. Chiều dài 7 plasmid là từ 8
- 77 kb, với tỉ lệ GC từ 29,73% - 34,66%, mang
235 ORFs.
Năm 2011, He và đồng tác giả đã công bố
trình tự hệ gen của chủng thuộc dưới loài B.
thuringiensis subsp. chinensis CT-43
(GenBank: CP001907.1 - CP001917.1) có độc
tính cao đối với côn trùng bộ cánh vẩy và Hai
cánh (Helicoverpa armigera, Plutella xylostella,
Musca domestica, Meloidogyne incognita).
Chủng này có thể tạo thành các protein tinh thể
độc tố khác nhau bao gồm Cry1Aa3, Cry1Ba1,
Cry1Ia14, Cry2Aa9, và Cry2Ab1 và tạo ra
protein độc tố Vip3Aa10 trong quá trình lên
men. Phân tích trình tự trên máy Genome
Sequencer FLX (454) đã xác định được bộ gen
của chủng B. thuringiensis CT-43 dài 6,15 Mb,
chứa 11 replicons, một nhiễm sắc thể
(5.486.830 bp) mã hóa 5.596 dự đoán khung
đọc mở (ORFs), trong đó có 5.489 chuỗi mã
hóa (CDS), 10 plasmid (có kích thước từ 6.880
đến 281.231 bp và được đặt tên là pCT6880,
pCT8252, pCT8513, pCT9547, pCT14, pCT51,
pCT72, pCT83, pCT127 và pCT281 theo kích
thước) và mang tổng cộng 737 ORFs. Tỷ lệ G +
C của nhiễm sắc thể là 35,38%, plasmid là từ
30,79% đến 34,97%. Plasmid pCT281 chứa bốn
gen gây độc là cry1Aa3 (CT43_P281270),
cry1Ia14 (CT43_P281271), cry2Aa9
(CT43_P281278), cry2Ab1 (CT43_P281265) và
một gen vip3Aa10 (CT43_P281262). Những
gen độc tố này nằm gần nhau và tạo thành một
vùng tác nhân gây độc tố lớn. Plasmid pCT127
chứa gen cry1Ba1 (CT43_P127021) và một
cụm gen cho quá trình sinh tổng hợp từ
CT43_P127037 đến CT43_P127041. Số liệu
đến năm 2019 cho thấy đã có 52 hệ gen của B.
thuringiensis được giải trình tự toàn bộ
(
/486?).
Phổ diệt sâu hại đậu tương của các gen Bt mã
hóa protein độc tố kháng sâu
Tùy điều kiện địa lý, khí hậu mà sâu hại đậu
tương ở mỗi một nước có đặc trưng về loài và
mức độ phá hoại riêng. Vùng Đông Nam nước
Mỹ, đậu tương bị phá hại bởi 4 loài sâu chính:
sâu đo Pseudoplusia includens, sâu xanh
Helicoverpa zea, sâu đục thân Elasmopalpus
lignosellus, sâu ăn lá Anticarsia gemmatalis
(Walker et al., 2000). Vùng Đông và Đông Nam
châu Á, đậu tương bị tấn công bởi nhiều loài
sâu chính: H. armigera, Spodoptera litura, S.
exigua phá hại lá giai đoạn đầu vụ; rệp Bemisia
tabaci, Megalurothrips usitatus và Edwardsiana
avescens chích hút lá; sâu cuốn lá Omiodes
indicata gây hỏng lá nghiêm trọng; và sâu đục
quả E. zinckenella, Maruca vitrata phá hại
nghiêm trọng năng suất đậu vào cuối vụ
(Srinivasan et al., 2009). Ở Việt Nam, theo
thống kê thì có 3 nhóm sâu chính: sâu Bộ Cánh
vẩy (Sâu đục quả E. zinckenella, M. vitrata; sâu
ăn lá hoa: sâu xanh H. armigera, sâu xanh da
láng S. exigua, sâu khoang S. litura, sâu cuốn lá
Omiodes indicata), sâu bộ Hai cánh (dòi đục
gốc Ophiomyia phaseoli, dòi đục thân
Melanagromyza sojae) và bộ Cánh nửa (rệp
Aphis craccivora Koch, Aphis glycines
Matsumura).
Theo thống kê kết quả công bố trên thế giới,
các gen độc tố từ vi khuẩn Bt diệt các loại sâu
hại đậu tương tập trung chủ yếu ở các nhóm gen
cry1, cry2 và vip. Các gen có phổ diệt sâu khá
rộng (Bảng 2): gen cry1Ab có thể diệt được các
loài sâu Cánh vẩy M. vitrata, S. exigua; gen
cry1Ac có thể diệt các loài E. zinckenella, S.
exigua, S. litura, Omiodes indicata, H. armigera,
Lê Thị Thu Hiền et al.
12
H. zea, Pseudoplusia includens; gen vip3C có
thể diệt S. litura, H. armigera ... (Estruch et al.,
1996; Strizhov et al., 1997; Walker et al., 2000;
Ibargutxi et al., 2008; Hernández et al., 2008;
Onstad et al., 2012; Palma et al., 2012;
Rodrigues-Silva et al., 2019).
Bảng 2. Phổ diệt sâu hại đậu tương của một số gen kháng sâu Bt.
Côn trùng Tên khoa học Bộ Gen Bt
Sâu đục quả Etiella zinckenella Cánh vẩy cry1Ac
Maruca vitrata Cánh vẩy cry1Ab
Sâu xanh da láng Spodoptera exigua Cánh vẩy cry1Ab, cry1Ac, cry1Ca, cry1Da,
cry1Fa, cry1C, vip3A
Sâu khoang Spodoptera litura Cánh vẩy cry1Ac, cry1C, vip3C
Sâu cuốn lá đậu Omiodes indicata Cánh vẩy cry1Ac, cry1Fa
Sâu xanh Helicoverpa armigera Cánh vẩy cry1Ac, cry1Fa, cry2Ab, vip3A,
vip3C
Helicoverpa zea Cánh vẩy cry1Ac
Sâu đo Pseudoplusia includens Cánh vẩy cry1Ac
Sâu đục thân Epinotia aporema Cánh vẩy cry1Ac
Elasmopalpus lignosellus Cánh vẩy cry1Ab, cry1Ac, cry1F, cry9C
Rệp đậu Aphis craccivora Cánh nửa cry4Aa, cry11Aa, B. thuringiensis
subsp. kurstaki
Aphis glycines Cánh nửa cyt2Aa
Ruồi (dòi) đục thân Melanagromyza sojae Hai cánh B. thuringiensis subsp. kurstaki
Ruồi (dòi) đục gốc Ophiomyia phaseoli Hai cánh cry2Ab
Protein Bt có hoạt tính mới thông qua biến
đổi di truyền
Ngoài những protein gốc phân lập trực tiếp
từ Bt, những protein Cry mới có thể được tạo ra
thông qua kỹ thuật di truyền dựa trên những
protein dạng dại. Những protein mới dạng này
được biết sẽ tăng cường khả năng kháng của
cây và ngăn ngừa tính kháng với các protein
Cry của côn trùng, vì chúng có thể mang nhiều
vị trí gắn với các thụ thể khác nhau trong ruột
của côn trùng. Tuy nhiên, việc thiết kế hợp lý
các protein Cry mới đòi hỏi kiến thức đầy đủ về
trình tự gen, cấu trúc và cơ chế hoạt động của
các protein Cry.
