Nhân một trường hợp xoắn lách phụ phát hiện bằng siêu âm

Lách phụ nhận máu nuôi từ động mạch lách và trong một số ít trường hợp khi cuống mạch máu dài, có thể xảy ra xoắn. Triệu chứng thay đổi từ đau bụng mơ hồ trong xoắn từng lúc, đến sốt, nôn ói và đau bụng cấp trong trường hợp xoắn hoại tử cấp(7). Xoắn lách phụ rất hiếm khi được chẩn đoán trước mổ, ngay cả với nhiều phương tiện chẩn đoán hình ảnh như siêu âm, CT, MRI(1,4,5,7,10). Bệnh nhân của chúng tôi đã được chẩn đoán xoắn lách phụ ngay ở lần siêu âm đầu tiên và không cần làm thêm xét nghiệm chẩn đoán hình ảnh nào khác. Hình ảnh siêu âm của xoắn lách phụ bao gồm khối echo kém, giới hạn rõ. Trường hợp hoại tử, khối trở nên không đồng nhất với những vùng echo kém giảm hồi âm. Dấu hiệu gián tiếp bao gồm sự tăng kích thước của khối này và echo dày mạc nối xung quanh. Tìm thấy lách vị trí bình thường giúp loại trừ chẩn đoán xoắn lách lạc chỗ (wandering spleen). Trên siêu âm Doppler, dấu hiệu mất tưới máu trong lách phụ là dấu hiệu tương đối đáng tin cậy, mặc dù nó có thể bị ảnh hưởng bởi các yếu tố kỹ thuật như không đủ độ nhạy Doppler(5). Dấu hiệu whirlpool của cuống mạch máu lách phụ rất khó phát hiện trên siêu âm cũng như trên CT, MRI(5,7). Bệnh nhân của chúng tôi có đầy đủ các dấu hiệu siêu âm kể trên với diễn tiến các ổ hoại từ ngày càng rõ mặc dù không ghi nhận được dấu whirlpool của cuống mạch máu. KẾT LUẬN Xoắn lách phụ là một bệnh lý cực kỳ hiếm gặp, có thể đến trong bệnh cảnh đau bụng cấp hoặc bán cấp. Siêu âm là phương tiện chẩn đoán hình ảnh đơn giản và chính xác nếu chúng ta có biết và nghĩ tới.

pdf5 trang | Chia sẻ: hachi492 | Ngày: 27/01/2022 | Lượt xem: 97 | Lượt tải: 0download
Bạn đang xem nội dung tài liệu Nhân một trường hợp xoắn lách phụ phát hiện bằng siêu âm, để tải tài liệu về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 14 * Phụ bản của Số 4 * 2010 Nghiên cứu Y học Hội Nghị Nhi Khoa Mở Rộng BV. Nhi Đồng 2 – Lần XIX - Năm 2010 1 NHÂN MỘT TRƯỜNG HỢP XOẮN LÁCH PHỤ PHÁT HIỆN BẰNG SIÊU ÂM Lê Cẩm Thạch*, Đỗ Thanh Thủy*, Võ Hà Nhật Thúy* TÓM TẮT Mục tiêu: Trình bày đặc điểm siêu âm xoắn lách phụ. Phương pháp: Nghiên cứu lâm sàng, mô tả đặc điểm siêu âm một ca. Kết quả: Bé gái 2 tuổi nhập viện vì đau hông trái. Siêu âm phát hiện một khối dạng đặc echo kém, không tưới máu nằm sát cực dưới lách. Kết quả phẫu thuật và giải phẫu bệnh xác định chẩn đoán. Kết luận: Xoắn lách phụ là một bệnh lý cực kỳ hiếm gặp, có thể đến trong bệnh cảnh đau bụng cấp hoặc bán cấp. Siêu âm là phương tiện chẩn đoán hình ảnh đơn giản và chính xác nếu chúng ta có biết và nghĩ tới. Từ khoá: Xoắn lách phụ, siêu âm, trẻ em. ABSTRACT TORSION OF ACCESSORY SPLEEN IN CHILDREN: CASE REPORT Le Cam Thach, Do Thanh Thuy, Vo Ha Nhat Thuy * Y Hoc TP. Ho Chi Minh * Vol. 14 - Supplement of No 4 - 2010: 154 - 156 Objectives: To present sonographic findings of torsion of an accessory spleen. Methods: Case report. Results: A 2-year-old girl presenting with a left abdominal pain. Ultrasound revealed a hypoechogenic solid and avascular mass below the lower pole of the spleen. Surgical exploration and pathologic examination confirmed the diagnosis. Conclusions: Torsion of an accessory spleen is an extremely rare entity. It may present with acute or subacute abdominal