KẾT LUẬN
Xu thế phân bố muối dinh dưỡng trong khu
vực vào thời gian tháng 7/2016:
Nồng độ các muối chứa nitơ (DIN) phân
bố tại tầng mặt thấp hơn so với tầng đáy, đặc
biệt là khu vực phía nam. Trong khi tầng mặt
có xu hướng cao dần từ ngoài khơi vào bờ thì
tầng đáy có xu hướng tăng dần từ bắc xuống
nam. Giá trị cao nhất tại tầng mặt ghi nhận
được là 3,95 µM và tầng đáy là 4,2 µM.
Xu hướng phân bố DIP giữa 2 tầng mặt và
đáy khá khác biệt. Tầng mặt không có xu thế rõ
ràng, trong khi xu hướng phân bố ở đáy tăng
dần từ khơi vào bờ và từ bắc xuống nam. Giá
trị cao nhất ghi nhận được ở cả 2 tầng đều ở
trạm liên tục.
Phân bố DSi ở cả 2 tầng trên toàn vùng
biển có xu thế khá giống nhau và gần tương tự
với DIP tầng đáy, cao dần từ bắc xuống nam và
từ khơi vào bờ. Tuy nhiên, nồng độ Si tầng mặt
cao hơn nhiều so với tầng đáy.
Sự phân bố theo phương thẳng đứng của
các muối dinh dưỡng trong cột nước không
đồng đều và không có quy luật rõ ràng. Không
có lớp nước tương đồng về nồng độ các muối
dinh dưỡng, cũng như không phát hiện ra lớp
đột biến từ độ sâu 50 m trở lên bề mặt.
Các số liệu phân bố tầng mặt và biến thiên
theo độ sâu của các thông số nhiệt, muối, cũng
như nồng độ muối dinh dưỡng không có nhiều
giá trị dị thường cho thấy hoạt động nước trồi
trong vùng biển Ninh Thuận - Bình Thuận
trong thời gian khảo sát tháng 7/2016 là không
đáng kể. Hiện tượng El Niño cũng không diễn
ra trong thời gian này.
9 trang |
Chia sẻ: hachi492 | Lượt xem: 4 | Lượt tải: 0
Bạn đang xem nội dung tài liệu Phân bố muối dinh dưỡng vùng nước trồi mạnh Ninh Thuận - Bình Thuận tại thời điểm dự báo có hiện tượng El Nino, tháng 7/2016, để tải tài liệu về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
96
Tạp chí Khoa học và Công nghệ Biển; Tập 18, Số 1; 2018: 96-104
DOI: 10.15625/1859-3097/18/1/8759
PHÂN BỐ MUỐI DINH DƯỠNG VÙNG NƯỚC TRỒI MẠNH
NINH THUẬN - BÌNH THUẬN TẠI THỜI ĐIỂM DỰ BÁO
CÓ HIỆN TƯỢNG EL NIÑO, THÁNG 7/2016
Võ Trần Tuấn Linh*, Lê Trọng Dũng, Phạm Hồng Ngọc, Lê Hùng Phú,
Phạm Hữu Tâm, Nguyễn Hồng Thu, Lê Thị Vinh
Viện Hải dương học, Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam
*
E-mail: votrantuanlinh@gmail.com
Ngày nhận bài: 5-10-2016 / Ngày chấp nhận đăng: 21-1-2017
TÓM TẮT: Ninh Thuận - Bình Thuận là vùng biển chịu tác động mạnh của vùng nước trồi,
đặc biệt trong thời gian từ tháng 6 - 7 hàng năm. Bên cạnh đó, hiện tượng El Niño cũng được dự báo
sẽ diễn ra vào thời điểm này năm 2016. Nghiên cứu này được thực hiện nhằm tìm hiểu phân bố các
muối dinh dưỡng tại khu vực trong lúc đồng thời xảy ra cả 2 hiện tượng nước trồi và El Niño. Kết
quả khảo sát cho thấy nồng độ các muối dinh dưỡng nitơ (DIN) phân bố tại tầng mặt thấp hơn so
với tầng đáy, xu hướng cao dần từ ngoài khơi vào bờ, trong khi đó tầng đáy có xu hướng tăng dần từ
bắc xuống nam. Giá trị DIN cao nhất tại tầng mặt là 3,95 µM và tầng đáy là 4,2 µM. Sự phân bố
muối phosphat (DIP) giữa 2 tầng mặt và đáy khá khác biệt; tầng mặt không có xu thế rõ ràng, tầng
đáy lại có xu hướng tăng dần từ khơi vào bờ và từ Bắc xuống Nam. Giá trị DIP cao nhất ghi nhận
được ở cả 2 tầng mặt và đáy đều ở trạm LT (0,39 µM và 0,42 µM). DSi phân bố ở cả 2 tầng trên
toàn vùng biển có xu thế khá giống nhau, cao dần từ bắc xuống nam và từ khơi vào bờ. Tuy nhiên,
hàm lượng Si tầng mặt cao hơn nhiều so với tầng đáy, nồng độ DSi tại trạm 12 ở tầng mặt đạt tới
gần 18 µM. Nhìn chung, sự phân bố theo phương thẳng đứng của các muối dinh dưỡng trong cột
nước không đồng đều và không có quy luật rõ ràng. Không có dị thường lớn về thông số muối dinh
dưỡng trong khu vực tại thời gian khảo sát, tất cả giá trị cao nhất của các thông số đều ở các trạm
ven hoặc gần bờ. Kết hợp với các kết quả nhiệt muối, có thể nhận định ảnh hưởng của hoạt động
nước trồi lên khu vực khảo sát vào thời gian này là không đáng kể. Kết quả tính toán chỉ số Nino đại
dương cũng cho thấy không có hiện tượng El Niño trong thời gian khảo sát.
