KẾT LUẬN
Tại khu vực biển Nam Trung Bộ, nhìn
chung ở cả 2 thời kỳ gió mùa (Đông Bắc và
Tây Nam) nồng độ các muối dinh dưỡng
(nitrat, phosphat, silicat) thường phân bố tập
trung dọc theo các trạm ven bờ, muối nitrat tập
trung phân bố chủ yếu ở các tầng 5 m và 10 m,
muối silicat thường tập trung ở các mặt cắt 1, 2,
3 (tầng 5 m). Theo chiều sâu cột nước, các
muối amoni, phosphat ít thay đổi nhưng muối
silicat có xu thế giảm dần.
Trong cả 2 thời kỳ gió mùa khu vực cửa
sông Mê Kông nồng độ các muối dinh dưỡng
luôn tập trung phân bố ở các trạm thuộc vùng
ven bờ (gần các cửa sông), hầu hết nồng độ các
muối dinh dưỡng đều phân bố tập trung ở lớp
nước trên cùng (tầng 5 m). Theo chiều sâu cột
nước, muối phosphat ít thay đổi và silicat có xu
thế giảm dần, nhất là vào thời kỳ gió mùa Đông
Bắc. Trong khu vực này, nồng độ các muối
dinh dưỡng nitrat và silicat ở khu vực gần bờ
vào thời kỳ gió mùa Đông Bắc cao hơn so với
thời kỳ gió mùa Tây Nam rất rõ ràng.
Muối dinh dưỡng (amoni, nitrat, nitrit,
phosphat, silicat) thường tập trung phân bố cao
ở vùng cửa sông Mê Kông so với vùng biển
Nam Trung Bộ. Xét tương quan N và P thấy là
N luôn đóng vai trò yếu tố dinh dưỡng giới hạn
ở khu vực Nam Trung Bộ, trong khi đó tại
vùng cửa sông Mê Kông thì có xu hướng
ngược lại.
8 trang |
Chia sẻ: hachi492 | Lượt xem: 2 | Lượt tải: 0
Bạn đang xem nội dung tài liệu Phân bố nồng độ muối dinh dưỡng tại vùng biển phía Nam Việt Nam, để tải tài liệu về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
105
Tạp chí Khoa học và Công nghệ Biển; Tập 18, Số 1; 2018: 105-112
DOI: 10.15625/1859-3097/18/1/8741
PHÂN BỐ NỒNG ĐỘ MUỐI DINH DƯỠNG
TẠI VÙNG BIỂN PHÍA NAM VIỆT NAM
Phạm Hữu Tâm
Viện Hải dương học, Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam
E-mail: tamphamhuu@gmail.com
Ngày nhận bài: 29-9-2016 / Ngày chấp nhận đăng: 16-2-2017
TÓM TẮT: Bài báo dựa trên các kết quả điều tra của 2 đợt khảo sát vào thời kỳ gió mùa Đông
Bắc (tháng 10/2013) và thời kỳ gió mùa Tây Nam (tháng 5/2015) thuộc nhiệm vụ hợp tác Quốc tế
về Khoa học và Cộng nghệ theo Nghị định thư giữa Việt Nam và Hoa Kỳ nhằm xem xét sự phân bố
của các muối dinh dưỡng tại vùng biển phía nam Việt Nam. Các kết quả phân tích cho thấy, trong
cả 2 thời kỳ khảo sát nồng độ các muối dinh dưỡng (amoni, nitrat, phosphat, silicat) luôn cao hơn ở
các trạm vùng ven bờ và khu vực gần các cửa sông Mê Kông. Hầu hết nồng độ các muối dinh
dưỡng (nitrat, phosphat, silicat) đều cao hơn ở lớp nước trên cùng (tầng 5 m). Tại khu vực biển Nam
Trung bộ (vùng nước trồi hoạt động mạnh), nồng độ các muối dinh dưỡng (nitrat, phosphat) thường
phân bố tập trung dọc theo các trạm thuộc vùng ven bờ và ở lớp nước trên cùng (tầng 5 m) trong cả
2 thời kỳ gió mùa. Ở khu vực cửa sông Mê Kông, nồng độ của các muối dinh dưỡng nitrat và silicat
ở vùng gần bờ vào mùa gió Đông Bắc thường cao hơn so với mùa gió Tây Nam. Kết quả tính toán
tỷ số phân tử N/P cho thấy, tại khu vực Nam Trung Bộ N luôn đóng vai trò yếu tố dinh dưỡng giới
hạn trong khi đó ở vùng cửa sông Mê Kông có xu hướng ngược lại.