pain. Ultrasound is a simple and exact procedure if we consider it. Key words: Accessory spleen, torsion, ultrasound, children. ĐẶT VẤN ĐỀ Lách phụ là một bất thường bẩm sinh do mô lách lạc chỗ nằm ngoài lách chính(3). Bất thường xảy ra do sự khiếm khuyết quá trình hợp nhất của mầm lách, nằm ở mặt lưng mạc treo dạ dày giữa tụy và dạ dày, vào tuần thứ 5 của thai kỳ(2). Xoắn lách phụ là một bệnh lý cực kỳ hiếm gặp. Theo y văn đến nay chỉ có khoảng 20 trường hợp được báo cáo trên thế giới, hầu hết là trẻ em và người trẻ(1,4,5,7,). Chúng tôi báo cáo một trường hợp xoắn lách phụ ở bé gái 2 tuổi, biểu hiện lâm sàng đau hông trái và được chẩn đoán trước mổ bằng siêu âm. * * Bệnh viện Nhi Đồng 1 Tác giả liên lạc: BS. Lê Cẩm Thạch, ĐT: 0918333969, Email: lecamthach1972@yahoo.com.vn Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 14 * Phụ bản của Số 4 * 2010 Nghiên cứu Y học Hội Nghị Nhi Khoa Mở Rộng BV. Nhi Đồng 2 – Lần XIX - Năm 2010 2 Hình 1: A. Khối echo không đồng nhất giới hạn rõ với những vùng echo kém (mũi tên) nằm sát cực dưới lách. B, C. Lách vị trí cấu trúc bình thường. Ca lâm sàng Bé gái 2 tuổi nhập viện vì đau hông trái 2 ngày, không sốt, tiêu tiểu bình thường. Khám lâm sàng không ghi nhận bất thường. Xét nghiệm cận lâm sàng BC 9500/mL, Hct 29,8%, Hb 9,8g/dL. Siêu âm phát hiện khối dạng đặc echo kém, giới hạn rõ nằm sát cực dưới lách, kích thước 63x32mm. Khối này có cuống mạch máu riêng, khảo sát Doppler có tưới máu ở cuống nhưng không thấy tưới máu trong khối này. Các cơ quan khác (gan, lách, thận, tụy) không ghi nhận bất thường. Không có dịch ổ bụng. Hình ảnh siêu âm gợi ý chẩn đoán xoắn lách phụ. Diễn tiến siêu âm 2 lần tiếp theo, khối echo không đồng nhất với những vùng echo kém tương ứng với những ổ hoại tử (hình 1), mạc nối xung quanh echo dày do phản ứng viêm (hình 2). Bệnh nhi được phẫu thuật sau 2 ngày nhập viện. Gan, lách bình thường. Khối hoại tử tím đen vùng hạ sườn trái, sát cực dưới lách, được bao bọc bởi mạc nối viêm. Khối này xoắn 720o quanh cuống mạch máu riêng. Kết quả giải phẫu bệnh mô lách hoại tử xuất huyết. Hậu phẫu ổn, bệnh nhân được xuất viện sau 3 ngày. Hình 2: Khối có cuống mạch máu riêng (mũi tên). Mạc nối xung quanh echo dày. BÀN LUẬN Tần suất của lách phụ là 10-30% trên tử thiết, 3,1-3,7% trên CT và siêu âm(1), và 16% trên CT có tiêm chất cản quang(6). Lách phụ thường phát hiện tình cờ và có thể tìm thấy ở những vị trí sau theo thứ tự giảm dần(9) (Hình 3). 1- Rốn lách; 2- Cuống mạch máu lách; 3- Sau phúc mạc vùng đuôi tụy; 4- Mạc nối lớn dọc theo bờ cong lớn dạ dày; 5- Mạc treo ruột non và đại tràng; 6- Dây chằng rộng bên trái ở nữ; 7- Túi cùng Douglas; 8- Cạnh tinh hoàn trái. Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 14 * Phụ bản của Số 4 * 2010 Nghiên cứu Y học Hội Nghị Nhi Khoa Mở Rộng BV. Nhi Đồng 2 – Lần XIX - Năm 2010 3 Hình 3: Vị trí giải phẫu của lách phụ: (a) rốn lách; (b) dọc cuống mạch máu lách; (c) dây chằng lách - đại tràng; (d) mạc nối lớn; (e) mạc treo; (f) vùng trước xương cùng; (g) vùng dây chằng rộng bên trái; (h) cạnh tinh hoàn trái. Lách phụ nhận máu nuôi từ động mạch lách và trong một số ít trường hợp khi cuống mạch máu dài, có thể xảy ra xoắn. Triệu chứng thay đổi từ đau bụng mơ hồ trong xoắn từng lúc, đến sốt, nôn ói và đau bụng