Các thửa ruộng ở vị trí khác nhau, dù của cùng
một hộ, thì khi tổ chức hợp tác, liên kết, sẽ gần
như tương đương với trường hợp các thửa đất đó
là thuộc nhiều hộ khác nhau, bởi các phương án
hợp tác, liên kết phụ thuộc rất lớn vào vị trí của
từng thửa đất. Nói cách khác, để có được một
diện tích đất cho sản xuất tập trung trong điều
kiện đất đai manh mún đòi hỏi một chi phí giao
dịch lớn hơn nhiều do phải thỏa thuận với một
số lượng hộ lớn hơn nhiều. Tuy nhiên, hai rào
cản chính đối với việc cải thiện manh mún đất
đai là: (i) Sở hữu nhiều mảnh ruộng luôn có sức
hấp dẫn với các HGĐ về tính linh hoạt trong sử
dụng và chuyển đổi mục đích sử dụng và (ii)
Dồn điền đổi thửa không thể được thực hiện chỉ
nhờ các nỗ lực của các HGĐ riêng lẻ, mà phải là
một chương trình được thực hiện bài bản,
khoa học.
Từ nhận định như trên về xu hướng phân
bố đất nông nghiệp, các gợi ý chính sách quan
trọng cần được quan tâm nhằm nâng cao hiệu
quả kinh tế sử dụng đất cho hộ, theo chúng
tôi, là:
Cần hỗ trợ đầu tư nghiên cứu ứng dụng
khoa học công nghệ đối với các nhà khoa học
trong nông nghiệp phù hợp với từng quy mô đất
đai. Đồng thời, cần có cơ chế liên kết giữa các tổ
chức, nhà khoa học và nông dân. Bên cạnh đó,
khuyến khích, hỗ trợ, tạo điều kiện thuận lợi
cho các phương thức tổ chức sản xuất phát huy
được lợi thế của quy mô lớn nhưng vẫn duy trì
được quyền sử dụng đất của hộ gia đình: hợp
tác, liên kết, doanh nghiệp thuê đất có thời hạn
của nông dân, hỗ trợ, hấp dẫn doanh nghiệp đầu
tư vào khâu chế biến, tiêu thụ, làm đầu đàn
trong chuỗi giá trị sản phẩm, Các chính sách
đất đai cần linh động, tôn trọng điều kiện của
từng địa phương trong hoạch định và thực thi
chính sách
8 trang |
Chia sẻ: hachi492 | Lượt xem: 5 | Lượt tải: 0
Bạn đang xem nội dung tài liệu Phân bố đất đai và hiệu quả sản xuất nông nghiệp hộ gia đình tại tỉnh Bắc Giang, để tải tài liệu về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
Vietnam J. Agri. Sci. 2020, Vol. 18, No. 9: 725-732 Tạp chí Khoa học Nông nghiệp Việt Nam 2020, 18(9): 725-732
www.vnua.edu.vn
725
PHÂN BỐ ĐẤT ĐAI VÀ HIỆU QUẢ SẢN XUẤT NÔNG NGHIỆP HỘ GIA ĐÌNH
TẠI TỈNH BẮC GIANG
Nguyễn Thị Dung1,2*, Nguyễn Quang Hà1, Mai Lan Phương2
1Trường Đại học Nông Lâm Bắc Giang
2Khoa Kinh tế và Phát triển nông thôn, Học viện Nông nghiệp Việt Nam
*Tác giả liên hệ: nguyenthidungktkt81@gmail.com
Ngày nhận bài: 12.06.2020 Ngày chấp nhận đăng: 15.07.2020
TÓM TẮT
Mục tiêu của bài báo là nghiên cứu thực trạng phân bố đất nông nghiệp hộ gia đình, khảo sát mối quan hệ giữa
hiệu quả sử dụng đất với quy mô và độ manh mún đất nông nghiệp của hộ gia đình, từ đó, đưa ra một số dự báo về
ảnh hưởng của động cơ kinh tế hộ gia đình đến chiều hướng phân bố đất nông nghiệp trong tương lai và một số gợi
ý chính sách. Bài báo sử dụng bộ số liệu điều tra của 399 hộ gia đình thuộc ba huyện đại diện của tỉnh Bắc Giang
năm 2018 và phương pháp thống kê mô tả, mô hình phân tích đường giới hạn ngẫu nhiên trong phân tích. Kết quả
cho thấy trong điều kiện sản xuất hiện tại, quy mô và độ manh mún đất nông nghiệp chưa phải là rào cản đối với
hiệu quả kinh tế của sản xuất nông nghiệp hộ gia đình. Kết quả nghiên cứu là hữu ích trong phân tích động cơ kinh
tế của hộ gia đình, một trong các nhân tố quan trọng ảnh hưởng đến quá trình phân bố lại đất nông nghiệp hộ
gia đình.
Từ khóa: Hiệu quả sản xuất nông nghiệp, phân bố đất đai, hộ gia đình.
Land Distribution and Agricultural Production Efficiency of households
in Bac Giang Province
ABSTRACT
Research objective of this article is the current status of household agricultural land distribution and the
relationship between land size, land fragmentation and the household’s economic efficiency, since then, the study
gives some forecasts on the impact of the household economic incentives to the direction of the agricultural land
distribution in the future and some policy suggestions. The article employs a set of data of 399 households from three
representative districts of Bac Giang province in 2018 and descriptive statics method and stochastic frontier analysis
in analysis. The resutle shows that the main finding of the study is that, at the current situation of the production
arrangement, both land size and land fragmentation were not barries to the household economic efficiency. The
outcome is meaningful for analyzing the household’s economic incentives, which is one of the determinants of the
household’s agricultural land redistribution process.