Từ khóa: Phân bố, các muối dinh dưỡng, gió mùa, Nam Trung bộ, cửa sông Mê Kông.
MỞ ĐẦU
Vùng biển nam Việt Nam là vùng biển mở
bao gồm nhiều đảo lớn (Phú Quý, Côn Đảo),
với nền kinh tế liên quan đến biển đóng vai trò
quan trọng bậc nhất, là ngư trường nổi tiếng có
sản lượng khai thác hàng năm vào loại cao nhất
Việt Nam. Dựa vào điều kiện tự nhiên, địa
hình, vùng biển này có thể phân chia thành 2
khu vực biển Nam Trung Bộ và vùng cửa sông
Mê Kông.
Khu vực biển Nam Trung Bộ có độ dốc
đáy và độ sâu tương đối lớn, sự phong phú tài
nguyên sinh vật biển của vùng biển này được
quyết định bởi hiện tượng nước trồi mạnh,
thời kỳ nước trồi hoạt động với cường độ
mạnh nhất từ tháng 6 - 9 hàng năm [1, 2]. Từ
năm 2002 trở lại đây tại vùng biển này thường
xuyên xảy ra tình trạng tảo nở hoa, gây nên
tình trạng thiếu oxy trong thủy vực, làm thủy
sản chết hàng loạt và gây mất mỹ quan vùng
biển ven bờ [3].
Vùng cửa sông Mê Kông có độ sâu không
cao, đáy thoai thoải, độ dốc nhỏ, đường đẳng
sâu 100 m đã tạo ra vùng thềm lục địa của biển
Đông Nam Bộ rộng lớn, với địa hình đáy khá
bằng phẳng. Ngoài ra, đường bờ biển khúc
khuỷu tạo thành nhiều vũng vịnh, sông ngòi
chằng chịt, đặc biệt là hệ thống sông Cửu Long
có nhiều cửa lớn. Như vậy ở vùng biển này,
ngoài việc chịu tác động trực tiếp điều kiện khí
hậu của biển còn phải chịu tác động của hệ
thống sông ngòi lục địa [4].
Tại vùng biển Nam Việt Nam, từ năm 1992
trong khuôn khổ đề tài KT 03-05 (1992-1994)
đã có những nghiên cứu khá quy mô về hiện
tượng nước trồi và tiếp đó là những chuyến
Phạm Hữu Tâm
106
điều tra khảo sát của dự án hợp tác Việt Nam
và CHLB Đức (2003-2010).
Nhằm tiếp tục cập nhật, nghiên cứu về vùng
biển Nam Trung Bộ và vùng cửa sông Mê Kông,
nhiệm vụ hợp tác quốc tế về khoa học công nghệ
theo nghị định thư giữa Việt Nam và Hoa Kỳ
(2013-2015) được thực hiện để nghiên cứu những
thay đổi theo chu kỳ mùa, chu kỳ năm, chu kỳ
nhiều năm về các quá trình vật lý và sinh địa hóa
của Biển Đông, Việt Nam. Trong phạm vi bài báo
dưới đây sự phân bố của các muối dinh dưỡng tại
vùng biển phía nam Việt Nam được trình bày.
Đây là một trong các nội dung được thực hiện của
nghị định thư nói trên.