Từ khóa: Phân bố muối dinh dưỡng, nước trồi, El Niño, Ninh Thuận - Bình Thuận.
MỞ ĐẦU
Sự gia tăng nồng độ các chất dinh dưỡng có
thể gây ra hiện tượng phú dưỡng, dễ dàng nhận
thấy qua các hiện tượng tảo nở hoa, suy giảm
oxy và tử vong sinh vật đáy tại các hệ sinh thái
ven biển; điều này đã được báo cáo trong một
số nghiên cứu trước đây [1, 2]. Tần số và mức
độ của hiện tượng này dường như ngày càng
tăng ở các vùng nước ven biển bị ảnh hưởng
bởi các dòng sông, hoặc chịu tác động từ các
hoạt động của con người [3, 4]. Một số nghiên
cứu khác lại cho rằng, sự gia tăng của các muối
dinh dưỡng từ bên ngoài, với nồng độ N và P
cao, Si thấp, sẽ dẫn đến gia tăng năng suất sơ
cấp, suy giảm và/hoặc tích tụ Si vào trầm tích,
từ đó có thể dẫn đến thay đối sinh vật ưu thế từ
tảo silic sang tảo lục hoặc tảo lam [5, 6]
Các công trình nghiên cứu trước đây đã xác
định được vùng nước trồi tồn tại trên dải ven
bờ và thềm lục địa tại vùng biển Nam Trung Bộ
Việt Nam, đặc biệt là vùng biển Ninh Thuận -
Bình Thuận. Bên cạnh đó, vùng biển này cũng
Phân bố muối dinh dưỡng vùng nước trồi mạnh
97
chịu ảnh hưởng khá lớn từ các hiện tượng El
Niño và La Niña [7]. Trong thời gian xảy ra
hiện tượng nước trồi, các lớp ưu quang giàu
dinh dưỡng tập trung thành khu vực rõ ràng và
tương đối rộng, nồng độ dinh dưỡng tại thủy
vực khá cao; đặc biệt là vào các thời kỳ tháng 6
-7 hàng năm, sự xâm nhập từ các lớp nước sâu
lên các tầng trên càng mạnh hơn. Có thể nói,
hiện tượng nước trồi có ảnh hưởng quan trọng
đến nồng độ và sự phân bố các muối dinh
dưỡng, thậm chí có thể thay đổi cả về cấu trúc
dinh dưỡng trong thủy vực [7, 8].
“El Niño” là từ được dùng để chỉ hiện
tượng nóng lên dị thường của lớp nước biển bề
mặt ở khu vực xích đạo trung tâm và đông Thái
Bình Dương, kéo dài 8 - 12 tháng, hoặc lâu
hơn, thường xuất hiện 3 - 4 năm 1 lần, song
cũng có khi dày hơn hoặc thưa hơn. El Niño,
cùng với La Niña là 2 hiện tượng của ENSO,
có liên quan với dao động của khí áp giữa 2 bờ
phía đông Thái Bình Dương với phía tây Thái
Bình Dương - đông Ấn Độ Dương (dao động
nam) và ảnh hưởng đến thời tiết, khí hậu toàn
cầu với mức độ khác nhau và rất đa dạng. Tuy
nhiên, đối với từng khu vực cụ thể, vẫn có thể
xác định được những ảnh hưởng chủ yếu có
tính đặc trưng của mỗi hiện tượng nói trên [9].