Protein Cry hoạt động trong ruột côn trùng
đích theo hai bước: trước hết gắn với các thụ thể,
tiếp theo là gắn và tích hợp với màng tế bào ruột
và hình thành lỗ rò. Điểm mấu chốt của độc tính
không chỉ nằm ở vị trí gắn, mà còn bao gồm khả
năng gắn kết chặt vào màng, hình thành lỗ gắn
liền với độc tính. Domain I liên quan đến sự
hình thành của các kênh ion trong màng ruột
của côn trùng đích, trong đó domain II tham gia
liên kết đặc hiệu với các thụ thể và domain III
chịu trách nhiệm điều chỉnh hoạt động của kênh
ion (Schnepf et al., 1998). Một vài gốc amino
acid có tính quyết định đến việc hình thành tinh
thể của protein Cry. Điển hình như Tyrosine
268 chuỗi xoắn a7 của Cry3A được biết có vai
trò quan trọng trong giữ cấu trúc đặc thù của
chuỗi xoắn a7, cần thiết cho việc ổn định và tinh
thể hóa (Park, Federici, 2004). Vì Cry có trình
tự domain III và I tương đối giống nhau giữa
các protein, nên các protein Cry khác nhau có
thể có cấu trúc xoắn gập tương tự. Những khác
Tạp chí Công nghệ Sinh học 18(1): 1-21, 2020
13
biệt đáng kể trong trình tự các các protein là ở
domain II, domain gắn thụ thể, chịu trách nhiệm
cho hoạt động đặc hiệu của protein Cry. Việc
hoán đổi giữa các domain và đột biến trong
vùng này có thể tạo ra protein có độc tính mới
với phổ diệt côn trùng rộng hơn hoặc độc tính
cao hơn; hay có thể thiết kế một loại độc tố
mang domain đặc hiệu cho côn trùng đích và
domain hình thành lỗ rò hiệu quả hơn. Việc
khác nhau về trình tự giữa các độc tố vi khuẩn
có cùng kiểu hoạt động là kết quả của sự tái tổ
hợp giữa các gen này trong tự nhiên (deMaagd
et al., 2003).
Thêm vào đó, việc xác định các epitope liên
quan đến tương tác protein Cry và thụ thể sẽ
cung cấp cơ sở phân tử của tính đặc hiệu côn
trùng, đồng thời cho phép thiết kế các độc tố
mới có khả năng diệt côn trùng kháng với độc
tố dạng dại. Ngoài ra, protein Cry có độc tính
thay đổi có thể được tạo ra bằng cách trao đổi
trình tự các gen cry khác nhau. Phần lớn sự đa
dạng của gen cry tự nhiên có thể là kết quả đa
dạng trình tự do việc trao đổi các domain thông
qua tái tổ hợp giữa các trình tự tương đồng
(deMaagd et al., 2003). Dựa vào điều này, các
gen cry đa domain đã được thiết kế bằng cách
trao đổi giữa các domain đặc trưng loài, tạo ra
các domain có tính đặc hiệu từ các gen cry khác
nhau để mở rộng hoạt tính kháng sâu của các
chủng Bt. Việc phân tích chức năng của các
protein lai sẽ cung cấp thông tin hữu ích về
tương tác giữa các domain chức năng của các
độc tố này. Kết hợp các domain độc tính của
cry1Ab từ subsp B. thuringiensis subsp. aizawai
và cry1Ac từ B. thuringiensis subsp.
entomocidus, đã tạo ra một gen lai có độc tính
của cả hai gen. Hoạt tính của protein Cry trong
Pseudomonas fluorescens đã được cải thiện
bằng cách sử dụng các gen tái tổ hợp có chứa
một phần đáng kể của vùng C của cry1Ab
(Thompson et al., 1995). Gen cry tái tổ hợp mới
bao gồm miền độc tính của gen cry3Aa đối với
sâu bộ Cánh cứng Leptinotarsa texana và vùng
C của cry1Ac tạo ra protein Cry tái tổ hợp có
kích thức 140 kDa trong E. coli (Carmona,
Ibarra, 1999). Phiên bản tổng hợp của Cry tái tổ
hợp mới có hiệu quả cao chống lại S. litura và
H. armigera trong thuốc lá chuyển gen và diệt
100% S. litura. Nghiên cứu thay thế vùng xoắn
a7 của protein Cry1Ac với đoạn độc tố bạch hầu
B sử dụng đột biến hướng đích đã tạo ra các độc
tố đột biến có khả năng diệt H. armigera cao
hơn so với Cry1Ac (Chandra et al., 1999).
Một hướng tiếp cận khác trong việc tạo ra
protein Bt có hoạt tính mới là phân tích chức
năng của các protein. Thật vậy, bằng cách trao
đổi các vùng mã hóa cho domain I hoặc domain
III của các protein Cry1Ab, Cry1Ac, Cry1C và
Cry1E cho thấy tầm quan trọng của domain III
của độc tố Cry1Ab trong việc tạo ra độc tính
mạnh hơn của độc tố Cry1C (Rang et al., 1999).
Protein Cry mang domain I và II của một vài
độc tố Cry1 kết hợp với domain III của Cry1Ca
cho thấy hoạt tính tăng cường diệt S. exigua
(deMaagd et al., 2000). Tuy nhiên, có những
trao đổi như giữa các vùng của domain I của
gen cry1 có thể gây mất độc tính (Rang et al.,
1999). Thay đổi trình tự amino acid tại những vị
trí chủ chốt có chức năng gắn với các epitope
của thụ thể có thể thu được các protein độc tố
mới. Đồng thời, bằng cách loại bỏ các vị trí cắt
không có hoạt lực trong khi vẫn giữ các vị trí
cần thiết để tạo ra quá trình xuyên sâu vào màng
cũng có khả năng tăng cường độc tính của
protein Cry.
Nghiên cứu tạo giống đậu tương kháng sâu
Việc ứng dụng công nghệ sinh học để tạo ra
cây đậu tương biến đổi gen, mang gen kháng
côn trùng có nguồn gốc từ Bt góp phần tăng
năng suất, hạn chế việc sử dụng thuốc trừ sâu
hóa học, tạo điều kiện canh tác an toàn bền
vững. Những thập kỷ đầu tiên của công nghệ
tạo cây trồng biến đổi gen đã khẳng định hiệu
quả và sự cần thiết của công nghệ đối với an
ninh lương thực và bảo vệ môi trường. Trong số
các cây trồng biến đổi gen, đậu tương luôn
chiếm vị trí cao nhất về diện tích, với 50% tổng
diện tích cây trồng biến đổi gen toàn cầu vào
năm 2017 (ISAAA, 2017). Mặc dù vậy, các
giống đậu tương biến đổi gen có khả năng
kháng sâu chưa nhiều mà tập trung chủ yếu vào
tính trạng kháng thuốc diệt cỏ. Thực tế cho thấy
trong 94,1 triệu ha trồng đậu tương biến đổi
Lê Thị Thu Hiền et al.