TÀI LIỆU VÀ PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN
CỨU
Thu mẫu. Hai đợt khảo sát đã được tiến hành
vào thời kỳ gió mùa Đông Bắc (10/2013) và
thời kỳ gió mùa Tây Nam (5/2015) tại vùng
biển phía nam Việt Nam. Có tổng cộng 36 trạm
được thu từ độ sâu 5 m đến 60 m (các trạm gần
cửa sông Mê Kông thu ở các tầng 5, 10, 20 m và
các trạm ở vùng nước sâu Nam Trung bộ thu ở
các tầng 5, 10, 40, 60 m), bao gồm 7 mặt cắt
(vùng biển Nam Trung Bộ gồm các mặt cắt từ 1
đến 4, vùng cửa sông Mê Kông gồm các mặt
cắt từ 5 đến 7). Vị trí các trạm được trình bày ở
hình 1.
Hình 1. Vị trí trạm thu mẫu tại vùng biển phía nam Việt Nam
(bao gồm các mặt cắt MC1, MC2, MC3, MC4, MC5, MC6, MC7)
Bảo quản mẫu. Mẫu nước được giữ lạnh ở
nhiệt độ 4oC cho đến khi phân tích tại phòng thí
nghiệm Viện Hải dương học.
Chỉ tiêu phân tích. Amoni (NH3,4), nitrit
(NO2), nitrat (NO3), phosphat (PO4), silicat
(SiO3).
Phƣơng pháp phân tích. Mẫu nước được phân
tích theo các phương pháp tiêu chuẩn hiện hành
APHA, (2012) [5]. Cụ thể là:
Amoni (NH3,4): SMEWW 4500 N;
Nitrit (NO2): SMEWW 4500;
Nitrat (NO3): SMEWW 4500 N;
Phosphat (PO4): SMEWW 4500 PE;
Silicat (SiO3): SMEWW 4500 Si.
Xử lý số liệu. Xây dựng bản đồ phân bố của
các muối dinh dưỡng được dựa trên phần mềm
MapInfo, Suffer (Ver. 12), phần mềm Excel
(2013) được sử dụng để tính toán.
Dựa vào điều kiện tự nhiên và địa hình, kết
quả tính toán, thống kê được xem xét theo khu
vực vùng biển Nam Trung Bộ (chịu ảnh hưởng
của hoạt động nước trồi) gồm các mặt cắt 1, 2,
3, 4 và khu vực vùng cửa sông Mê Kông bao
gồm các mặt cắt 5, 6, 7.
KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN
Đặc điểm phân bố muối dinh dƣỡng
Thời kỳ gió mùa Đông Bắc (tháng 10/2013).
Phân bố nồng độ của các muối dinh dưỡng theo
Phân bố nồng độ muối dinh dưỡng
107
tầng nước trong thời kỳ gió mùa Đông Bắc
(tháng 10/2013) trên vùng nghiên cứu được
trình bày trong hình 2 cho thấy, tại vùng biển
Nam Trung Bộ muối amonia và nitrit thường
có nồng độ thấp, amonia chỉ phát hiện được tại
các trạm thuộc mặt cắt 1, 2, 3 tại các tầng
40 m. Nhìn chung ở các tầng nước, muối nitrat
phân bố khá đồng đều với nồng độ dao từ 30 -
40 gN/l, nồng độ cao hơn của muối này
thường phân bố ở các trạm thuộc khu vực ven
bờ. Muối phosphat thường phân bố dọc theo
các mặt cắt từ 1 đến 3 và chủ yếu tập trung các
trạm thuộc khu vực ven bờ và nồng độ của
muối này có xu thế giảm dần từ tầng 5 m đến
60 m. Muối silicat tập trung nhiều hơn ở các
trạm vùng ven bờ và nồng độ cao nhất thường
xuất hiện ở các trạm thuộc mặt cắt 2 (tầng 5 m),
nồng độ của muối này có xu thế giảm dần từ
tầng 5 m đến 60 m.