Keywords: Agricultural production efficiency, land distribution, households.
1. ĐẶT VẤN ĐỀ
Mối quan hệ giữa hiệu quả và quy mô sử
dụng đất là vấn đề mang tính kinh điển trong
kinh tế nông nghiệp. Điều này được đưa ra bởi
Sen (1962) và nhiều nhà nghiên cứu. Tuy nhiên,
câu trả lời câu hỏi trên vẫn luôn mang tính thời
sự. Ở Việt Nam, sau hơn hai thập kỷ đạt được
thành quả diệu kỳ trong phát triển nông nghiệp
dựa trên tổ chức sản xuất hộ gia đình (HGĐ), với
quy mô đất đai nhỏ, manh mún - sản phẩm của
phân chia công bằng đất đai dùng chung của các
hợp tác xã cho HGĐ, thì những bất lợi, hạn chế
của quy mô đất đai nhỏ và manh mún xuất hiện
ngày càng nhiều và được coi như một rào cản
chính đối với phát triển sản xuất nông nghiệp.
Phân bố đất đai và hiệu quả sản xuất nông nghiệp hộ gia đình tại tỉnh Bắc Giang
726
Mặc dù những bất cập của nông nghiệp
HGĐ quy mô nhỏ là khá rõ ràng, cùng với nó là
quá trình dịch chuyển lao động ra khỏi khu vực
nông nghiệp diễn ra mạnh mẽ, nhưng số liệu
thống kê đất nông nghiệp HGD chưa ghi nhận
hiện tượng tích tụ đất nông nghiệp, nhất là các
tích tụ diễn ra một cách tự nhiên, do những
động lực nội tại về lợi thế nhờ quy mô (Nguyễn
Quang Hà, 2017).
Giải thích cho “nghịch lý” trên cần có một
đánh giá toàn diện về các nhân tố ảnh hưởng về
kinh tế, chính trị và tâm lý xã hội đến phân bố
đất nông nghiệp. Một giả thuyết kinh điển là,
nếu quy mô đất đai lớn mang lại hiệu quả kinh
tế cao hơn, và lợi thế trong cạnh tranh, những
rào cản về chuyển quyền sử dụng đất nông
nghiệp không lớn, thì tích tụ đất đai sẽ được
diễn ra một cách tự nhiên qua thị trường quyền
sử dụng.
Để góp phần kiểm định giả thuyết đó,
nghiên cứu tiến hành khảo sát mối quan hệ
giữa hiệu quả kinh tế HGĐ với quy mô và độ
manh mún đất nông nghiệp tại tỉnh Bắc Giang,
tỉnh có sản lượng nông nghiệp đứng đầu khu
vực Trung du và miền núi phía Bắc, và các quá
trình chuyển dịch lao động ra khỏi nông nghiệp
đang diễn ra mạnh mẽ. Nghiên cứu hai nội
dung chính: (i) Các phân tích trên cơ sở thống kê
mô tả về phân bố đất đai, hiệu quả kinh tế sản
xuất nông nghiệp của HGĐ, (ii) Sử dụng mô
hình định lượng khảo sát mối quan hệ giữa hiệu
quả sử dụng đất với quy mô và manh mún đất
nông nghiệp của HGĐ. Từ đó, đưa ra một số dự
báo về ảnh hưởng của động cơ kinh tế HGĐ đến
chiều hướng phân bố đất nông nghiệp trong
tương lai và một số gợi ý chính sách.
2. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1. Thu thập số liệu
Số liệu thứ cấp sử dụng là các số liệu được
công bố của Bắc Giang, Bộ Tài nguyên Môi
trường và Tổng cục thống kê, về thu từ nông
nghiệp và đất đai các năm 2014, 2016 và 2018.
Số liệu sơ cấp là số liệu điều tra năm 2018,
nghiên cứu sử dụng phương pháp chọn mẫu
ngẫu nhiên phân tầng tỷ lệ: Chọn 3 huyện đại
diện cho các vùng trong tỉnh, mỗi huyện chọn 3
xã, mỗi xã chọn ngẫu nhiên các hộ gia đình sản
xuất nông nghiệp. Ba huyện được lựa chọn là:
Lục Ngạn - huyện đại diện cho vùng miền núi
có núi cao với diện tích đất trồng cây lâu năm
lớn nhất, Việt Yên đại diện cho vùng trung du
có diện tích đất nuôi trồng thủy sản lớn nhất
trong các huyện của vùng và đang diễn ra quá
trình chuyển dịch cơ cấu nông nghiệp cũng như
công nghiệp hóa, đô thị hóa mạnh mẽ và Lạng
Giang đại diện cho vùng núi có núi thấp với diện
tích đất trồng cây hàng năm lớn nhất. Trong
tổng số hộ trong ba huyện: huyện Lục Ngạn có
44.884 hộ chiếm 51,29% tổng số hộ ba huyện,
26.231 hộ ở huyện Lạng Giang chiếm 29,97%
tổng số hộ ba huyện và huyện Việt Yên có
16.400 hộ chiếm 18,74% tổng số hộ ba huyện
(Cục Thống kê Bắc Giang, 2017). Dung lượng
mẫu được lấy theo tỷ lệ số hộ trong 3 huyện, với
tổng dung lượng mẫu là 399 hộ.