14
gen, có 69,7 triệu ha trồng đậu tương có khả
năng kháng thuốc diệt cỏ và chỉ có 24,4 triệu ha
dành cho đậu tương có tính trạng kết hợp kháng
sâu và kháng thuốc diệt cỏ. Đậu tương có tính
trạng kết hợp này đã được triển khai thành công
ở Argentina, Paraguay và Uruguay. Ở Brazil, từ
năm 2013 đến 2017, chính phủ đã phê duyệt 11
sự kiện đậu tương công nghệ sinh học được
phép sử dụng cho thực phẩm, thức ăn chăn nuôi
và canh tác, trong đó có 2 sự kiện đậu tương có
tính trạng kết hợp kháng sâu (bộ Cánh vẩy) và
kháng thuốc diệt cỏ (glyphosate) (ISAAA,
2017). Về đặc điểm kháng sâu của đậu tương,
hiện nay chỉ có hai công ty sản xuất giống cây
trồng biến đổi gen là Monsanto và Dow
AgroSciences tạo ra giống đậu tương có tính
kháng sâu đặc hiệu được phép canh tác trên thế
giới. Cụ thể là sự kiện chuyển gen đậu tương Bt
MON 87701 × MON 89788 (Monsanto) có tên
thương mại Intacta™ Roundup Ready™ 2 Pro
nhắm mục tiêu hiệu quả vào một số các loài sâu
bướm nhung Anticarsia gemmatalis Hübner
[Lepidoptera: Erebidae] và Chrysodeixis
includens Walker [Lepidoptera: Noctuidae]
(Bernardi et al., 2012) nhờ có chứa gen mã hóa
protein tổng hợp TIC 107, gần giống với protein
Cry1Ac tự nhiên (Macrae et al., 2005). Sự kiện
MON 87751 ở đậu tương mang hai gen Bt
giống như ngô chuyển gen kháng sâu
MON89034 là gen tái tổ hợp cry1A.105 và gen
cry2Ab2, được cấp phép canh tác vào năm
2016. Tiếp nối sự phát triển của hai giống đậu
tương trên, Công ty Monsanto đã chọn lọc sự
kiện MON 87751 × MON 87701 × MON 87708
× MON 89788 mang tất cả các gen Bt của các
giống đậu tương thành phần, và được 2 quốc gia
là Đài Loan và Hàn Quốc cho phép canh tác
(Bengyella et al., 2018). Tương tự, sự kiện đậu
tương biến đổi gen DAS-81419-2 (Dow
AgroSciences) đã được phát triển thông qua
phương pháp sử dụng Agrobacterium để biểu
hiện các protein Cry1Ac, Cry1F và
phosphinothricin acetyltransferase (PAT) có
nguồn gốc tương ứng từ B. thuringiensis subsp.
kurstaki, B. thuringiensis subsp. aizawai và
Streptomyces viridochromogenes. Sự kiện
DAS-81419-2 kết hợp hai protein Bt trong đậu
tương giúp cho các nhà sản xuất nông nghiệp
Nam Mỹ được bảo vệ khỏi thiệt hại do một số
loài sâu hại bộ Cánh vẩy chính (Marques et al.,
2017). Bên cạnh đó, một số quốc gia phát triển
cũng đẩy mạnh các nghiên cứu sử dụng độc tố
Bt mới để chọn tạo giống đậu tương có khả
năng kháng nhiều loài sâu khác nhau. Qin và
đồng tác giả (2019) tiến hành chuyển gen cry8
có nguồn gốc từ chủng Bt HBF-18 vào giống
đậu tương Jinong 28 giúp cây kháng được sâu
Holotrichia parallela [Coleoptera:
Scarabaeoidae].
Nghiên cứu tạo giống cây trồng biến đổi gen
là lĩnh vực được quan tâm nghiên cứu ở Việt
Nam. Tạo giống cây trồng biến đổi gen đòi hỏi
có sự đầu tư cao, sự gắn kết chặt chẽ của nhiều
lĩnh vực công nghệ cao như: công nghệ tế bào,
sinh học phân tử... Trước năm 2000, lực lượng
nghiên cứu chủ yếu là một số cán bộ khoa học ở
các viện nghiên cứu, trường đại học có tham gia
vào các dự án hợp tác quốc tế tạo cây trồng biến
đổi gen và hầu như chưa có các nghiên cứu
cũng như chưa chuẩn bị một cách có hệ thống
cho việc tạo giống cây trồng biến đổi gen như:
nguồn gen để tạo giống cây trồng, nhân lực
khoa học công nghệ, trang thiết bị, kỹ thuật. Chỉ
đến sau năm 2000, một vài đề tài nghiên cứu
đầu tiên về tạo giống cây trồng biến đổi gen đã
được triển khai thực hiện trong Chương trình
Công nghệ sinh học quốc gia KC04, Chương
trình Giống cây trồng, vật nuôi do Bộ Nông
nghiệp và Phát triển nông thôn quản lý.
Mặc dù nghiên cứu tuyển chọn, sàng lọc và
chọn giống truyền thống trên thế giới cho thấy
đã thành công trong việc tạo ra các dòng đậu
tương kháng sâu nhưng ở Việt Nam chưa có
nghiên cứu nào đi theo hướng này. Cho đến nay,
hầu hết các giống đậu tương kháng sâu trên thế
giới được tạo ra thông qua con đường chuyển
gen. Ở Việt Nam, nghiên cứu chuyển gen vào
đậu tương đã được thực hiện thành công ở nhiều
trung tâm, viện nghiên cứu như Viện Di truyền
nông nghiệp (Nguyễn Văn Đồng et al., 2013a,
b), Viện Lúa đồng bằng sông Cửu Long, Viện
Công nghệ sinh học. Tuy nhiên, nghiên cứu
chuyển gen kháng sâu mới chỉ được triển khai
tại Viện Di truyền nông nghiệp (Nguyễn Văn
Đồng et al., 2010a, b) và Viện Lúa đồng bằng
Tạp chí Công nghệ Sinh học 18(1): 1-21, 2020
15
sông Cửu Long (Trần Thị Cúc Hoà et al., 2013).