Theo các nghiên cứu thực nghiệm, trong các
năm xảy ra hiện tượng El Niño, hiện tượng
nước trồi bị suy giảm mạnh [10, 11] theo cơ
chế được biểu diễn trong hình 1 [12].
a) Điều kiện bình thường b) Dưới ảnh hưởng của El Niño
Hình 1. Mô phỏng thời tiết trên đường xích đạo dưới điều kiện bình thường và El Niño [13]
Các nghiên cứu chỉ ra rằng, hiện tượng nước
trồi và El Niño có sự tác động đến hàm lượng và
phân bố các muối dinh dưỡng, nghiên cứu này
được thực hiện nhằm bước đầu tìm hiểu đặc
trung muối dinh dưỡng tại khu vực trong thời
điểm được dự báo xảy ra đồng thời 2 hiện tượng
đặc biệt nói trên; từ đó cung cấp các số liệu về
nồng độ và sự phân bố muối dinh dưỡng, góp
phần phục vụ các nghiên cứu về chất lượng môi
trường, năng suất sinh học, sản lượng thủy
sản hoặc các nghiên cứu có liên quan.
TÀI LIỆU VÀ PHƢƠNG PHÁP
Tài liệu. Bên cạnh các số liệu thu được từ
chuyến khảo sát vào tháng 7/2016, các số liệu
lưu trữ từ các đề tài, dự án đã được thực hiện và
nghiệm thu cũng được tham khảo, bao gồm:
Chương trình giám sát chất lượng môi
trường biển phía nam (1995-2015).
Dự án “trình diễn quản lý bền vững tài
nguyên rạn san hô ở vùng biển ven bờ huyện
Ninh Hải, tỉnh Ninh Thuận, Việt Nam” -
PCPNN / FNG AID PROJECT (2008-2012).
Phƣơng pháp
Thu và bảo quản mẫu. Chuyến khảo sát được
thực hiện vào thời gian tháng 7/2016, thời gian
hoạt động nước trồi thường xảy ra mạnh [7,
14]; và dự báo có hiện tượng El Niño [15]
trong vùng biển Ninh Thuận - Bình Thuận.
Mẫu được thu bằng bathometer (Niskin
bottle) PVC 5 L, tại 15 trạm mặt rộng và 1 trạm
liên tục (hình 2). Theo Bùi Hồng Long và nnk.,
[7] tầng ưu quang tại vùng nghiên cứu trong
thời kỳ hoạt động nước trồi thường từ 40 - 60
m. Do đó, các mẫu được thu ở tầng mặt và tầng
50 m (hoặc tầng đáy đối với các trạm sâu <50
m), tại các trạm khảo sát. Riêng các trạm 6, 7,
Võ Trần Tuấn Linh, Lê Trọng Dũng,
98
11, 12 và trạm liên tục, được thu phân tầng
(mặt - 10 m - 25 m - (50 m)). Tại trạm liên tục,
số liệu nhiệt muối được đo 9 OBS, trong vòng
24 tiếng. Tổng cộng 49 mẫu đã được thu, mẫu
sau khi thu được bảo quản lạnh đến khi về
phòng thí nghiệm.
Hình 2. Sơ đồ các trạm thu mẫu
Phân tích mẫu. Bên cạnh các muối dinh dưỡng
NO2
-
, NO3
-
, NH3,4
-
, PO4
3-
, và SiO3
2-
được lựa
chọn để phân tích, các thông số nhiệt muối
cũng được đo bằng CTD tại hiện trường. Các
thông số dinh dưỡng được phân tích tại phòng
thí nghiệm và tuân theo các phương pháp được
hướng dẫn trong “Standard Methods for
Analysis of Water and Waste Water” [16].
NO2: trắc quang (4500 - NO2-B);
NO3: cột khử Cd (4500 - NO3-E);
NH3,4: phenate (4500 - NH3-F);
PO4: ascorbic acid (4500 - P-B);
SiO3: xanh Heteropoly (4500 - Si-D).
KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN
Đặc điểm phân bố các muối dinh dƣỡng.
Dựa vào sự phân bố các muối dinh dưỡng trên
toàn vùng trong các hình 3, 4 và 5 có thể tạm
chia vùng biển nghiên cứu thành 3 khu vực Bắc
(bao gồm các trạm 1, 2, 3, 4, và 5), Giữa (6, 7,
8, 9, 10 và trạm LT) và Nam (11, 12, 13, 14 và
15). Qua so sánh các giá trị trung bình ở bảng 1
và bảng 2, có thể nhận thấy rằng không có
nhiều dị thường về nồng độ muối dinh dưỡng
so với các vùng biển lân cận ở các nghiên cứu
trước đây. Các dẫn liệu cho thấy tất cả nồng độ
cao nhất của các muối dinh dưỡng đều ở các
trạm ven bờ (3, LT, 13) hoặc gần bờ. Các trạm
xa bờ (5, 7, 10, 15) có nồng độ các muối dinh
dưỡng tương đối thấp.