Ở vùng cửa sông Mê Kông, tại các trạm
gần các cửa sông (độ sâu khoảng 20 m) nồng
độ các muối dinh dưỡng amoni, nitrit và
phosphat không có xu thế biến đổi rõ ràng theo
các tầng trong khi nồng độ nitrat và silicat giảm
từ tầng 5 m đến 20 m khá rõ ràng. Nồng độ cao
nhất của các muối nitrat, phosphat và silicat
thường ghi nhận tại các trạm thuộc vùng ven bờ
(độ sâu khoảng 10 m) ở tầng 5 m. Trong khi
đó, tại các trạm xa vùng cửa sông, muối dinh
dưỡng amoni hầu như không phát hiện được ở
tất cả các tầng khảo sát, muối nitrit chỉ phát
hiện được tại các tầng 5, 10 m với nồng độ rất
thấp, nồng độ nitrat và phosphat khá đồng đều
giữa các tầng. Nồng độ silicat có xu thế giảm từ
tầng 5 m đến 40 m. Nhìn chung, nồng độ tất
các muối dinh dưỡng tại các trạm gần cửa sông
luôn cao hơn khá rõ rệt, nhất là tầng 5 m.
Thời kỳ gió mùa Tây Nam (tháng 5/2015).
Vào thời kỳ gió mùa Tây Nam (tháng 5/2015),
các dẫn liệu theo tầng nước, mặt cắt trên toàn
vùng nghiên cứu được trình bày trong hình 2
cho thấy, tại khu vực biển Nam Trung Bộ muối
amonia xuất hiện ở các trạm thuộc vùng ven bờ
chủ yếu ở mặt cắt 2, 3 (tầng 5, 10 m), nồng độ
các muối nitrit và nitrat không có sự khác biệt
giữa các tầng. Cũng như thời kỳ mùa gió Đông
Bắc, muối nitrit ít xuất hiện trong thời kỳ này
và muối nitrat thường phân bố ở các trạm thuộc
khu vực gần bờ. Muối silicat phân bố ở các
trạm thuộc vùng ven bờ thuộc mặt cắt 2 (tầng
5 m và 10 m). Nồng độ các muối amoni và
silicat có xu thế giảm từ tầng 5 m đến 60 m.
Khu vực cửa sông Mê Kông vào thời kỳ
này nồng độ các muối amoni và nitrit thường
cao hơn thời kỳ gió mùa Đông Bắc và các muối
dinh dưỡng thường phân bố ở các trạm gần bờ
(khu vực các cửa sông, có độ sâu 5 - 10 m), các
muối amoni, nitrit phân bố ở các trạm thuộc
vùng ven bờ thuộc mặt cắt 5, 6, 7 (tầng 5 m).
Các muối nitrit, phosphat và silicat phân bố ở
các trạm thuộc vùng ven bờ thuộc các mặt cắt
5, 7 (tầng 5 m và 10 m). Các trạm gần vùng cửa
sông, nồng độ các muối dinh dưỡng nitrat,
phosphat và silicat có xu thế giảm từ tầng 5 m
đến tầng 20 m, nồng độ muối amoni và nitrit ở
tầng 5 m cao hơn tầng 20 m. Ở các trạm xa
vùng cửa sông, amoni chỉ phát hiện được tại
tầng 5 m trong khi nitrit chỉ phát hiện được tại
tầng 10 m, nồng độ các muối dinh dưỡng nitrat
và phosphat phân bố khá đồng đều tại các tầng,
nồng độ silicat giảm từ tầng 5 m đến tầng 40 m.
Nồng độ tất các muối dinh dưỡng (amoni,
nitrit, nitrat, phosphat, silicat) tại các trạm gần
cửa sông đều cao hơn khá rõ so với các trạm xa
vùng cửa sông, điều này cũng phù hợp với
nghiên cứu trước đây [6, 7]. Bên cạnh đó, các
dẫn liệu ở hình 2 cũng cho thấy khu vực gần
vùng cửa sông xu thế phân tầng vào thời kỳ
gió mùa Tây Nam tương đối rõ ràng hơn so
với thời kỳ gió mùa Đông Bắc, nguyên nhân
có thể là do vào thời kỳ gió mùa Đông Bắc,
vực nước có sự xáo trộn nhiều hơn so với thời
kỳ gió mùa Tây Nam [6]. Trong khi đó, tại
khu vực xa vùng cửa sông, xu thế phân tầng
của các muối dinh dưỡng không có sự khác
biệt giữa 2 thời kỳ.