Các đề tài nghiên cứu liên quan đến phân lập và
cải biến gen có nguồn gốc từ Bt, thiết kế vector
biểu hiện trong vi khuẩn và trong thực vật (Lê
Thị Thu Hiền et al., 2002a, b; Lê Thị Minh
Thành et al., 2005, 2008, 2009, 2011, 2012a, b;
Ngô Đình Bính et al., 2008, 2010; Trần Thị
Ngọc Diệp et al., 2010). Bên cạnh đó, các đề tài
cũng tập trung vào việc chuyển các gen cry1Ac,
cry2Aa, cry4A và vip3A vào giống đậu tương
nhập nội Williams 82, Maverick và giống đậu
tương Việt Nam MTĐ176 (Nguyễn Văn Đồng
et al., 2010a, b; Trần Thị Cúc Hoà et al., 2013).
Việc phân lập các gen từ vi sinh vật bản địa (Bt)
và thiết kế vector biểu hiện được các gen kháng
hiệu quả một số loài sâu đục quả gây hại chính
góp phần tạo giống đậu tương biến đổi gen có
năng suất cao, chất lượng tốt, kháng sâu có thể
áp dụng được cho sản xuất, góp phần đáp ứng
nhu cầu thực tiễn, đồng thời giảm ảnh hưởng
của việc sử dụng thuốc trừ sâu đến môi trường
và sức khỏe con người.
KẾT LUẬN
Việt Nam được công nhận là một trong
những quốc gia có tính đa dạng sinh học cao
nhất thế giới, vì thế việc khai thác nghiên cứu
sàng lọc và lựa chọn các chủng Bt bản địa mang
các gen đặc hiệu diệt côn trùng đích có ý nghĩa
khoa học và triển vọng ứng dụng thực tiễn. Việc
phân lập, tách chiết các gen kháng sâu từ các vi
sinh vật bản địa và thiết kế tổng hợp các gen
kháng sâu mới trên cơ sở các kết quả nghiên
cứu ở trong nước và quốc tế là khởi đầu quan
trọng, cho phép Việt Nam chủ động tạo được
các giống đậu tương biến đổi gen kháng sâu đặc
hiệu có tiềm năng thương mại, đóng góp cho sự
phát triển nông thôn dựa trên nền tảng các công
nghệ hiện đại.
Lời cảm ơn: Công trình được hoàn thành với
sự hỗ trợ kinh phí của Đề tài "Nghiên cứu
chọn tạo giống đậu tương kháng sâu" (2017-
2020) thuộc chương trình Công nghệ sinh học
nông nghiệp, Bộ Nông nghiệp và Phát triển
nông thôn.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
Abdullah M, Sarnthoy O, Isichaiku S, Tantakom S
(2001) Efficacy of cypermethrin, neem extract and
Bacillus thuringiensis for controlling insect pests of
vegetables soybean.
TH2005000374.
Asano S, Yamashita C, Iizuka T, Takeuchi K,
Yamanaka S, Cerf D, Yamamoto T (2003) A strain
of Bacillus thuringiensis subsp. galleriae containing
a novel cry8 gene highly toxic to Anomala cuprea
(Coleoptera: Scarabaeidae). Biol Control 28: 191-
196.
Balasubramanian P, Jayakumar R, Shambharkar P,
Unnamalai N, Pandian SK, Kumaraswami NS,
Ilangovan R, Sekar V (2002) Cloning and
characterization of the crystal protein-encoding gene
of Bacillus thuringiensis subsp. yunnanensis. Appl
Environ Microbiol 68: 408-411.
Baoua I, Ba NM, Agunbiade TA, Margam V, Binso-
Dabiré CL, Antoine S, Pittendrigh BR (2011)
Potential use of Sesbania pachycarpa (Fabaceae:
Papilionoideae) as a refugia for the legume pod borer
Maruca vitrata (Lepidoptera: Crambidae). Int J Trop
Insect Sci 31: 212-218.
Barton K, Whitely H, Yang NS (1987) Bacillus
thuringiensis δ-endotoxin expressed in transgenic
Nicotiana tabacum provides resistance to
Lepidopteran insects. Plant Physiol 85: 1103-1109.
Bengyella L, Yekwa EL, Iftikhar S, Nawaz K, Jose
RC, Fonmboh DJ, Tambo E, Roy P (2018). Global
challenges faced by engineered Bacillus
thuringiensis Cry genes in soybean (Glycine max L.)
in the twenty-first century. 3 Biotech 8(11): 464.
Bernardi O, Malvestiti GS, Dourado PM, Oliveira
WS, Martinelli S, Berger GU (2012) Assessment of
the high-dose concept and level of control provided
by MON 87701 × MON 89788 soybean against
Anticarsia gemmatalis and Pseudoplusia includens
(Lepidoptera: Noctuidae) in Brazil. Pest Manag Sci
68: 1083-1091.
Betz F, Hammond B, Fuchs R (2000) Safety and
advantages of Bacillus thuringiensis protected plants
to control insect pests. Regul Toxicol Pharmacol 32:
156-173.
Bravo A, Gill SS, Soberón M (2007) Mode of action
of Bacillus thuringiensis Cry and Cyt toxins and
Lê Thị Thu Hiền et al.
16
their potential for insect control. Toxicon 49: 423-
435.
Carlson CR, Caugant DA and Kolsto AB (1994)
Genotypic diversity among Bacillus cereus and
Bacillus thuringiensis strains. Appl Environ
Microbiol 60: 1719-1725.
Carlson CR, Kolsto AB (1993) A complete physical
map of a Bacillus thuringiensis chromosome. J
Bacteriol 175: 1053-1060.
Carmona AA, Ibarra JE (1999) Expression and
crystallization of a Cry3Aa–Cry1Ac chimerical
protein of Bacillus thuringiensis. World J Microbiol
Biotechnol 15: 455-463.
Carozzi NB, Kramer VC, Warren GW, Evola S and
Koziel M (1991) Prediction of insecticidal activity
Bacillus thuringiensis strain by polymerase chain
reaction product profiles. Appl Environ Microbiol
57: 353-356.
Crickmore N, Zeigler DR, Schnepf E, van Rie J,
Lereclus D, Baum J, Bravo A, Dean DH (2013)
Bacillus thuringiensis toxin nomenclature.
sussex.ac.uk/Home/Neil_Crickmore/Bt/.
Chandra A, Ghosh P, Mandaokar AD, Bera
AK, Sharma RP, Das S, Kumar PA (1999) Amino
acid substitution in alphahelix 7 of Cry1Ac
deltaendotoxin of Bacillus thuringiensis leads to
enhanced toxicity to Helicoverpa armigera Hubner.
FEBS Lett. 458(2): 1759.
Cục Chăn nuôi (2013)
de Maagd RA, WeemenHendriks M, Stiekema W,
Bosch D (2000) Domain III substitution in Bacillus
thuringiensis delta-endotoxin Cry1C domain III can
function as a specific determinant for Spodoptera
exigua in different, but not all, Cry1-Cry1C
hybrids. Appl Environ Microbiol 66: 1559-1563.
de Maagd RA, WeemenHendriks M, Molthoff
JW, Naimov S (2003) Activity of wildtype and
hybrid Bacillus thuringiensis delta-endotoxins
against Agrotis ipsilon. Arch Microbiol 179(5): 363-
367.