2.2. Phân tích và xử lý số liệu
Nghiên cứu sử dụng phương pháp thống kê
mô tả trong phân tích phân bố đất đai và hiệu
quả kinh tế hộ gia đình. Bên cạnh đó, mô hình
Phân tích đường giới hạn ngẫu nhiên
(Stochastic Frontier Analysis - SFA) được ứng
dụng dầu tiên bởi Aigner & cs. (1977), và
Meeusen and van den Broeck (1977) nhằm khảo
sát các nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả sử
dụng đầu vào, trong đó hai biến mục tiêu là quy
mô và độ manh mún đất nông nghiệp HGĐ.
Dạng tổng quát của SFA trong ước lượng hiệu
quả kỹ thuật là:
i i i
v u
i i i
y F(x , )e F(x , )e (1)
Trong đó, yi là sản lượng đầu ra của hộ i,
F(.) là hàm sản xuất, xi là các đầu vào và các
nhân tố ảnh hưởng khác, β là các tham số thể
hiện công nghệ sản xuất (cần ước lượng). Sai số
(thể hiện chênh lệch giữa mức thực tế của hộ và
mức tiềm năng đường giới hạn) i được cấu
thành bởi hai bộ phận: ui (không âm) thể hiện
tính phi hiệu quả của sản xuất và vi mô tả các
sai số đo lường và các ảnh hưởng mang tính
Nguyễn Thị Dung
*
, Nguyễn Quang Hà, Mai Lan Phương
727
ngẫu nhiên khác đến sản lượng của hộ1. Từ kết
quả ước lượng sai số εi, hiệu quả kỹ thuật của
mỗi hộ (TEi) được tính bởi:
i i
E u |
i
TE e (2)
Với E(ui) là kỳ vọng (expected value) của ui.
TEi là tỷ lệ giữa sản lượng thực tế của hộ i so với
sản lượng cực đại có thể đạt được từ cùng một
lượng đầu vào tương ứng với cùng một công
nghệ sản xuất. Như công thức (2) đã chỉ ra, TEi
có giá trị trong khoảng (0,1) và tỷ lệ nghịch với
giá trị của ui, tức là, các yếu tố làm tăng ui sẽ là
yếu tố làm giảm hiệu quả kỹ thuật, và ngược lại.
Để ước lượng được các tham số phương
trình (1), giả thiết về dạng cụ thể của hàm sản
xuất (F), dạng và tính chất của yếu tố (ngẫu
nhiên) hiệu quả ui. Các hàm sản xuất thường
được sử dụng: hàm Cobb-Douglas, Translog. Đối
với ui, các giả thiết về phân bố xác suất là phân
bố bán chuẩn, phân phối số mũ, phân phối cắt
cụt. Nghiên cứu sử dụng dạng phân bố xác suất
của ui là dạng phân bố cắt cụt, bán chuẩn, được
sử dụng đầu tiên bởi Battese và Coelli (1995).
Trong đó, phân bố của ui nhận được từ cắt (tại
zero) của một phân phối chuẩn, kỳ vọng ziδ và
phương sai σu
2. Dạng của ui được giả thiết bởi:
ui = ziδ + i (3)
Với: zi là các nhân tố ảnh hưởng đến hiệu
quả kỹ thuật của hộ I;
δ là các tham số chưa biết cần ước lượng;
i có phân bố là phần còn lại của phân bố
chuẩn, kỳ vọng zero, phương sai σu
2, sau khi cắt
tại điểm – ziδ (do vậy luôn có i ≥ - ziδ).
Phương pháp ước lượng các tham số của mô
hình là phương pháp hợp lý tối đa. Hiện nay,
các phần mềm FRONTIER hay STATA được sử
dụng để ước lượng, điều này hạn chế về mặt
thống kê các phát sinh khi ước lượng riêng rẽ
từng hàm số.
2.3. Lựa chọn và xác định mô hình phân tích
Các biến được lựa chọn đưa vào mô hình
Phân tích đường giới hạn ngẫu nhiên (SFA) gồm:
1 Về mặt thống kế, vi luôn được giả định là đại lượng
ngẫu nhiên độc lập, thuần nhất và phân phối chuẩn với
kỳ vọng zero và phương sai σ2v.
- Hàm sản xuất: hàm sản xuất được lựa chọn
là hàm Cobb-Douglas, biến phụ thuộc là thu từ
nông nghiệp (giá trị sản xuất nông nghiệp - GO,
gồm thu từ trồng trọt, chăn nuôi, thủy sản, của
HGĐ trong năm (2018), biến độc lập gồm:
Các đầu vào của sản xuất nông nghiệp
HGĐ, bao gồm đất đai, lao động, các đầu vào
chính: giống, thức ăn chăn nuôi, phân bón và
các đầu vào khác (chủ yếu là công cụ lao động,
máy móc thiết bị). Trừ đất đai được tính theo
đơn vị diện tích, tất cả các biến đầu ra và đầu
vào của sản xuất nông nghiệp HGĐ đều tính
bằng giá trị. Ngoài các biến đầu vào nói trên, do
độ tin cậy của số liệu về chi phí lao động cho các
hoạt động sản xuất nông nghiệp của hộ đối với
bộ phận lao động gia đình là rất khó chính xác,
nên chúng tôi sử dụng thêm biến “lao động nông
nghiệp của hộ” tính bằng số người lao động như
là một biến điều kiện trong hàm sản xuất để cải
thiện độ phù hợp.