Sự ảnh hưởng từ các nguồn nước ngọt từ
lục địa tới vùng biển nghiên cứu ít hơn rất
nhiều so với khu vực vịnh Nha Trang. Điều này
thể hiện rõ qua nồng độ trung bình của thông số
Si (bảng 1, bảng 2). Tuy nhiên, vẫn nhận thấy
có sự khác biệt giữa 2 mùa thông quá các số
liệu giữa tháng 2 (mùa khô) và tháng 9 (mùa
mưa) của khu vực Ninh Hải. Điều này hoàn
toàn phù hợp với điều kiện khí tượng thủy văn
của toàn khu vực.
Hình 3. Sơ đồ phân bố các muối dinh dưỡng N
Nhìn chung, nồng độ các muối dinh dưỡng
DIN tại tầng mặt thấp hơn so với tầng đáy ở cả
3 khu vực, đặc biệt là khu vực phía nam chênh
lệch giữa mặt và đáy khá cao (2,5 so với
Phân bố muối dinh dưỡng vùng nước trồi mạnh
99
3,26 µM). Trong khi tại tầng mặt có xu hướng
cao dần từ ngoài khơi vào bờ thì tầng đáy có xu
hướng tăng dần từ bắc xuống nam (hình 3). Giá
trị cao nhất tại tầng mặt ghi nhận được tại trạm
LT (3,95 µM) và tầng đáy tại trạm 12 (4,2 µM).
Hình 4 thể hiện sự khác biệt về xu hướng
phân bố DIP giữa 2 tầng mặt và đáy. Tầng mặt
không có xu thế phân bố rõ ràng, khu vực phía
bắc có nồng độ DIP khá thấp, nồng độ tại khu
vực giữa cao hơn và giảm nhẹ khi xuống phía
Nam. Giá trị cao nhất ghi nhận tại trạm LT
(0,39 µM). Nồng độ DIP tại khu vực giữa ở
tầng đáy tương đương với tầng mặt, giá trị cao
nhất cũng tại trạm LT (0,42 µM), tuy nhiên xu
hướng phân bố ở đáy rõ ràng hơn, tăng dần từ
khơi vào bờ và từ bắc xuống nam.
Hình 4. Sơ đồ phân bố DIP
Phân bố DSi ở cả 2 tầng trên toàn vùng
biển có xu thế khá giống nhau và gần tương tự
với DIP tầng đáy, cao dần từ bắc xuống nam và
từi khơi vào bờ (hình 5). Tuy nhiên, về nồng
độ, tầng mặt có nồng độ Si cao hơn nhiều so
với tầng đáy; đặc biệt là ở khu vực phía nam,
nồng độ Si tầng mặt cao hơn gấp gần 2,5 lần so
với tầng đáy, thậm chí tại trạm 12, nồng độ Si
tầng mặt đạt tới gần 18 µM. Những ghi nhận
này là khá bất thường so với các giá trị chung
của toàn khu vực, đặc biệt vùng biển ít chịu ảnh
hưởng khối nước ngọt từ đất liền vào thời gian
này như đã nhận định ở trên.
Hình 5. Sơ đồ phân bố Dsi
Võ Trần Tuấn Linh, Lê Trọng Dũng,
100
Từ hình 6 và các giá trị trung bình tại
bảng 1, có thể nói rằng sự phân bố theo phương
thẳng đứng của các muối dinh dưỡng trong cột
nước không đồng đều và không có quy luật rõ
ràng. Không có lớp nước tương đồng về nồng
độ các muối dinh dưỡng, cũng như không phát
hiện ra lớp đột biến từ độ sâu 50 m trở lên.
Điều này có thể dự đoán rằng ảnh hưởng hiện
tượng nước trồi không thật sự đáng kể tại vùng
biển trong thời gian nghiên cứu.
Hình 6. Biến thiên theo độ sâu của nồng độ các muối dinh dưỡng tại các trạm thu phân tầng
Bảng 1. Nồng độ trung bình các muối dinh dưỡng ở các khu vực tại vùng biển nghiên cứu
Khu vực Tầng n DIN (µM) DIP (µM) Dsi (µM) DIN:DIP Si:DIN Si:DIP
Bắc
(trạm 1, 2, 3, 4, 5)
M 5 2,69 0,17 9,94 19,3 3,8 68,3
Đ 5 2,75 0,20 6,49 14,8 2,4 34,3
TB 10 2,72 0,19 8,21 17,1 3,1 51,3
Std. 0,32 0,08 2,18 8,0 0,9 26,6
Giữa
(6, 7, 8, 9, 10, LT)
M 6 2,86 0,26 8,50 11,7 3,0 34,5
Đ 6 2,95 0,26 5,85 11,9 2,0 23,6
TB 17 2,82 0,26 6,84 11,6 2,5 27,7
Std. 0,51 0,07 1,86 3,4 0,7 9,3
Nam
(11, 12, 13, 14,
15)
M 5 2,5 0,2 11,9 10,8 4,9 51,8
Đ 5 3,26 0,34 6,26 10,4 2,0 19,4
TB 13 2,84 0,28 9,19 10,6 3,5 36,1
Std. 0,58 0,08 3,62 2,8 1,7 18,6
Toàn vùng
M 16 2,68 0,22 10,01 13,8 3,8 50,5
Đ 16 2,81 0,25 5,82 11,6 2,0 24,1
TB 44 2,80 0,25 7,95 12,6 2,9 36,3
Std. 0,49 0,08 2,76 5,4 1,2 19,9
Ghi chú: M: tầng mặt; Đ: tầng đáy; TB: giá trị trung bình; Std.: phương sai trung bình.