Như vậy, ở cả 2 thời kỳ khảo sát nồng độ
các muối dinh dưỡng (amoni, phosphat, silicat)
thường phân bố tập trung dọc theo các trạm
thuộc vùng ven bờ và ở lớp nước trên cùng,
điều này cũng phù hợp với nghiên cứu trước
đây [2, 6, 7] trong cả 2 khu vực.
Số liệu khảo sát nhiều năm [1, 2, 4, 7] cho
thấy trong khu vực biển Nam Trung Bộ từ năm
1992 đến 2015, nồng độ các muối dinh dưỡng
biến động không rõ ràng mặc dù nồng độ
phosphat cao hơn vào giai đoạn 1992-1994,
2006 và 2015 và silicat cao hơn vào năm 2006
và 2015 trong thời kỳ gió mùa Tây Nam. Vào
thời kỳ gió mùa Đông Bắc, nồng độ phosphat
và silicat cao nhất vào tháng 10/2013. Trong
Phạm Hữu Tâm
108
khu vực cửa sông Mê Kông từ năm 2009 đến
2015, nồng độ các muối dinh dưỡng có xu thế
gia tăng vào cả 2 mùa nước lớn và nước ròng
trong khu vực gần bờ. Trong khu vực xa bờ, xu
thế biến động của các muối dinh dưỡng không
rõ ràng và ít thay đổi.
Hình 2. Phân bố của các muối dinh dưỡng tại khu vực Nam Trung Bộ
và vùng cửa sông Mê Kông theo các thời kỳ gió mùa
Phân bố nồng độ muối dinh dưỡng
109
Hình 2. Phân bố của các muối dinh dưỡng tại khu vực Nam Trung Bộ
và vùng cửa sông Mê Kông theo các thời kỳ gió mùa (tiếp)
Phạm Hữu Tâm
110
Ảnh hƣởng của điều kiện tự nhiên đến sự
phân bố của các muối dinh dƣỡng trong
vùng biển nam Việt Nam
Theo mùa. Giá trị thống kê nồng độ các muối
dinh dưỡng trong khu vực Nam Trung Bộ nơi
chịu ảnh hưởng của hoạt động nước trồi được
thống kê trong bảng 1 cho thấy, không có sự
khác biệt lớn về nồng độ các muối dinh dưỡng
giữa thời kỳ gió mùa Tây Nam (thời kỳ hoạt
động mạnh của hiện tượng nước trồi) và thời kỳ
gió mùa Đông Bắc. Điều này gợi ý, trong thời
kỳ gió mùa Tây Nam (năm 2015) hoạt động
nước trồi xảy ra với cường độ yếu.
Bảng 1. Giá trị thống kê nồng độ các muối dinh dưỡng tại khu vực Nam Trung Bộ
Thời gian Độ sâu Giá trị
NH3,4-N
(µg/l)
NO2-N
(µg/l)
NO3-N
(µg/l)
PO4-P
(µg/l)
SiO3- Si
(µg/l)
Tỉ số mol
N/P N/Si
10/2013
5 m
(n=19)
TB nd nd 32 7,21 358
9,81 0,18
STD nd nd 3,34 1,11 170,01
10 m
(n=19)
TB nd nd 32 7,72 306
9,14 0,21
STD nd nd 3,45 1,45 128,89
40 m
(n=16)
TB 0,19 2,41 33 8,26 235
9,55 0,30
STD 0,75 2,75 3,46 1,68 60,63
60 m
(n=15)
TB nd 1,92 35 8,79 249
9,28 0,30
STD nd 1,37 2,01 1,84 82,95
TCN
(n=69)
TB 0,04 0,98 33 7,94 291
9,44 0,23
STD 0,36 1,80 3,26 1,59 129,71
5/2015
5 m
(n=28)
TB 3,49 0,53 34 5,95 390
14,03 0,19
STD 8,33 1,17 1,74 1,57 138,12
10 m
(n=28)
TB 3,82 0,59 34 6,55 320
13,10 0,24
STD 9,10 1,14 1,85 1,56 106,11
40 m
(n=25)
TB 2,18 1,37 35 6,46 237
13,20 0,32
STD 8,91 2,22 1,92 1,52 85,24
60 m
(n=22)
TB 1,15 2,07 35 6,74 195
12,53 0,39
STD 3,35 2,72 2,70 1,83 82,83
TCN
(n=103)
TB 2,76 1,08 34 6,41 293
13,23 0,26
STD 7,90 1,94 2,09 1,62 129,54
Ghi chú: TB: Trung bình; STD: Độ lệch chuẩn; n: Số mẫu; TCN: Toàn cột nước; nd: không phát hiện được.