- Hàm hiệu quả kỹ thuật: Với mục tiêu là
khảo sát mối quan hệ giữa hiệu quả sử dụng đất
với quy mô và độ manh mún đất nông nghiệp
HGĐ, nên hai biến trung tâm trong hàm hiệu quả
kỹ thuật là tổng diện tích canh tác của HGĐ và số
thửa đất. Ngoài ra, một nhân tố khác được giả
thiết có thể có ảnh hưởng đến hiệu quả sử dụng
đất nông nghiệp của HGĐ là tuổi của chủ hộ. Các
biến sử dụng được mô tả ở bảng 1.
Hàm sản xuất Cobb-Douglass lựa chọn, mô
hình đường giới hạn ngẫu nhiên chi tiết:
i 0 j ij ldgd i i
j
ln Y ln X Ldgdinh v u
Trong đó: Yi là đầu ra của hộ thứ i (tổng thu
từ nông nghiệp của hộ i, Xij là các đầu vào của
hộ i, lần lượt là Dat, Ldong, Dvaochinh,
Dvaokhac và: ui = 0 + 1Tuoii + 2Dtichi +
3Sothuai + i
3. KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN
3.1. Tổng quan về phân bố và hiệu quả sử
dụng đất nông nghiệp HGĐ tỉnh Bắc Giang
3.1.1. Phân bố đất nông nghiệp HGĐ tỉnh
Bắc Giang
Quy mô diện tích và độ manh mún đất nông
nghiệp của các HGĐ thuộc mẫu điều tra được
Phân bố đất đai và hiệu quả sản xuất nông nghiệp hộ gia đình tại tỉnh Bắc Giang
728
trình bày ở Bảng 2 cho thấy, tuy Bắc Giang
thuộc vùng Trung du, diện tích đất nông nghiệp
bình quân hộ chỉ 3.269,87m2 (0,33 ha/hộ), thấp
hơn đáng kể so với mức bình quân vùng Đông
Bắc - xấp xỉ 0,49 ha/hộ (Tổng cục Thống kê,
2016) và cả nước - khoảng 0,46 ha/hộ (Bộ Tài
nguyên và Môi trường, 2018).
Điểm thứ hai trong phân bố đất đai của
HGĐ là phân bố không đều và manh mún, đây
là hiện tượng phổ biến trong phân bố đất nông
nghiệp của các tỉnh phía Bắc. Hai phần ba số
HGĐ thuộc mẫu điều tra có diện tích nhỏ hơn
mức bình quân Mặc dù, manh mún đất đai đã
được cải thiện sau nhiều năm thực hiện dồn
điền đổi thửa, nhưng số thửa đất nông nghiệp
bình quân của tỉnh là 4,9 thửa/hộ, với diện tích
bình quân thửa 665,31m2, hai chỉ tiêu này đều
cao hơn nhiều so với mức bình quân cả nước:
2,83 thửa/hộ và 1.731 m2/thửa (Bộ Tài nguyên
và Môi trường, 2018). Như vậy, khi không tính
đến đất lâm nghiệp, thì quy mô đất nông
nghiệp HGĐ của Bắc Giang thậm chí còn nhỏ
hơn, mức độ nghiêm trọng hơn nhiều vùng và
toàn quốc.
Bảng 1. Mô tả các biến sử dụng trong mô hình
Tên biến Cách tính Ký hiệu
Hàm sản xuất
Biến phụ thuộc
Thu nông nghiệp Tổng thu của HGĐ từ nông nghiệp (trồng trọt, chăn nuôi, và thủy sản) năm 2018 (nghìn đồng) Tthu
Biến độc lập
Đất đai Diện tích đất nông nghiệp của HGĐ sử dụng trong năm (m2) Dat
Lao động Chi phí lao động thuê ngoài và ước tính chi phí lao động HGĐ cho sản xuất nông nghiệp (nghìn đồng) Ldong
Đầu vào chính Chi phân bón, giống, thức ăn chăn nuôi, thủy sản của HGĐ trong năm (nghìn đồng) Dvaochinh
Đầu vào khác Chi công cụ, thuê máy móc và chii khác của HGĐ cho sản xuất nông nghiệp trong năm (nghìn đồng) Dvaokhac
Lao động gia đình Số lao động nông nghiệp của hộ (người) Ldgdinh
Hàm hiệu quả
Tuổi Tuổi của chủ HGĐ Tuoi
Diện tích Tổng diện tích đất nông nghiệp của HGĐ (sào) Dtich
Số thửa Số thửa đất nông nghiệp HGĐ sử dụng trong năm Sothua
Bảng 2. Cơ cấu đất nông nghiệp HGĐ theo nhóm diện tích
Nhóm diện tích (m
2
)
Tổng Lục Ngạn Việt Yên Lạng Giang
Số hộ (hộ) Tỷ lệ (%) Số hộ (hộ) Tỷ lệ (%) Số hộ (hộ) Tỷ lệ (%) Số hộ (hộ) Tỷ lệ (%)
Dưới 1.000m
2
32 8,02 16 7,84 11 14,67 5 4,17
Từ 1.000-2.000m
2
82 20,55 40 19,61 16 21,33 26 21,67
Từ 2.000m
2
đến dưới 3.000m
2
141 35,34 50 24,51 23 30,67 68 56,67
Từ 3.000m
2
đến dưới 4.000m
2
60 15,04 27 13,24 12 16,00 21 17,50
Từ 4.000-5.000m
2
29 7,27 21 10,29 8 10,67 0 0,00
Từ 5.000-6.000 m
2
15 3,76 14 6,86 1 1,33 0 0,00
Từ 6.000-7.000 m
2
7 1,75 6 2,94 1 1,33 0 0,00
Trên 7.000m
2
33 8,27 30 14,71 3 4,00 0 0,00
Tổng 399 100,00 204 100,00 75 100,00 120 100,00
Diện tích bình quân hộ 3.269,87 3.986,96 2.775,57 2.359,75
Số thửa bình quân hộ 4,9 2,1 5,36 9,44
Diện tích bình quân thửa (*) 665,31 1.909,25 517,83 249,93
Ghi chú: (*): Diện tích bình quân thửa được tính bằng diện tích bình quân thửa của các HGĐ, khác với cách tính
lấy diện tích bình quân hộ chia số thửa bình quân hộ.