Hoạt động nƣớc trồi và hiện tƣợng El Niño
trong khu vực tại thời gian nghiên cứu. Hoạt
động nước trồi đóng vai trò quan trọng trong
việc cung cấp muối dinh dưỡng cho tầng mặt
và tầng ưu quang thông qua việc đẩy lớp nước
sâu giàu dinh dưỡng lên cao gần với tầng mặt
[17-19]. Tại vùng biển Ninh Thuận - Bình
Thuận, trong thời gian xảy ra hiện tượng nước
trồi, các lớp ưu quang giàu dinh dưỡng tập
trung thành khu vực rõ ràng và tương đối rộng,
nồng độ dinh dưỡng tăng cao [7]. Theo Phạm
Văn Thơm [7, 19] trong thời gian nước trồi, lớp
nước sâu giàu dinh dưỡng ảnh hưởng lớn nhất
đến nồng độ muối phosphat ở tầng mặt, do đó
làm giảm về tỉ lệ mol của các muối dinh dưỡng
chứa nitơ trên muối dinh dưỡng phosphat và
silic. Tuy nhiên, nồng độ các muối dinh dưỡng
tại khu vực nghiên cứu không tăng quá cao so
với bình thường và tỉ số mol DIN:DIP và
DSi:DIP cũng không có nhiều đột biến. Có thể
so sánh các dẫn liệu trong các bảng 1 với các
nồng độ trung bình của vịnh Nha Trang [20]
(vùng biển ít chịu tác động của nước trồi) trong
cùng thời điểm và vùng biển Ninh Hải (số liệu
từ dự án “Trình diễn quản lý bền vững tài
nguyên rạn san hô ở vùng biển ven bờ huyện
Phân bố muối dinh dưỡng vùng nước trồi mạnh
101
Ninh Hải, tỉnh Ninh Thuận, Việt Nam” -
PCPNN/FNG AID PROJECT) vào thời gian
không có nước trồi mạnh để tham khảo thêm
(bảng 2).
Bảng 2. Nồng độ và tỉ lệ trung bình muối dinh dưỡng trong nước
ở vịnh Nha Trang (mùa hè) và Ninh Hải
Khu vực Năm n DIN (µM) DIP (µM) Dsi (µM) DIN:DIP Si:DIN Si:DIP
Vịnh
Nha Trang
2007 36 3,51 0,42 12,6 8,4 3,6 30,0
2010 26 2,98 0,23 15,5 13,0 5,2 67,4
2011 26 2,96 0,26 14,4 11,4 4,9 55,4
2012 22 2,92 0,36 12,7 8,1 4,3 35,3
2013 22 2,55 0,27 9,7 9,4 3,8 36,0
2014 22 2,74 0,25 8,2 11,0 3,0 32,7
Ninh Hải
2/2014 20 2,20 0,30 6,1 7,3 2,8 20,3
9/2011 20 2,75 0,41 18,8 6,7 6,8 42,5
Theo các số liệu trung bình được ghi nhận
trong nhiều năm (1959-1995), độ muối của
vùng biển ven bờ Ninh Thuận - Bình Thuận khi
ở gần tâm vùng nước trồi có thể tăng lên trên
34,2‰ và nhiệt độ nước biển tầng mặt có thể
hạ xuống dưới 24,5oC, thậm chí có thể đạt
21,76
oC khi nước trồi hoạt động mạnh, trong
khi phông chung của khu vực Biển Đông vào
mùa hè là 28,5 - 29,5
o
C [21]. Tuy nhiên, các số
liệu nhiệt muối đo được trong đợt khảo sát
tháng 7/2016 cho thấy nhiệt độ nước biển tầng
mặt ban ngày của khu vực dao động từ 28,9 -
29,8
oC, độ muối đo được trong khoảng 31,7 -
33,3. Các giá trị thực đo trên gần như tương tự
với với các vùng biển lân cận thời gian mùa hè
và không khác biệt nhiều so với các giá trị nhiệt
độ trung bình vĩ tuyến Biển Đông[21]. Sự phân
bố nhiệt muối tầng mặt được thể hiện trong
hình 7. Có thể nhận thấy rằng, các giá trị độ
muối và nhiệt độ tầng mặt trong khu vực tại
thời điểm khảo sát không đặc trưng cho thời kỳ
hoạt động nước trồi.