Tỷ số mol N/P vào thời kỳ gió mùa Đông
Bắc thường thấp hơn so thời kỳ gió mùa Tây
Nam, với các khoảng dao động tương ứng là
9,14 - 9,81 và 12,53 - 14,03. Như vậy tại khu
vực này, N luôn đóng vai trò yếu tố dinh dưỡng
giới hạn - limiting nutrient [8].
Tỷ số mol N/Si đều rất nhỏ, dao động trong
khoảng từ 0,18 - 0,39 ở cả 2 thời kỳ gió mùa,
điều đó chứng tỏ không có sự thiếu hụt của Si
so với N đối với sự phát triển của tảo silic [9].
Nồng độ các muối dinh dưỡng trong khu
vực cửa sông Mê Kông được thống kê trong
bảng 2 cho thấy vùng cửa sông Mê Kông
thường có nồng độ amoni, nitrit thấp hơn vào
thời kỳ gió mùa Đông Bắc trong khi nitrat và
silicat có xu thế biến đổi ngược lại. Điều này
thể hiện sự ảnh hưởng rất rõ ràng của hệ thống
sông Mê Kông đến vùng cửa sông khi mùa lũ
tràn về (thời kỳ gió mùa Đông Bắc).
Tỷ số phân tử N/P tại vùng cửa sông Mê
Kông ít có sự khác biệt giữa 2 thời kỳ gió
mùa (ngoại trừ giá trị cao ở tầng 20 m vào
thời kỳ gió mùa Đông Bắc), tỷ số này có
khoảng dao động từ 17,95 - 44,09 và tất cả
đều có giá trị lớn hơn chỉ số Redfield. Như
vậy tại vùng cửa sông Mê Kông, P lại đóng
vai trò yếu tố dinh dưỡng giới hạn ở cả 2 thời
kỳ gió mùa. Tỷ số phân tử N/Si cũng tương
đối nhỏ, dao động trong khoảng từ 0,10 -
0,70 ở cả 2 thời kỳ gió mùa.
Phân bố nồng độ muối dinh dưỡng
111
Bảng 2. Giá trị thống kê nồng độ các muối dinh dưỡng tại khu vực cửa sông Mê Kông
Thời gian Độ sâu Giá trị
NH3,4-N
(µg/l)
NO2-N
(µg/l)
NO3-N
(µg/l)
PO4-P
(µg/l)
SiO3-Si
(µg/l)
Tỉ số mol
N/P N/Si
10/2013
5 m
(n=17)
TB 1,86 3,14 56 6,67 1259
20,11 0,10
STD 0,62 6,68 12,25 0,92 615,07
10 m
(n=15)
TB 0,28 7,19 53 6,55 516
20,41 0,23
STD 1,08 8,59 23,89 1,34 234,90
20 m
(n=14)
TB nd 19,87 106 6,34 361
44,09 0,70
STD nd 20,61 68,43 0,60 131,56
TCN
(n=46)
TB 0,78 9,55 70 6,53 743
27,29 0,22
STD 4,34 14,51 49,79 1,15 869,47
5/2015
5 m
(n=20)
TB 19,27 2,81 39 6,50 569
20,72 0,21
STD 17,65 3,51 28,67 2,98 344,48
10 m
(n=18)
TB 13,61 2,29 33 5,98 386
17,95 0,25
STD 14,86 2,06 2,23 1,44 153,90
20 m
(n=18)
TB 15,83 2,42 34 6,31 242
18,35 0,43
STD 19,20 3,15 2,47 1,54 60,74
TCN
(n=56)
TB 16,35 2,52 35 6,27 405
19,10 0,27
STD 17,19 2,95 17,16 2,12 260,74
Ghi chú: TB: Trung bình; STD: Độ lệch chuẩn; n: Số mẫu; TCN: Toàn cột nước; nd: không phát hiện được.