Estruch JJ, Warren GW, Mullins MA, Nye GJ, Craig
JA, Koziel MG (1996) Vip3A, a novel Bacillus
thuringiensis vegetative insecticidal protein with a
wide spectrum of activities against lepidopteran
insects. Proc Natl Acad Sci USA 93: 5389-5394.
Fernandes AP, Bueno AF, Sosa-gómez DR (2015)
Helicoverpa armigera: current status and future
perspectives in Brazil. Curr Agric Sci Technol 21(1):
1-7.
Fitt GP (1989) The ecology of Heliothis in relation
to agroecosystems. Annu Rev Entomol 34: 17-52.
Ge AZ, Rivers D, Milne R, Dean DH (1991)
Functional domains of Bacillus thuringiensis
insecticidal crystal proteins: refinement of Heliothis
virescens and Trichoplusiani specificity domains on
Cry1A(c). J Biol Chem 266: 17954-17958.
Grochulski P, Masson L, Borisova S, PusztaiCarey
M, Schwartz JL, Brousseau R, and Cygler M (1995)
Bacillus thuringiensis CryIA(a) insecticidal toxin:
crystal structure and channel formation. J Mol Biol
254: 447-464.
He J, Wang J, Yin W, Shao X, Zheng H, Li B, Zhao
Y, Sun M, Wang S, Yu Z (2011) Complete genome
sequence of Bacillus thuringiensis subsp. chinensis
strain CT-43. J Bacteriol 193(13): 3407-3408.
Hernández M P, Ferré J, Escriche B (2008)
Susceptibility of Spodoptera exigua to 9 toxins from
Bacillus thuringiensis. J Invertebr Pathol 97(3): 245-
250.
Höfte H, Whiteley HR (1989) Insecticidal crystal
proteins of Bacillus thuringiensis. Microbiol Rev 53:
242-255.
Huỳnh Thị Thu Huệ, Trần Thị Ngọc Diệp, Lê Thị
Thu Hiền, Nông Văn Hải (2008) Thiết kế vector và
kiểm tra biểu hiện của gen cryIA(c) trên lá cây thuốc
lá Nicotiana benthamiana. Tạp chí Công nghệ Sinh
học 6(4): 453-458.
https://apps.fas.usda.gov/psdonline/circulars/productio
n.pdf
Ibargutxi MA, Muñoz D, Ruiz de Escudero I,
Caballero P (2008) Interactions between Cry1Ac,
Cry2Ab, and Cry1Fa Bacillus thuringiensis toxins in
the cotton pests Helicoverpa armigera (Hübner) and
Earias insulana (Boisduval). Biol Control 47: 89-96.
ISAAA (2014) Global status of commercialized
biotech/GM crops in 2014. ISAAA Brief No. 49.
ISAAA: Ithaca, NY
ISAAA (2017) Global status of commercialized
biotech/GM crops in 2017: Biotech crop adoption
Tạp chí Công nghệ Sinh học 18(1): 1-21, 2020
17
surges as economic benefits accumulate in 22 years.
ISAAA Brief No. 53. ISAAA: Ithaca, NY.
ISAAA (2018) Global status of commercialized
biotech/GM crops in 2018. ISAAA Brief No. 54.
ISAAA: Ithaca, NY
Juarez-Perez VM, Ferrandis MD, Frutos R (1997)
PCR-based approach for detection of novel Bacillus
thuringiensis cry genes. Appl Environ Microbiol 63:
2997-3002.
Kalman S, Kiehne KL, Libs JL, Yamamoto T (1993)
Cloning of a novel cryIC-type gene from a strain of
Bacillus thuringiensis subsp. galleriae. Appl Environ
Microbiol 59: 1131-1137.
Karel AK (1993) Effects of intercropping with maize
on the incidence and damage caused by pod borers
of common beans. Environ Entomol 22: 1076-1083.
Knowles BH, Dow JAT (1993) The crystal d-
endotoxin gene of Bacillus thuringiensis: modes of
action on the insect gut. BioEssays 15: 469-476.
Kongsuwan K, Gough J, Kemp D, McDevitt A,
Akhurst R (2005) Characterization of a new Bacillus
thuringiensis endotoxin, Cry47Aa, from strains that
are toxic to the Australian sheep blowfly, Lucilia
cuprina. FEMS Microbiol Lett 252: 127-136.
Kumar S, Chandra A, Pandey KC (2008) Bacillus
thuringiensis (Bt) transgenic crop: an environment
friendly insectpest management strategy. J Environ
Biol 29(5): 64-153.
Kuo WS, Chak KF (1996) Identification of novel
cry-type genes from Bacillus thuringiensis strains on
the basis of restriction fragment length
polymorphism of the PCR-amplified DNA. Appl
Environ Microbiol 62: 1369-1377.
Le Thi Minh Thanh, Nguyen Thi Hue, Ngo Dinh
Binh, Tran Duy Quy (2012a) Expression and
purification of Cry8Da recombinant protein against
Coleopteran insects of Bacillus thuringiensis in E.
coli. Tạp chí Khoa học và Công nghệ 50 (3): 309-
318.
Le Thi Minh Thanh, Pham Kieu Thuy, Asano
Shinichiro, Hori Hidetaka, Donald Dean and Ngo
Dinh Binh (2009) Characterization of cry8Da genes
isolated fromBacillus thuringiensisstrains in Viet
Nam. Proceedings of the 3rd International Meeting
for Deverlopment of IPM in Asia and Africa,
Published by the University of Lampung Press,
Indonesia 3: 186-192.
Le Thi Minh Thanh, Pham Kieu Thuy, Nguyen Anh
Nguyet, Ngo Thi Tuyet Nhung, Nguyen Dinh Tuan,
Ngo Dinh Binh (2008) Cloning and sequencing of
gene encoding Cry8Da protein of Bacillus
thuringiensis subp. galleriae strains isolated from
sugar cane farming soil in Vietnam. Proceedings of
the 3rd International Meeting for Deverlopment of
IPM in Asia and Africa, Science and Technics
Publishing House, Vietnam, 2: 165-174.
Le Thi Minh Thanh, Tran Quoc Trong, Tran Duy
Quy, Ngo Dinh Binh (2011) Construction of
Tiplasmid vectơ containing cry8Da gene against
Coleopteran insects from Bacillus thuringiensis
strains isolated in Vietnamto transfer into plant.
Proceedings of the 4rd International Meeting for
Deverlopment of IPM in Asia and Africa. Published
by IPM Lab of Bangladesh Agricultural University,
Mymensingh, Bangladesh 4: 87-91.
Le Thi Thu Hien, Lam Dai Nhan, Kieu Huu Anh,
Nong Van Hai, Le Tran Binh (2002c) Construction
of Agrobacterium tumefaciens strains carrying Bt
pesticidal genes. Advances in Natural Sciences 3(2):
175-180.
Lee HK, Gill SS (1997) Molecular cloning and
characterization of a novel mosquitocidal protein
gene from Bacillus thuringiensis subsp. fukuokaensis.