Hình 7. Sơ đồ phân bố nhiệt, muối tầng mặt vào tháng 7/2016
Tại khu vực nghiên cứu, các chuyển động
thẳng đứng (nước trồi, nước chìm) đóng vai trò
cực kỳ quan trọng đối với sự biến động của các
yếu tố thủy văn nói riêng và môi trường nói
chung. Dưới tác động của dòng nước trồi, các
mặt đẳng nhiệt và đẳng mặn được nâng lên cao
gần với bề mặt [21], hay nói cách khác, nhiệt
độ và độ muối của tầng ưu quang thay đổi
không đáng kể. Mặc dù vậy, những kết quả thu
được tại các trạm khảo sát và biểu đồ biến thiên
nhiệt độ theo độ sâu đo tại các thời điểm ở trạm
liên tục (hình 8) cho thấy rằng nhiệt độ của cột
Võ Trần Tuấn Linh, Lê Trọng Dũng,
102
nước giảm dần theo độ sâu, và ngược lại, độ
muối tăng dần từ mặt xuống đáy trong thời gian
khảo sát. Các số liệu đo đạc tại trạm liên tục chỉ
ra rằng biến thiên nhiệt độ trong tầng nước 0 -
20 m luôn lớn hơn 0,034oC/m, đặc biệt vào thời
gian ban đêm (từ 21 h 00 đến 3 h 00), các biến
thiên này luôn lớn hơn 0,1oC.
Hình 8. Biến thiên nhiệt độ
theo độ sâu tại trạm liên tục
Mặc dù khoảng thời gian khảo sát là khá
ngắn, mạng lưới trạm cũng không đủ dày và
rộng để đánh giá được cường độ và vị trí hoạt
động của nước trồi trong toàn vùng biển Ninh
Thuận - Bình Thuận, nhưng từ những số liệu và
so sánh ở trên, có thể đưa ra nhận định rằng
hoạt động nước trồi trong khu vực nghiên cứu
vào thời gian khảo sát tháng 7/2016 là không
đáng kể.
ONI là chỉ số Nino đại dương (The Oceanic
Nino Index) do Trung tâm Dự báo Môi trường
(NCEP) tính toán và sử dụng để xác định El
Niño (pha nóng) và La Niña (pha lạnh) ở khu
vực xích đạo trung tâm Thái Bình Dương. Hiện
tượng El Niño xảy ra khi giá trị này ≥ 0,5, El
Niño yếu khi chỉ số này có giá trị từ 0,5 - 1,
vừa khi 1 - 1,5, mạnh khi 1,5 - 1,9 và rất mạnh
khi ≥ 2. Ngược lại, hiện tượng La Niña xảy ra
khi có giá trị âm và ≤ -0,5 [15]. Theo các tính
toán, chỉ số ONI tại tháng 7/2016 là -0,3, ở
mức trung tính và đang trong giai đoạn chuyển
giao từ El Niño qua La Niña. Các số liệu ở
bảng 3 cũng cho thấy hiện tượng El Niño
không diễn ra tại thời gian khảo sát.
Bảng 3. Giá trị ONI trung bình 3 tháng các giai đoạn [15]
Mùa (6-8) (7-9) (8-10) (9-11) (10-12) (11-1) (12-2) (1-3) (2-4) (3-5) (4-6) (5-7)
2010-2011 -0,8 -1,1 -1,3 -1,4 -1,3 -1,4 -1,3 -1,1 -0,8 -0,6 -0,3 -0,2
2011-2012 -0,3 -0,5 -0,7 -0,9 -0,9 -0,8 -0,7 -0,6 -0,5 -0,4 -0,3 -0,1
2012-2013 0,1 0,3 0,4 0,4 0,2 -0,2 -0,4 -0,5 -0,3 -0,2 -0,2 -0,2
2013-2014 -0,2 -0,2 -0,2 -0,2 -0,2 -0,3 -0,5 -0,6 -0,4 -0,2 0,0 0,0
2014-2015 0,0 0,0 0,2 0,4 0,6 0,6 0,5 0,4 0,5 0,7 0,9 1,0
2015-2016 1,2 1,5 1,8 2,1 2,2 2,3 2,2 1,9 1,5 1,1 0,6 0,2
2016-2017 -0,6 -0,7
Từ những kết quả trên, có thể kết luận rằng
hiện tượng El Niño không thật sự diễn ra và
ảnh hưởng của nước trồi cũng không đáng kể
trong vùng biển nghiên cứu tại thời điểm tháng
7/2016. Có thể giả thiết hoạt động nước trồi
không diễn ra trong thời gian này; hoặc nhiều
khả năng, khu vực nghiên cứu không nằm trong
phạm vi ảnh hưởng của vùng nước trồi. Cần có
thêm các nghiên cứu và nguồn số liệu khác
nhau để hiểu thêm về điều này.