Nguyễn Thị Dung
*
, Nguyễn Quang Hà, Mai Lan Phương
729
Một đặc điểm khác cho thấy sự khác biệt lớn
về phân bố đất đai giữa các huyện đại diện cho
các vùng trong tỉnh. Lục Ngạn, huyện miền núi,
điển hình cho nông nghiệp chuyên canh - trồng
cây ăn quả của tỉnh, có diện tích đất nông nghiệp
HGĐ lớn gấp 1,7 lần và diện tích bình quân
mảnh lớn gấp 8 lần so với các HGĐ ở huyện nông
nghiệp đa canh, vùng thấp của tỉnh là Lạng
Giang. Việt Yên, huyện điển hình về công nghiệp
hóa với lợi thế về vị trí, giao thông thì quy mô đất
nông nghiệp, độ manh mún ứng với trung bình
cộng của Lục Ngạn và Lạng Giang. Tính đa dạng
về phân bố đất nông nghiệp HGĐ cho thấy, ngay
trong phạm vi một tỉnh, thì sự khác biệt về phân
bố đất đai là rất lớn.
3.1.2. Hiệu quả sử dụng đất nông
nghiệp HGĐ
Hiệu quả kinh tế sử dụng đất nông nghiệp
HGĐ ở bảng 3 cho thấy, xét theo tiêu chí bình
quân HGĐ theo quy mô đất đai, giá trị sản xuất
nông nghiệp (gồm: trồng trọt, chăn nuôi và thủy
sản) bình quân HGĐ năm 2018 đạt trên 100
triệu đồng/năm. Mức giá trị này cao hơn so với
HGĐ nông thôn toàn quốc: xấp xỉ 77,5 triệu
đồng và cao hơn so với mức bình quân của khu
vực trung du và miền núi phía bắc: 46,6 triệu
đồng (Tổng cục Thống kê, 2019). Mức giá trị sản
xuất nông nghiệp HGĐ có khoảng dao động khá
lớn theo nhóm diện tích: từ 45 triệu đồng/hộ đối
với nhóm hộ có diện tích dưới 1.000m2 đến 295
triệu đồng/hộ/năm đối với nhóm hộ có diện tích
trên 7.000m2. Các nhóm hộ có diện tích nhỏ có
giá trị gia tăng thấp hơn. Tổng giá trị sản xuất
và giá trị gia tăng của HGĐ từ nông nghiệp,
tăng lên theo diện tích đất hộ là hoàn toàn dễ
hiểu, mối quan hệ giữa quy mô và hiệu quả sử
dụng đất, có thể được phân tích khái quát: Giá
trị sản xuất và giá trị gia tăng trên một đơn vị
diện tích; Giá trị sản xuất và giá trị gia tăng
trên một đồng chi phí trung gian.
Có thể thấy, các chỉ tiêu tuân theo xu
hướng: hiệu quả đạt mức cao ở nhóm hộ có diện
tích rất nhỏ (dưới 2.000m2), giảm dần theo
nhóm quy mô trung bình (3.000-4.000m2) sau đó
tăng lên theo quy mô sử dụng đất. Ở hai nhóm
quy mô sử dụng đất lớn nhất (trên 6.000 m2/hộ,
hiệu quả sử dụng đất đạt ở mức cao hơn trung
bình. Nếu mô hình sản xuất nông nghiệp (mô
hình canh tác, cơ cấu trồng trọt, chăn nuôi, thủy
sản) là đồng nhất, thì giá trị sản xuất trên một
đơn vị diện tích giảm dần theo quy mô là do mức
độ thâm canh sử dụng đất của HGĐ có ít đất đai
là cao hơn, còn hiện tượng hiệu quả sử dụng đất
của HGĐ tăng theo quy mô đất đai là do ảnh
hưởng của đất đai đến khả năng lựa chọn mô
hình canh tác, cơ cấu nông nghiệp HGĐ.