Appl Environ Microbiol 63: 4664-4670.
Lee MK, Walters FS, Hart H, Palekar N, Chen JS
(2003) The mode of action of the Bacillus
thuringiensis Vegetative Insecticidal Protein Vip3A
differs from that of Cry1Ab {delta}Endotoxin. Appl
Environ Microbiol 69: 4648-4657.
Lê Thị Minh Thành, Nguyễn Thị Thanh Hạnh,
Nguyễn Thị Ánh Nguyệt, Nguyễn Đình Tuấn, Phạm
Kiều Thúy, Ngô Đình Bính (2005) Nghiên cứu sự
phân bố và đa dạng gen của vi khuẩn Bacillus
thuringiensis phân lập ở một số tỉnh thuộc vùng
Đông Bắc Bộ. Tạp chí Di truyền học và Ứng dụng,
4: 29-34.
Lê Thị Minh Thành, Phạm Thị Vân, Chu Hoàng Hà,
Trần Duy Quý, Ngô Đình Bính (2012b) Tạo cây
thuốc lá chuyển gen mang gen kháng côn trùng bộ
Cánh cứng cry8Da bằng vi khuẩn Agrobacterium
tumefaciens. Tạp chí Nông nghiệp và Phát triển
nông thôn 188(5): 15-19.
Lê Thị Thu Hiền, Đinh Duy Kháng, Lê Trần Bình,
Nông Văn Hải (2002a) Thiết kế vector mang gen độc
tố cryIA(c) dưới sự điều khiển của đoạn khởi động
Lê Thị Thu Hiền et al.
18
của gien tổng hợp đường phân lập từ giống lúa C71.
Tạp chí Khoa học và Công nghệ 40: 135-141.
Lê Thị Thu Hiền, Trịnh Công Sự, Trần Thị Phương
Liên, Phạm Bích Ngọc, Đinh Duy Kháng, Nông Văn
Hải, Lê Trần Bình (2002b) Thiết kế vector và biểu
hiện gen mã hóa protein độc tố cryIA(c) có nguồn
gốc từ vi khuẩn Bacillus thuringiensis bằng vi khuẩn
Escherichia coli. Tạp chí Sinh học 24(3): 39-46.
Li J, Carroll J, Ellar DJ (1991) Crystal structure of
insectidal d-endotoxin from Bacillus thuringiensis.
Nature 25: 353-815.
Li Q, Xu LZ, Zou T, Ai P, Huang GH, Li P, Zheng
AP (2015) Complete genome sequence of Bacillus
thuringiensis strain HD521. Stand Genomic Sci 10:
62.
Lin Y, Fang G, Peng K (2007) Characterization of
the highly variable cry gene regions of Bacillus
thuringiensis strain ly4a3 by PCR-SSCP profiling
and sequencing. Biotechnol Lett 29: 247-251.
Liu G, Song L, Shu C, Wang P, Deng C, Peng Q,
Lereclus D, Wang X, Huang D, Zhang J, Song F
(2013) Complete genome sequence of Bacillus
thuringiensis subsp. kurstaki strain HD73. Genome
Announc 1(2): e0008013.
Macrae TC, Baur ME, Boethel DJ, Fitzpatrick BJ,
Gao AG, Gamundi JC (2005) Laboratory and field
evaluations of transgenic soybean exhibiting high-
dose expression of a synthetic Bacillus thuringiensis
cry1A gene for control of Lepidoptera. J Econ
Entomol 98: 577-587.
Marques LH, Santos AC, Castro BA, Moscardini VF,
Rossetto J, Silva OAN (2017) Field evaluation of
soybean transgenic event DAS-81419-2 expressing
Cry1F and Cry1Ac proteins for the control of
secondary lepidopteran pests in Brazil. Crop Prot
96: 109-115.
Masson L, Moar WJ, van Frankenhuyzen K, Bosse
M, Brousseau R (1992) Insecticidal properties of a
crystal protein gene product isolated from Bacillus
thuringiensis subsp. kenyae. Appl Environ Microbiol
58: 642-646.
McLinden JH, Sabourin JR, Clark BD, Gensler DR,
Workman WE, Dean DH (1985) Cloning and
expression of an insecticidal k-73 type crystal
protein gene from Bacillus thuringiensis var.
kurstaki into Escherichia coli. Appl Environ
Microbiol 50: 623-628.
Ngo Dinh Binh, Nguyen Dinh Tuan, Trinh Thi Thu
Ha, Le Thi Minh Thanh, Vu Thi Nhung, Nguyen Thi
Anh Nguyet, Pham Kieu Thuy, Ohba Michio, Bando
Hisanori, Hori Hidetaka (2008) Screening,
evaluation and exploiting of insecticidal genes of
Bacillus thuringiensis of Vietnam. Proceedings of
the 3rd International Meeting for Deverlopment of
IPM in Asia and Africa, Science and Technics
Publishing House, Vietnam, 2: 347-353.
Ngô Đình Bính, Lê Thị Minh Thành, Trịnh Thị Thu
Hà, Phạm Kiều Thúy, Phạm Minh Hương, Nguyễn
Thị Luy, Lê Thị Hồng Nhung, Đặng Văn Tiến
(2010) 35 năm nghiên cứu và phát triển thuốc trừ sâu
sinh học Bacillus thuringiensis tại Việt Nam. Hội
nghị Khoa Học kỷ niệm 35 năm thành lập Việt Khoa
Học và Công nghệ Việt Nam 1975 – 2010, Nhà xuất
bản Khoa Học tự nhiên và Công nghệ: 288-300.
Nguyen Thi Hoa, Tang Thi Chinh, Dang Thi Mai Anh,
Ngo Dinh Binh, Le Thi Minh Thanh (2014)
Optimization of fermentation medium compositions
from dewatered wastewater sludge of beer manufactory
for Bacilus thuringiensis delta endotoxin production.
AJAF 2(5): 219-225.
Nguyễn Văn Đồng, Nguyễn Anh Vũ (2013a) Phân
lập và thiết kế vector biểu hiện gen liên quan đến khả
năng chịu hạn GmMyb ở đậu tương. Tạp chí Khoa
học và Công nghệ nông nghiệp Việt Nam 2(41): 49-
54.
Nguyễn Văn Đồng, Nguyễn Anh Vũ, Nguyễn Hữu
Kiên, Dương Tuấn Bảo (2013b) Nghiên cứu biến
nạp gen liên quan đến khả năng kháng hạn và thuốc
trừ cỏ vào giống đậu tương ĐT22. Tạp chí Nông
nghiệp và Phát triển nông thôn (11): 03-09.
Nguyễn Văn Đồng, Phạm Thị Lý Thu, Tạm Kim
Nhung, Trịnh Thị Mình Thùy, Hà Văn Chiến, Lê
Thanh Nga, Lê Thị Thu Về, Lê Thị Thu Hiền, Nông
Văn Hải, Lê Huy Hàm (2010a) Kết quả bước đầu
trong nghiên cứu chuyển gen kháng sâu cryIA(c) vào
phôi non các dòng ngô mô hình. Tạp chí Công nghệ
Sinh học 8(2): 173-180.