KẾT LUẬN
Xu thế phân bố muối dinh dưỡng trong khu
vực vào thời gian tháng 7/2016:
Nồng độ các muối chứa nitơ (DIN) phân
bố tại tầng mặt thấp hơn so với tầng đáy, đặc
biệt là khu vực phía nam. Trong khi tầng mặt
có xu hướng cao dần từ ngoài khơi vào bờ thì
tầng đáy có xu hướng tăng dần từ bắc xuống
nam. Giá trị cao nhất tại tầng mặt ghi nhận
được là 3,95 µM và tầng đáy là 4,2 µM.
Xu hướng phân bố DIP giữa 2 tầng mặt và
đáy khá khác biệt. Tầng mặt không có xu thế rõ
ràng, trong khi xu hướng phân bố ở đáy tăng
dần từ khơi vào bờ và từ bắc xuống nam. Giá
trị cao nhất ghi nhận được ở cả 2 tầng đều ở
trạm liên tục.
Phân bố muối dinh dưỡng vùng nước trồi mạnh
103
Phân bố DSi ở cả 2 tầng trên toàn vùng
biển có xu thế khá giống nhau và gần tương tự
với DIP tầng đáy, cao dần từ bắc xuống nam và
từ khơi vào bờ. Tuy nhiên, nồng độ Si tầng mặt
cao hơn nhiều so với tầng đáy.
Sự phân bố theo phương thẳng đứng của
các muối dinh dưỡng trong cột nước không
đồng đều và không có quy luật rõ ràng. Không
có lớp nước tương đồng về nồng độ các muối
dinh dưỡng, cũng như không phát hiện ra lớp
đột biến từ độ sâu 50 m trở lên bề mặt.
Các số liệu phân bố tầng mặt và biến thiên
theo độ sâu của các thông số nhiệt, muối, cũng
như nồng độ muối dinh dưỡng không có nhiều
giá trị dị thường cho thấy hoạt động nước trồi
trong vùng biển Ninh Thuận - Bình Thuận
trong thời gian khảo sát tháng 7/2016 là không
đáng kể. Hiện tượng El Niño cũng không diễn
ra trong thời gian này.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Boesch, D. F., and Rabalais, N. N., 1991.
Effects of hypoxia on continental shelf
benthos: comparisons between the New
York Bight and the Northern Gulf of
Mexico. Geological Society, London,
Special Publications, 58(1), 27-34.
2. Justić, D., Rabalais, N. N., Turner, R. E.,
and Dortch, Q., 1995. Changes in nutrient
structure of river-dominated coastal waters:
stoichiometric nutrient balance and its
consequences. Estuarine, Coastal and Shelf
Science, 40(3), 339-356.
3. Officer, C. B., Biggs, R. B., Taft, J. L.,
Cronin, L. E., Tyler, M. A., and Boynton,
W. R., 1984. Chesapeake Bay anoxia:
origin, development, and significance.
Science, 223(4631), 22-27.
4. Justić, D., 1991. Hypoxic conditions in the
northern Adriatic Sea: historical
development and ecological significance.
Geological Society, London, Special
Publications, 58(1), 95-105.
5. Schelske, C. L., and Stoermer, E. F., 1971.
Eutrophication, silica depletion, and
predicted changes in algal quality in Lake
Michigan. Science, 173(3995), 423-424.
6. Schelske, C. L., Stoermer, E. F., Conley, D.
J., Robbins, J. A., and Glover, R. M., 1983.
Early eutrophication in the lower Great
Lakes. Science, 222(4621), 320-322.
7. Bùi Hồng Long và nnk., 2009.Hiện tượng
nước trồi trong vùng biển Việt Nam. Sách
chuyên khảo. Nxb. Khoa học tự nhiên và
Công nghệ.
8. Lalli, C., and Parsons, T. R., 1997.
Biological oceanography: an introduction.
Butterworth-Heinemann.
9. Nguyễn Đức Ngữ, 2007. Hội thảo chuyên
đề về Đa dạng sinh học và Biến đổi khí
hậu: Mối liên quan tới Đói nghèo và Phát
triển bền vững. Hà Nội, 22-23/5/2007.
10. Dippner, J. W., Nguyen-Ngoc, L., Doan-
Nhu, H., and Subramaniam, A., 2011. A
model for the prediction of harmful algae
blooms in the Vietnamese upwelling area.