Bảng 3. Hiệu quả kinh tế của sản xuất nông nghiệp HGĐ theo các nhóm quy mô
(nghìn đồng/năm)
Nhóm diện tích
Giá trị sản xuất (GO) Chi phí trung gian (IC) Giá trị tăng thêm (VA)
GO/IC VA/IC
BQ hộ BQ 1ha BQ hộ BQ 1ha BQ hộ BQ 1ha
Dưới 1.000m
2
44.978,72 635.601,24 15.944,19 225.309,78 410.291,46 29.034,53 2,82 1,82
Từ 1.000-2.000m
2
70.664,27 458.909,76 24.275,71 157.651,94 301.257,82 46.388,56 2,91 1,91
Từ 2.000m
2
đến dưới 3.000m
2
73.108,60 297.638,20 32.205,81 131.115,62 166.522,58 40.902,79 2,27 1,27
Từ 3.000m
2
đến dưới 4.000 m
2
85.278,25 250.023,21 35.082,88 102.857,82 147.165,39 50.195,37 2,43 1,43
Từ 4.000-5.000m
2
137.480,69 316.340,96 43.451,28 99.980,72 216.360,24 94.029,41 3,16 2,16
Từ 5.000-6.000m
2
196.690,00 355.245,57 51.842,67 93.634,03 261.611,54 144.847,33 3,79 2,79
Từ 6.000-7.000m
2
214.000,00 336.894,19 61.607,71 96.987,29 239.906,89 152.392,29 3,47 2,47
Trên 7.000m
2
294.640,91 276.829,06 97.957,55 92.035,74 184.793,31 196.683,36 3,01 2,01
Bình quân 102.298,84 312.852,76 37.214,02 113.808,81 65.084,82 199.043,95 2,75 1,75
Ghi chú: Số liệu điều tra (2018).
Phân bố đất đai và hiệu quả sản xuất nông nghiệp hộ gia đình tại tỉnh Bắc Giang
730
Bảng 4. Thống kê mô tả các biến trong mô hình SFA
Biến Trung bình Độ lệch chuẩn Cực tiểu Cực đại
Tthu 102.299 114.216 2.030 940.000
Dat 3319 3.130 360 45.000
Ldong 9.590 5.460 1.100 65.000
Dvaochinh 19.957 21.367 720 202.000
Đvaokhac 7.604 9.554 749 76.660
Ldgdinh 2,38 0,96 1 6
Tuoi 52 12 28 86
Dtich 9,22 8,70 1 125
Sothua 4,9 4,0 1 17
Bảng 5. Kết quả ước lượng mô hình SFA
Tên biến Hệ số ước lượng Sai số chuẩn Z Giá trị P
Hàm sản xuất, biến phụ thuộc: LnY
Hằng số 0,551 31,685 0,02 0,986
LnDat* 0,129 0,067 1,92 0,055
LnLdong*** 0,494 0,068 7,23 0,000
LnDvaochinh*** 0,411 0,045 9,12 0,000
LnĐvaokhac*** 0,249 0,043 5,72 0,000
Ldgdinh*** 0,112 0,024 4,71 0,000
Hàm hiệu quả, Biến phụ thuộc: E(U)
Hằng số -0.695 31,682 0,02 0.982
Tuoi 0,001 0,002 0,5 0,619
Dtich** 0,009 0,004 2,07 0,039
Sothua*** 0,084 0,007 12,46 0,000
Ghi chú: Ln: Logarit tự nhiên (cơ số e); *, *, ***: ước lượng có ý nghĩa thống kê ở mức 0,1; 0,05; 0,01.
Các phân tích chỉ dựa trên thống kê mô tả
nói trên chưa đủ để đưa ra kết luận rõ ràng về
mối quan hệ giữa phân bố đất đai và hiệu quả
sản xuất nông nghiệp. Vì vậy, chúng tôi thực
hiện dựa trên phân tích định lượng thông qua
mô hình phân tích đường giới hạn ngẫu nhiên
để có cái nhìn toàn diện hơn.
3.2. Ảnh hưởng quy mô, manh mún đất
nông nghiệp HGĐ đến hiệu quả sản xuất
nông nghiệp
Thống kê mô tả về các biến trong mô hình
của mẫu điều tra được trình bày ở bảng 4.
Để kiểm định về tính phù hợp của mô hình,
bốn giả thiết sau đây đã được thực hiện:
(a) Dạng hàm sản xuất không phù hợp: H0:
β1 = β2 = β3 = β4 = β5 = 0
(b) Không tồn tại các nhân tố ảnh hưởng
đến hiệu quả kỹ thuật: H0: γ = δ0 = δ1 = δ2 = 0.
(c) Các ảnh hưởng đến hiệu quả kỹ thuật
không mang tính ngẫu nhiên: H0: γ = 0
(d) Các biến được chọn trong không ảnh
hưởng đến hiệu quả kỹ thuật: H0: δ1 = δ2 = 0.
Trong đó: γ = σu
2/σv
2 + σu
2), với σv
2 và σu
2 lần
lượt là phương sai của u và v;
Giả thiết (a) được kiểm định bằng kiểm định
Wald (sử dụng thống kê ꭓ2), ba giả thiết còn lại
được kiểm định bằng kiểm định Log likelihood
(sử dụng thống kê LR). Kết quả kiểm định cho
Nguyễn Thị Dung
*
, Nguyễn Quang Hà, Mai Lan Phương
731
thấy các giả thiết đều bị bác bỏ, việc lựa chọn mô
hình là phù hợp với số liệu sử dụng2.