Nguyễn Văn Đồng, Phạm Thị Lý Thu, Trần Minh
Thu, Lê Thanh Nga, Lê Thị Thu Về, Lê Huy Hàm,
Lê Thị Thu Hiền (2010b) Nghiên cứu khả năng tiếp
nhận gen kháng sâu cryIA(c) thông qua vi khuẩn
Agrobacterium tumefaciens của một số dòng ngô
Việt Nam. Tạp chí Khoa học và Công nghệ Nông
nghiệp Việt Nam 6(19): 36-41.
Oatman ER (1967) An ecological study of the lima-
bean pod borer, Etiella zinckenella (Lepidoptera:
Tạp chí Công nghệ Sinh học 18(1): 1-21, 2020
19
Phycitidae), in Southern California. Ann Entomol
Soc Am 60(3): 552-555.
Oerke EC (2006) Crop losses to pests. J Agric Sci
144(1): 31-43.
Onstad DW, Kang J, Ba NM, Dabire C, Pittendrigh
BR (2012) Modeling evolution of resistance by
Maruca vitrata (Lepidoptera: Crambidae) to
transgenic insecticidal cowpea in Africa. Environ
Entomol 41(5): 1255-1267.
Palma L, Hernández-Rodríguez CS, Maeztu M,
Hernández-Martínez P, Ruiz de Escudero I, Escriche
B, Muñoz D, Van Rie J, Ferré J, Caballero P (2012)
Vip3C, a novel class of Vegetative Insecticidal
Proteins from Bacillus thuringiensis. Appl Environ
Microbiol 78(19): 716-735.
Palma L, Muñoz D, Berry C, Murillo J, Caballero P
(2014) Draft genome sequences of two Bacillus
thuringiensis strains and characterization of a
putative 41.9-kDa insecticidal toxin. Toxins 6: 1490-
1504.
Panbangred W, Panjaisee S, Tantimavanich S (2000)
Expression of the mosquitocidal cryIVB gene under
the control of different promoters in Bacillus
sphaericus 2362 and acrystalliferous Bacillus
thuringiensis subsp. israelensis c4Q272. World J
Microbiol Biotechnol 16: 163-169.
Park HW, Federici BA (2004) Effect of specific
mutations in helix α7 of domain I on the
stability and crystallization of Cry3A
in Bacillus thuringiensis. Mol Biotechnol 27(2):
89-100.
Permana AD, Johari A, Putra RE, Sastrodihardjo S,
Ahmad I (2012) The influence of trichome
characters of soybean (Glycine max Merrill) on
oviposition preference of soybean pod borer Etiella
zinckenella Treitschke (Lepidoptera: Pyralidae) in
Indonesia. J Entomol Nematol 4(3): 15-21.
Porcar M, Caballero P (2000) Molecular and
insecticidal characterization of a Bacillus
thuringiensis strain isolated during a natural
epizootic. J Appl Microbiol 89(2): 309-316.
Qin D, Liu X, Miceli C, Zang Q, Wang P (2019)
Soybean plants expressing the Bacillus thuringiensis
cry8-like gene show resistance to Holotrichia
parallela. BMC Biotechnol 19(1): 66.
Rahayu M, Bande LOS, Hasan A, Yuswana A,
Rinambo F (2018) Contribution of pod borer pests to
soybean crop production (case in Pondidaha,
Konawe District, Southeast Sulawesi). IOP Conf.
Ser.: Earth Environ Sci 122: 012-039.
Rajamohan F, Cotrill JA, Gould F, Dean DH (1996)
Role of domain II, loop 2 residues of Bt CryIAb δ-
endotoxin in reversible and irreversible binding to
Manduca sexta and Heliothis virescens. J Biol Chem
271: 2390-2397.
Rang C, Vachon V, de Maagd RA, Villalon
M, Schwartz JL, Bosch D, Frutos R, Laprade R
(1999) Interaction between functional domains of
Bacillus thuringiensis insecticidal crystal proteins.
Appl Environ Microbiol 65(7): 2918-2925.
Rodrigues-Silva N, Canuto AF, Oliveira DF,
Teixeira AF, Santos-Amaya OF, Picanco MC,
Pereira EJG (2019) Negative cross-resistance
between structurally different Bacillus
thuringiensis toxins may favor resistance
management of soybean looper in transgenic Bt
cultivars. Sci Rep 9: 199.
https://doi.org/10.1038/s41598-018-35965-5.
Rogers DJ, Brier HB (2010) Pest-damage
relationships for Helicoverpa armigera (Hübner)
(Lepidoptera: Noctuidae) on vegetative soybean.
Crop Prot 29: 39-46.
Ronald BH, Michel A, Eisley JB (2009) Soybean
aphid. Agriculture and natural resources factsheet.
https://aginsects.osu.edu/sites/aginsects/files/imce/E
NT_37_14%20soybean%20aphid.pdf
Schnepf E, Crickmore N, Van Rie J, Lereclus D,
Baum JR, Feitelson J (1998) Bacillus thuringiensis
and its pesticidal crystal proteins. Microbiol Mol
Biol Rev 62: 705-806.
Schnepf HE, Whiteley HR (1981) Cloning and
expression of the Bacillus thuringiensis crystal
protein gene in Escherichia coli. Proc Natl Acad Sci
USA 78: 2893-2897.
Sharma HC (1998) Bionomics, host plant resistance,
and management of the legume pod borer, Maruca
vitrata - a review. Crop Prot 17: 373-386.
Sharma P, Nain V, Lakhanpal S, Kumar PA (2010)
Synergistic activity between Bacillus thuringiensis
Cry1Ab and Cry1Ac toxins against maize stem borer
(Chilo partellus Swinhoe). Lett Appl Microbiol 51:
42-47.
Sheppard AE, Poehlein A, Rosenstiel P, Liesegang
H, Schulenburg H (2013) Complete genome
Lê Thị Thu Hiền et al.
20
sequence of Bacillus thuringiensis strain 407 Cry-.
Genome Announc 1(1): e00158-12.
Shirin B, Katharina EL, Jakob L (2003) Genetically
modified (GM) crops: molecular and regulatory
details. The BATSreport 2003 on genetically
modified crops, version 2: 1192.
Srinivasan R, Su FC, Huang CC, Lin M, Hsu Y
(2009) Integrated pest management in organic
vegetable soybean production. Conference on
International Research on Food Security, Natural
Resource Management and Rural Development.
University of Hamburg.
Stacke RF, Arnemann JA, Rogers J, Stacke RS,
Strahl TT, Perini CR, Dossin MF, Pozebon H,
Cavallin LA, Guedes JVC (2018) Damage
assessment of Helicoverpa armigera (Lepidoptera:
Noctuidae) in soybean reproductive stages. Crop
Prot 112: 10-17.