Theo khu vực. Số liệu thống kê ở các bảng 1, 2
cho thấy ở khu vực Nam Trung Bộ, giá trị nồng
độ của muối silicat ít có sự khác biệt giữa các
tầng nước và giữa 2 thời kỳ gió mùa (giá trị
trung bình của muối silicat ở tầng 5 m trong 2
thời kỳ gió mùa Đông Bắc và Tây Nam lần lượt
là 358 µg/l và 390 µg/l). Vì vậy có thể nói ở
khu vực này ít chịu ảnh hưởng của nguồn nước
từ lục địa. Tuy nhiên, tại khu vực vùng cửa
sông Mê Kông (nơi tiếp nhận vật chất từ hệ
thống sông Mê Kông) có sự khác biệt rõ ràng
giá trị nồng độ của muối silicat giữa các tầng
nước (tập trung rất cao ở tầng 5 m) và giữa 2
thời kỳ gió mùa, đặc biệt vào thời kỳ gió mùa
Đông Bắc khi lượng nước ngọt từ hệ thống
sông Mê Kông ồ ạt đổ về hạ lưu (giá trị trung
bình của muối silicat ở tầng 5 m trong 2 thời kỳ
gió mùa Đông Bắc và Tây Nam lần lượt là
1259 µg/l và 569 µg/l). Điều này cho thấy ảnh
hưởng rất rõ ràng của hệ thống sông Mê Kông
đến vùng cửa sông và dẫn đến sự khác biệt về
phân bố của các muối dinh dưỡng ở 2 khu vực
của vùng nghiên cứu.
KẾT LUẬN
Tại khu vực biển Nam Trung Bộ, nhìn
chung ở cả 2 thời kỳ gió mùa (Đông Bắc và
Tây Nam) nồng độ các muối dinh dưỡng
(nitrat, phosphat, silicat) thường phân bố tập
trung dọc theo các trạm ven bờ, muối nitrat tập
trung phân bố chủ yếu ở các tầng 5 m và 10 m,
muối silicat thường tập trung ở các mặt cắt 1, 2,
3 (tầng 5 m). Theo chiều sâu cột nước, các
muối amoni, phosphat ít thay đổi nhưng muối
silicat có xu thế giảm dần.
Trong cả 2 thời kỳ gió mùa khu vực cửa
sông Mê Kông nồng độ các muối dinh dưỡng
luôn tập trung phân bố ở các trạm thuộc vùng
ven bờ (gần các cửa sông), hầu hết nồng độ các
muối dinh dưỡng đều phân bố tập trung ở lớp
nước trên cùng (tầng 5 m). Theo chiều sâu cột
nước, muối phosphat ít thay đổi và silicat có xu
thế giảm dần, nhất là vào thời kỳ gió mùa Đông
Bắc. Trong khu vực này, nồng độ các muối
dinh dưỡng nitrat và silicat ở khu vực gần bờ
vào thời kỳ gió mùa Đông Bắc cao hơn so với
thời kỳ gió mùa Tây Nam rất rõ ràng.
Muối dinh dưỡng (amoni, nitrat, nitrit,
phosphat, silicat) thường tập trung phân bố cao
ở vùng cửa sông Mê Kông so với vùng biển
Nam Trung Bộ. Xét tương quan N và P thấy là
N luôn đóng vai trò yếu tố dinh dưỡng giới hạn
ở khu vực Nam Trung Bộ, trong khi đó tại
vùng cửa sông Mê Kông thì có xu hướng
ngược lại.