Kết quả ước lượng hàm sản xuất cho thấy,
tất cả các yếu tố đầu vào đều có ảnh hưởng
thuận chiều với kết quả đầu ra là thu từ nông
nghiệp HGĐ, trong đó, hai yếu tố ảnh hưởng lớn
nhất là lao động và đầu vào chính (trong điều
kiện các yếu tố khác không đổi, tăng 1% đầu tư
cho lao động dẫn tới tăng tổng thu lên 0,49%,
tăng đầu tư cho các đầu vào chính như phân
bón, thức ăn chăn nuôi lên 1% sẽ làm tăng tổng
thu lên 0,41%. Ảnh hưởng của đất đai, các đầu
vào khác đến thu HGĐ tương ứng là 0,13% và
0,25%. Kết quả ước lượng ảnh hưởng của các
đầu vào đến thu từ nông nghiệp HGĐ đều phù
hợp với kỳ vọng.
Về hiệu quả sử dụng các yếu tố đầu vào, kết
quả ước lượng cho thấy cả hai yếu tố manh mún
đất đai và quy mô đất nông nghiệp của HGĐ
đều có ảnh hưởng thuận chiều đến tính phi hiệu
quả. Như vậy, với điều kiện sản xuất nông
nghiệp hiện tại, thì manh mún đất đai (được đo
bởi số thửa đất do HGĐ canh tác) gây ra nhiều
tác động tiêu cực hơn là tác động tích cực. Kết
quả này phù hợp với hầu hết các nghiên cứu
định lượng về hiệu quả sản xuất nông nghiệp.
Các lãng phí về sử dụng đầu vào, cả về lao động
lẫn các đầu vào khác của HGĐ có đất nông
nghiệp quá manh mún cao đáng kể. Bên cạnh
đó, kết quả ước lượng cho thấy các HGĐ có tổng
diện tích lớn có hiệu quả sử dụng đầu vào thấp
hơn. Tuy nhiên, quy mô nhỏ chưa phải là yếu tố
bất lợi trong sản xuất nông nghiệp, hiện tượng
này hoàn toàn có thể giải thích bởi đặc thù sản
xuất trồng trọt, chăn nuôi, thủy sản quy mô
HGĐ: các HGĐ có diện tích đất nông nghiệp nhỏ
sẽ kiểm soát việc sử dụng đầu vào chặt chẽ và
tiết kiệm hơn, thậm chí là lựa chọn các loại hình
sản xuất (cây trồng, vật nuôi) phù hợp (đặc biệt
về phương diện hiệu quả sử dụng đất) hơn.
Thêm vào đó, khả năng thích nghi với quy mô
nhỏ của HGĐ với lượng đất đai hiện có của họ
trong lựa chọn cách thức sản xuất nông nghiệp
2 Do hạn chế về khuôn khổ của bài báo, chúng
tôi không trình bày chi tiết phương pháp và kết quả
ước lượng
cũng là một giả thiết thuyết phục. Các mô hình
đa dạng của sản xuất nông nghiệp, (rau, màu vụ
đông, trồng nấm, ) với mức độ thâm canh cao
hơn, ứng dụng các tiến bộ mới ở Lạng Giang,
huyện có quy mô đất đai thấp nhất trong ba
huyện điều tra là một minh chứng rõ ràng cho
hiện tượng này. Điều đó sẽ dẫn đến tổng thu
trên một đơn vị diện tích đất đai, một đồng chi
phí cao hơn. Kết quả này cũng hoàn toàn
phù hợp với kết quả phân tích thống kê mô tả ở
mục 3.1.2.
3.3. Gợi ý chính sách
Trái với các suy đoán phổ biến về những bất
lợi, rào cản của quy mô nhỏ đối với hiệu quả
kinh tế, các HGĐ có quy mô đất đai nhỏ đang
đạt hiệu quả sản xuất nông nghiệp cao hơn. Kết
quả này có thể đưa ra hai suy luận ngược chiều
về dự báo chiều hướng tích tụ đất đai trong
tương lai:
- Một là, các HGĐ hoàn toàn có thể “hài
lòng” với quy mô nhỏ, nhất là trong điều kiện cơ
hội tìm kiếm thu nhập ngoài nông nghiệp ngày
càng tăng. Việc ứng dụng công nghệ trong sản
xuất để đạt được một mức thu nhập từ nông
nghiệp, với một quy mô đất không lớn, là hoàn
toàn khả thi và hiệu quả, đối với HGĐ nông
dân. Nếu chiều hướng này là phổ biến, thì động
lực kinh tế đối với tập trung, tích tụ đất đai đối
với các HGĐ là không tồn tại. Tích tụ đất đai,
sản xuất nông nghiệp quy mô lớn không phải là
con đường “tất yếu” như một số lập luận trên
các diễn đàn chính sách hiện nay.
- Hai là, nếu các thay đổi về tổ chức sản
xuất theo hướng liên kết, hợp tác thực sự mang
lại hiệu quả nhờ cải thiện được các bất lợi đó của
quy mô nhỏ, thì có thể kỳ vọng vào một kết cục
cải thiện đồng thời giữa hiệu quả riêng của
HGĐ và hiệu quả chung của ngành nông nghiệp
trên nền tảng của một quy mô sử dụng đất
lớn hơn.
Có thể nói, manh mún đất đai là yếu tố làm
giảm hiệu quả sử dụng đất của HGĐ, ngay cả
khi đang là sản xuất HGĐ riêng lẻ, độc lập. Các
ảnh hưởng bất lợi của manh mún đất đai sẽ lớn
hơn nhiều lần trong điều kiện tổ chức lại sản
xuất nông nghiệp theo hướng hợp tác, liên kết.