Strizhov N, Keller M, KonczKálmán Z, Regev A,
Sneh B, Schell J, Koncz C, Zilberstein A (1997)
Mapping of the entomocidal fragment of
Spodopteraspecific Bacillus thuringiensis toxin
CryIC. Mol Gen Genet 53(6): 777.
Taghizadeh R, Talebi A, Fathipour Y, Khalghani J
(2012) Effect of ten soybean cultivars on
development and reproduction of lima bean pod
borer, Etiella zinckenella (Lepidoptera: Pyralidae)
under laboratory conditions. Appl Ent Phytopath 79:
15-28.
Tilmon KJ, Hodgson EW, O’Neal ME, Ragsdale
(2011) Biology of the Soybean Aphid, Aphis
glycines (Hemiptera: Aphididae) in the United States.
J Integr Pest Manag 2(2): A1-A7.
Thompson IP, Lilley AK, Ellis RJ, Bramwell PA,
Bailey MJ (1995) Survival, colonization and
dispersal of a genetically modified Pseudomonas
fluorescens (SBW25) in the phytosphere of field
grown sugar beet. Biotechnology 13: 1493-1497.
Traore F, Dabire-Binso CL, Ba NM, Antoine S,
Pittendrigh BR (2013) Feeding preferences of the
legume pod borer Maruca vitrata (Lepidoptera:
Crambidae) larvae and suitability of different flower
parts for larval development. Int J Trop Insect Sci
33: 107-113.
Trần Thị Cúc Hòa, Nguyễn Trần Hải Bằng, Trần
Thanh Hải, Hồ Thị Huỳnh Như, Hà Minh Luân,
Nguyễn Quang Vinh, Trần Như Ngọc, Võ Thị Kiều
Trang, Đoàn Thị Mến, Phạm Thị Hường, Nguyễn
Đức Cương (2013) Nghiên cứu chọn tạo các giống
đậu tương chuyển gen kháng ruồi đục thân và sâu
đục quả. Hội thảo Quốc gia về Khoa học cây trồng
lần thứ nhất, 441-449.
Trần Thị Ngọc Diệp, Huỳnh Thị Thu Huệ, Kim Thị
Phương Oanh, Lê Thị Thu Hiền, Nông Văn Hải
(2010) Modification of vip3A gene to improve its
expression in plants. Tạp chí Công nghệ sinh học
8(3): 309-316.
Tổng cục thống kê (2018) https://www.gso.gov.vn/
Van Den Berg H, Shepard BM, Nasikin (1998b)
Damage incidence by Etiella zinckenella in soybean
in East Java, Indonesia. J Integr Pest Manag 44(3):
153-159.
Van Den Berg, Shepard BM, Nasikin (1998a)
Response of soybean to attack by stemfly
Melagagromyza sofiae in farmers’ fields in
Indonesia. J Appl Ecol 35: 514-522.
Võ Thị Thứ, Nguyễn Thị Hoa, Raj Bhatnagar (2000)
Tách dòng và biểu hiện gen mã hoá protein diệt ấu
trùng muỗi từ chủng Bacillus thuringiensis
israelensis phân lập ở Việt Nam. Hội nghị sinh học
quốc gia: Những vấn đề nghiên cứu cơ bản trong
sinh học: Báo cáo khoa học, 167-171.
Walker DR, John NA, McPherson RM, Parrott WP,
Boerma HR (2000) Field evaluation of soybean
engineered with a synthetic cry1Ac transgene for
resistance to corn earworm, soybean looper,
velvetbean caterpillar (Lepidoptera: Noctuidae), and
lesser cornstalk borer (Lepidoptera: Pyralidae). J
Econ Entomol 93(3): 613-622.
Wolfersberger (1996) Sitedirected mutations in the
third domain of Bacillus thuringiensis
deltaendotoxin CryIAa affect its ability to increase
the permeability of Bombyx mori midgut brush
border membrane vesicles. Appl Environ Microbiol
62(1): 279-282.
Yamaguchi T, Sahara K, Bando H, Asano (2008)
Discovery of a novel Bacillus thuringiensis Cry8D
protein and the unique toxicity of the Cry8D class
proteins against scarab beetles. J Invertebr Pathol
99(3): 257-262.
Tạp chí Công nghệ Sinh học 18(1): 1-21, 2020
21
RESEARCH AND DEVELOPMENT OF GENETICALLY ENGINEERED
SOYBEAN USING INSECT-RESISTANCE GENES DERIVED FROM Bacillus
thuringiensis
Le Thi Thu Hien1,2, Pham Le Bich Hang1, Nguyen Tuong Van3, Le Thi Minh Thanh3, Dao Thi
Hang4, Nguyen Hai Ha1,2, Ha Hong Hanh1, Huynh Thi Thu Hue1,2, Nguyen Nhat Linh1,
Nguyen Thi Thanh Hoa1, Dinh Thuy Hang5, Nguyen Van Dong6
1Institute of Genome Research, Vietnam Academy of Science and Technology
2Graduate University of Science and Technology, Vietnam Academy of Science and Technology
3Institute of Biotechnology, Vietnam Academy of Science and Technology
4Plant Protection Research Institute, Vietnam Academy of Agricultural Sciences
5Institute of Microbiology and Biotechnology, Vietnam National University, Hanoi
6Agricultural Genetics Institute, Vietnam Academy of Agricultural Sciences
SUMMARY
Soybean (Glycine max) is one of the crops which have high economic value and serve for food,
feed and process of many countries around the world. However, there are many factors affecting the
productivity of soybean, of which insect pests and diseases are the most harmful agents. Therefore,
an application of biotechnology to transfer insect resistance genes derived from a species of bacteria
Bacillus thuringiensis can contribute to increase soybean yield and significantly reducing pesticide
use. Currently, there are many insecticidal proteins detected from B. thuringiensis such as Cry, Cyt
and Vip with a broad and specific spectrum belonged to several orders Lepidoptera, Diptera,
Coleoptera, Homopera, and Nematoda. Numerous studies have been implemented over the world to
transfer genes encoding these proteins in combination or modified forms to increase their toxicity.
Several events of genetically engineered soybean with stacked traits of insect resistance and
herbicide tolerance are commercialized and approved to be cultured in many countries such as
MON 87701 × MON 89788 or DAS-81419-2. In Vietnam, studies on genetically engineered
soybean with insect resistance trait has been carried out. Moreover, the exploitation, screening and
selection of high biodiversity and indigenous B. thuringiensis strains which habors specific genes
capable of killing targeted insects and serve as materials for plant transformation are great scientific
meaning and potential practical application. This will be an important source of materials to create
many soybean cultivars with good ability of insect resistance in order to meet specific needs.
Keywords: Bacillus thuringiensis, genetically engineered crop, soybean, insecticidal protein,
insect-resistance gene
Các file đính kèm theo tài liệu này:
nghien_cuu_va_phat_trien_cac_giong_dau_tuong_bien_doi_gen_su.pdf