cấp trong trường hợp xoắn hoại tử cấp(7). Xoắn lách phụ rất hiếm khi được chẩn đoán trước mổ, ngay cả với nhiều phương tiện chẩn đoán hình ảnh như siêu âm, CT, MRI(1,4,5,7,10). Bệnh nhân của chúng tôi đã được chẩn đoán xoắn lách phụ ngay ở lần siêu âm đầu tiên và không cần làm thêm xét nghiệm chẩn đoán hình ảnh nào khác. Hình ảnh siêu âm của xoắn lách phụ bao gồm khối echo kém, giới hạn rõ. Trường hợp hoại tử, khối trở nên không đồng nhất với những vùng echo kém giảm hồi âm. Dấu hiệu gián tiếp bao gồm sự tăng kích thước của khối này và echo dày mạc nối xung quanh. Tìm thấy lách vị trí bình thường giúp loại trừ chẩn đoán xoắn lách lạc chỗ (wandering spleen). Trên siêu âm Doppler, dấu hiệu mất tưới máu trong lách phụ là dấu hiệu tương đối đáng tin cậy, mặc dù nó có thể bị ảnh hưởng bởi các yếu tố kỹ thuật như không đủ độ nhạy Doppler(5). Dấu hiệu whirlpool của cuống mạch máu lách phụ rất khó phát hiện trên siêu âm cũng như trên CT, MRI(5,7). Bệnh nhân của chúng tôi có đầy đủ các dấu hiệu siêu âm kể trên với diễn tiến các ổ hoại từ ngày càng rõ mặc dù không ghi nhận được dấu whirlpool của cuống mạch máu. KẾT LUẬN Xoắn lách phụ là một bệnh lý cực kỳ hiếm gặp, có thể đến trong bệnh cảnh đau bụng cấp hoặc bán cấp. Siêu âm là phương tiện chẩn đoán hình ảnh đơn giản và chính xác nếu chúng ta có biết và nghĩ tới. TÀI LIỆU THAM KHẢO 1. Corsi A, Summa A, Filippo MD, Borgia D, Zompatori M.(2007). Acute abdomen in torsion of accessory spleen. European Journal of Radiology Extra.; 64:15-17. 2. Dodds WJ, Taylor AJ, Erickson SJ, Stewart ET, Lawson TL.(1990). Radiologic imaging of splenic anomalies. AJR Am J Roentgenol.;155:805-810. 3. Freeman JL, Jafri SZ, Roberts JL, Mezwa DG, Shirkhoda A (1993). CT of congenital and acquired abnormalities of the spleen. Radiographics.;13:597-610. 4. Jans R, Vanslembrouck R, Van Hoe L, Sockx L, Demedts I, Baert AL (1997). Torsion of accessory spleen in an adult patient: imaging findings at CT, MRI and angiography. J Belge Radiol.; 80:229-230. 5. Mendi R, Abramson LP, Pillai SB, Rigsby CK (2006). Evolution of the CT imaging findings of accessory spleen infarction. Pediatr Radiol.; 36:1319-1322. 6. Mortele KJ, Mortele B, Silverman SG.(2004). CT features of the accessory spleen. AJR Am J Roentgenol.; 183:1653-1657. 7. Perez Fontan FJ, Soler R, Santos M, Facio I (2001). Accessory spleen torsion: US, CT and MR findings. Eur Radiol.; 11:509- 512. 8. Ronit G, Oded Z, Scott F, Hiller N. Torsion of an accessory spleen. Abdom Imaging. 2006. 9. Rudowski WJ.(1985). Accessory spleens: clinical significance with particular reference to the recurrence of idiopathic thrombocytopenic purpura. World J Surg.;9:422-430. 10. Valls C, Mones L, Guma A, Lopez-Calonge E (1998). Torsion of a wandering accessory spleen: CT findings. Abdom Imaging.;23:194-195. Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 14 * Phụ bản của Số 4 * 2010 Nghiên cứu Y học Hội Nghị Nhi Khoa Mở Rộng BV. Nhi Đồng 2 – Lần XIX - Năm 2010 4 Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 14 * Phụ bản của Số 4 * 2010 Nghiên cứu Y học Hội Nghị Nhi Khoa Mở Rộng BV. Nhi Đồng 2 – Lần XIX - Năm 2010 5

Các file đính kèm theo tài liệu này:

  • pdfnhan_mot_truong_hop_xoan_lach_phu_phat_hien_bang_sieu_am.pdf
Tài liệu liên quan