Phân bố đất đai và hiệu quả sản xuất nông nghiệp hộ gia đình tại tỉnh Bắc Giang
732
Các thửa ruộng ở vị trí khác nhau, dù của cùng
một hộ, thì khi tổ chức hợp tác, liên kết, sẽ gần
như tương đương với trường hợp các thửa đất đó
là thuộc nhiều hộ khác nhau, bởi các phương án
hợp tác, liên kết phụ thuộc rất lớn vào vị trí của
từng thửa đất. Nói cách khác, để có được một
diện tích đất cho sản xuất tập trung trong điều
kiện đất đai manh mún đòi hỏi một chi phí giao
dịch lớn hơn nhiều do phải thỏa thuận với một
số lượng hộ lớn hơn nhiều. Tuy nhiên, hai rào
cản chính đối với việc cải thiện manh mún đất
đai là: (i) Sở hữu nhiều mảnh ruộng luôn có sức
hấp dẫn với các HGĐ về tính linh hoạt trong sử
dụng và chuyển đổi mục đích sử dụng và (ii)
Dồn điền đổi thửa không thể được thực hiện chỉ
nhờ các nỗ lực của các HGĐ riêng lẻ, mà phải là
một chương trình được thực hiện bài bản,
khoa học.
Từ nhận định như trên về xu hướng phân
bố đất nông nghiệp, các gợi ý chính sách quan
trọng cần được quan tâm nhằm nâng cao hiệu
quả kinh tế sử dụng đất cho hộ, theo chúng
tôi, là:
Cần hỗ trợ đầu tư nghiên cứu ứng dụng
khoa học công nghệ đối với các nhà khoa học
trong nông nghiệp phù hợp với từng quy mô đất
đai. Đồng thời, cần có cơ chế liên kết giữa các tổ
chức, nhà khoa học và nông dân. Bên cạnh đó,
khuyến khích, hỗ trợ, tạo điều kiện thuận lợi
cho các phương thức tổ chức sản xuất phát huy
được lợi thế của quy mô lớn nhưng vẫn duy trì
được quyền sử dụng đất của hộ gia đình: hợp
tác, liên kết, doanh nghiệp thuê đất có thời hạn
của nông dân, hỗ trợ, hấp dẫn doanh nghiệp đầu
tư vào khâu chế biến, tiêu thụ, làm đầu đàn
trong chuỗi giá trị sản phẩm, Các chính sách
đất đai cần linh động, tôn trọng điều kiện của
từng địa phương trong hoạch định và thực thi
chính sách
4. KẾT LUẬN
Phân bố đất nông nghiệp HGĐ ở Bắc Giang
tương đồng với tình trạng chung, là quy mô nhỏ
và manh mún, nhưng với mức độ cao hơn so với
cả nước và của vùng trung du và miền núi Bắc
Bộ. Tuy quy mô đất đai nhỏ, nhưng hiệu quả sử
dụng đất của HGĐ nông dân của Bắc Giang,
theo các chỉ tiêu đo lường phổ biến là thu bình
quân hộ và thu bình quân trên một đơn vị diện
tích cao hơn cả nước và của vùng. Tuy hiệu quả
sử dụng đất phụ thuộc vào rất nhiều yếu tố,
nhưng xét trên bình diện chung, quy mô nhỏ và
manh mún đất đai chưa phải là một hạn chế rõ
ràng trong cải thiện hiệu quả sử dụng đất nông
nghiệp ở cấp độ HGĐ. Kết quả phân tích cho
thấy hiện trạng phân bố theo hai xu hướng là
quy mô đất nông nghiệp nhỏ và tích tụ, tập
trung đất đai, trên cơ sở đó nghiên cứu đưa ra
gợi ý chính sách nhằm nâng cao hiệu quả kinh
tế sử dụng đất cho hộ gia đình.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
Aigner D., Lovelln C.A.K. & Schmidt P. (1977).
Formulation and Estimation of Stochastic Frontier
Production Function Models. Journal of
Econometrics. 6: 21-37.
Battese G. & Coelli T. 1995). A Model for Technical
Inefficiency Effects in a Stochastic Frontier
Production Function for Panel Data. Empirical
Economics. 20: 325-332.
Bộ Tài nguyên và Môi trường (2018). Tình hình tích tụ,
tập trung đất đai cho phát triển nông nghiệp;
phương thức, mô hình thực hiện và các giải pháp.
Báo cáo tại Hội nghị thúc đẩy doanh nghiệp đầu tư
vào lĩnh vực nông nghiệp, Cổng thông tin điện tử
của Chính phủ.
Meeusen and van den Broeck (1977). Efficiency
Estimation. from Cobb-Douglas Production
Functions with Composed Error. International
Economic Review. 18(2): 435-44.
Nguyễn Quang Hà (2017). Phân bố đất nông nghiệp hộ
gia đình Việt nam. Tạp chí Kinh tế và Phát triển.
244: 43-52.
Sen A.K (1962). An aspect of Indian agriculture. The
Economic Weekly. 14: 243-246.
Tổng cục Thống kê (2016). Kết quả điều tra mức sống
dân cư và Khảo sát quyền số chỉ số giá tiêu dùng
năm 2014.
Tổng cục Thống kê (2019). Kết quả điều tra mức sống
dân cư và Khảo sát quyền số chỉ số giá tiêu dùng
năm 2018.
Các file đính kèm theo tài liệu này:
phan_bo_dat_dai_va_hieu_qua_san_xuat_nong_nghiep_ho_gia_dinh.pdf