Harmful Algae, 10(6), 606-611.
11. Doan-Nhu, H., Nguyen-Ngoc, L., and
Nguyen, C. T., 2016. ENSO and
anthropogenic impacts on phytoplankton
diversity in tropical coastal waters.
Progress in Oceanography, 140, 1-13.
12. Bakun, A., 1990. Global climate change
and intensification of coastal ocean
upwelling. Science, 247(4939), 198-201.
13. NWS - US National Weather Service,
official website,
v/jetstream/tropics/enso_patterns.html
14. Võ Văn Lành và nnk., 1997. Sách chuyên
khảo các công trình nghiên cứu vùng nước
trồi mạnh Nam Trung Bộ. Nxb. Khoa học
và Kỹ thuật.
15. NOOA (Cục Quản lý Khí quyển và Đại
dương Hoa Kỳ), 2016. Trang web Trung
tâm Dự báo khí tượng:
monitoring/ensostuff/ensoyears.shtml
16. APHA, 2012. Standard methods for the
examination of water and wastewater.
17. Beverton, R. J., and Holt, S. J., 1957. On
the dynamics of exploited fish populations,
Fishery Investigations Series II, Vol. XIX,
Ministry of Agriculture. Fisheries and
Food, 1, 957.
18. Gotelli, N. J., 1990. Quantitative Ecology
and Marine Biology. Gerald J. Bakus, The
Quarterly Review of Biology 67, no. 3
(Sep. 1992): p382. DOI: 10.1086/417719.
19. Phạm Văn Thơm, 1997. Đặc điểm hóa học
vùng nước trồi mạnh Nam Trung Bộ. Sách
Võ Trần Tuấn Linh, Lê Trọng Dũng,
104
chuyên khảo các công trình nghiên cứu
vùng nước trồi mạnh Nam Trung Bộ. nhà
xuất bản Khoa học và Kỹ thuật. Tr. 88-99.
20. Linh, V. T. T., Kiem, D. T., Ngoc, P. H., Phu,
L. H., Tam, P. H., and Vinh, L. T., 2015.
Coastal Sea Water Quality of Nha Trang Bay,
Khanh Hoa, Viet Nam. Journal of Shipping
and Ocean Engineering, 5, 123-130.
21. Lã Văn Bài và Võ Văn Lành, 1997. Đặc
điểm phân bố và cấu trúc nhiệt, muối vùng
nước trồi mạnh; sách chuyên khảo các công
trình nghiên cứu vùng nước trồi mạnh Nam
Trung Bộ. Nxb. Khoa học và Kỹ thuật.
Tr. 39-48.
NUTRIENT DISTRIBUTION OF NINH THUAN - BINH THUAN
- A STRONGLY AFFECTED AREA FROM UPWELLING,
IN THE TIME OF EL NIÑO FORCASTING, JULY 2016
Vo Tran Tuan Linh, Le Trong Dung, Pham Hong Ngoc, Le Hung Phu,
Pham Huu Tam, Nguyen Hong Thu, Le Thi Vinh
Institute of Oceanography, VAST
ABSTRACT: Ninh Thuan - Binh Thuan marine area is strongly affected from upwelling
operation, especially from June to July annually. Moreover, the El Niño phenomenon was
forecasted in such period in 2016. This study’s objective was to understand the features of nutrients
in studied area in July 2016, the moment that was annual peak upwelling time as well as El Niño
phenomenon prediction. The results showed that DIN concentration at surface was lower and
distributed increasing from offshore area to shore, while that at the bottom was higher and
increasingly from North to South. The highest value at surface is 3.95 µM and at bottom is 4.2 µM.
DIP distribution was quite different between surface and bottom, the trend at surface was not
obvious while that at bottom was increasing from North to South and from offshore area to shore.
The highest values were recorded at both layers of the same site (0.39 µM and 0.42 µM). DSi
distribution trends at both surface and bottom were almost the same, increasing from North to South
and from offshore area to coast. There were not so many anomalies of nutrient parameters in the
area during survey time, all of the highest values were near shore and at coastal sites. Generally,
vertical distribution of nutrients in water column was uneven and not obvious. There was no
detection of either similarity in nutrients content or mutant layers down to 50 m depth. Together
with temperature and salinity data, it can be said that the upwelling operation in studied area in
survey time was not obvious. The calculation of Oceanic Nino Index also showed that El Niño did
not take place in the survey time.
Keywords: nutrient distribution, upwelling area, El Niño, Ninh Thuan - Binh Thuan marine
area.
Các file đính kèm theo tài liệu này:
phan_bo_muoi_dinh_duong_vung_nuoc_troi_manh_ninh_thuan_binh.pdf