Lời cảm ơn: Tác giả xin chân thành cảm ơn
ông Bùi Hồng Long, chủ nhiệm của “Nhiệm vụ
Phạm Hữu Tâm
112
HTQT về KHCN theo nghị định thư giữa Việt
Nam và Hoa Kỳ (2013-2015)” cho phép sử
dụng số liệu cũng như các đồng nghiệp ở
phòng Thuỷ địa hoá đã tạo điều kiện hoàn thiện
bài báo này.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Phạm Văn Thơm, 1996. Đặc trưng hóa học
vùng trồi mạnh. Các công trình về vùng trồi
mạnh Nam Trung Bộ. Nxb. Khoa học và Kỹ
thuật. Tr. 88-99.
2. Phạm Văn Thơm, 2009. Đặc điểm phân bố
của các muối dinh dưỡng. Hiện tượng nước
trồi trong vùng biển Việt Nam. Nxb. Khoa
học tự nhiên và Công nghệ. Tr. 81-92.
3. Phạm Hữu Tâm, 2012. Một số đặc trưng về
muối dinh dưỡng tại vùng biển Bình Thuận.
Kỷ yếu Hội nghị Quốc tế “Biển Đông
2012”. Nxb. Khoa học tự nhiên và Công
nghệ. Tr. 223-231.
4. Phạm Văn Thơm, 1992. Một số vấn đề địa
chất vùng thềm lục địa phía nam Việt Nam.
Tuyển Tập Nghiên Cứu Biển. Nxb. Khoa học
tự nhiên và Công nghệ. Tập 4. Tr. 73-87.
5. APHA, 2012. Standard methods for the
examination of water and wastewater. 22
nd
Edition. American Public Health
Association, Washington D.C.
6. Lê Thị Vinh, 1998. Một số dẫn liệu hoá học
vùng biển Đông Nam Bộ, Việt Nam. Tuyển
tập Nghiên cứu Biển. Nxb. Khoa học tự
nhiên và Công nghệ. Tập 8. Tr 29-36.
7. Lê Thị Vinh, 2012. Sự phân bố của các
muối dinh dưỡng tại vùng ven biển cửa
sông Mê Kông. Tạp chí Khoa học và Công
nghệ biển, 12(1), 57-66.
8. Redfield, A. C., 1958. The biological control
of chemical factors in the environment.
American Scientist, 46(3), 205-221.
9. Gilpin, L. C., Davidson, K., and Roberts,
E., 2004. The influence of changes in
nitrogen: silicon ratios on diatom growth
dynamics. Journal of Sea Research, 51(1),
21-35.
DISTRIBUTION OF NUTRIENTS IN THE
SOUTHERN MARINE REGION OF VIETNAM
Pham Huu Tam
Institute of Oceanography, VAST
ABSTRACT: The paper focused on the investigated results of two surveys in the Northeast
monsoon (October 2013) and in the Southwest monsoon (May 2015) of the task of international
cooperation in science and technology under the Protocol between Vietnam and the United States
(from 2013 to 2015 ), to consider the variation of nutrients in Southern marine region of Vietnam.
The data from two above surveys in the Southern marine region of Vietnam showed that in both
monsoon periods, the concentrations of nutrients (ammonia, nitrate, phosphate, silicate) were
distributed in coastal stations and near the Mekong estuaries), most of the concentrations of the
nutrients (nitrate, phosphate, silicate) were distributed on the top layer of waters (5 meters of water
layer). In South Central marine area (high upwelling region), the concentrations of nutrients (nitrate,
phosphate) were concentrated in coastal stations and on the top layer of waters in both monsoon
periods. In estuaries of the Mekong, the concentrations of nutrients (nitrate and silicate) in the
Northeast monsoon were usually higher than those in the Southwest monsoon in coastal stations.
The molecular ratios (N/P) showed that phosphorus (P) always played a role as a limiting nutrient in
area of the Mekong, meanwhile in the South Central marine area there was an opposite trend.
Keywords: Distribution, nutrients, monsoon, South Central marine area, the Mekong estuaries.
Các file đính kèm theo tài liệu này:
phan_bo_nong_do_muoi_dinh_duong_tai_vung_bien_phia_nam_viet.pdf