Mật độ cá thể và sinh khối của các nhóm mesofauna theo độ sâu
Độ sâu 0-10 cm: Các mẫu thu ở độ sâu này, đã xác định được 30 nhóm mesofauna
thuộc 20 bộ, 8 lớp với mật độ cá thể và sinh khối là 27,44 con/m2 và 17,26 g/m2.
Trong các nhóm mesofauna gặp ở độ sâu này, Glossoscolecidae có mật độ cá thể và
sinh khối cao nhất (18,26 con/m2, 6,16 g/m2).
Độ sâu 10-20 cm: Các mẫu thu được ở tầng đất này, đã xác định được 3 họ, 2 bộ thuộc
2 lớp giun ít tơ (Oligochaeta) và côn trùng (Insecta) với mật độ cá thể và sinh khối là
21,62 con/m2 và 10,12 g/m2. Trong đó, Glososcolecidae có mật độ cá thể và sinh khối
cao nhất nhất (18,70 con/m2, 8,94 g/m2), Moniligastridae có mật độ cá thể và sinh khối
thấp nhất (0,11 con/m2, 0,05 g/m2).
Độ sâu hơn 20 cm: Ở độ sâu này xác định được 3 họ (Glossoscolecidae, Megascolecidae,
Hemiptera) có mật độ cá thể và sinh khối là 6,93 con/m2 và 2,32 g/m2. Trong đó, họ
Glossoscolecidae có mật độ cá thể và sinh khối cao nhất (6,67 con/m2, 2,29 g/m2) còn
Cicadidae, nhóm có mật độ cá thể và sinh khối thấp nhất (0,53 con/m2, 0,05 g/m2).
Từ kết quả phân tích sự phân bố theo độ sâu của các nhóm mesaufona ở vùng nghiên cứu
có thể nhận thấy: Mật độ cá thể giảm theo thứ tự: độ sâu (0-10 cm) (27,44 con/m2), độ sâu
(10-20 cm) (21,62 con/m2), độ sâu (> 20 cm) (6,93 con/m2). Sinh khối giảm dần theo thứ
tự: Độ sâu (0-10 cm) (17,26 g/m2), độ sâu (10-20 cm) (10,12 g/m2), độ sâu (> 20 cm)
(2,32 g/m2). Như vậy mật độ cá thể và sinh khối của các nhóm động vật đất cỡ trung bình
giảm dần từ độ sâu (0-10 cm) đến độ sâu (10-20 cm) và thấp nhất ở độ sâu > 20 cm.
8 trang |
Chia sẻ: hachi492 | Lượt xem: 4 | Lượt tải: 0
Bạn đang xem nội dung tài liệu Phân bố theo sinh cảnh của giun đất và các nhóm động vật đất cỡ trung bình (mesofauna) ở huyện Trà Bồng, tỉnh Quảng Ngãi, để tải tài liệu về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
Tạp chí Khoa học, Trường Đại học Sư phạm, Đại học Huế
ISSN 1859-1612, Số 03(55)/2020: tr.123-130
Ngày nhận bài: 23/9/2020; Hoàn thành phản biện: 28/9/2020; Ngày nhận đăng: 30/9/2020
PHÂN BỐ THEO SINH CẢNH CỦA GIUN ĐẤT
VÀ CÁC NHÓM ĐỘNG VẬT ĐẤT CỠ TRUNG BÌNH (MESOFAUNA)
Ở HUYỆN TRÀ BỒNG, TỈNH QUẢNG NGÃI
NGUYỄN VĂN THUẬN1,*, HUỲNH THỊ TƯỜNG VY2
1Khoa Sinh học, Trường Đại học Sư phạm, Đại học Huế
2Trường THPT Phạm Văn Đồng, Quảng Ngãi
Email: thuan592002@gmail.com
Tóm tắt: Nghiên cứu đặc điểm phân bố theo sinh cảnh của giun đất và các
nhóm động vật đất cỡ trung bình (Mesofauna) ở huyện Trà Bồng, tỉnh
Quảng Ngãi được thực hiện ở 10 điểm. Kết quả phân tích mẫu vật thu được
từ tháng 10/2017 đến tháng 6/2018 đã xác định được 32 họ, 20 bộ và 8 lớp
thuộc 3 ngành: Thân mềm (Mollusca), Giun đốt (Annelida) và Chân khớp
(Arthropoda) phân bố trong các sinh cảnh khác nhau của vùng nghiên cứu.
Các nhóm mesofauna tập trung chủ yếu ở sinh cảnh vườn quanh nhà với mật
độ cá thể cao nhất (34,46 con/m2), thấp nhất ở sinh cảnh vùng đồi (24,12
g/m2). Mật độ cá thể và sinh khối của các nhóm động vật đất cỡ trung bình
giảm dần từ độ cao từ 100 m đến trên 600 m. Ở độ cao dưới 100 m, mật độ
cá thể và sinh khối lớn nhất (45,15 con/m2 và, 28,67 gr/m2), còn độ cao trên
600 m có mật độ cá thể và sinh khối thấp nhất (4,84 con/m2 và, 20,12 gr/m2).
Sự phân bố của các nhóm mesofauna theo độ sâu có sự sai khác rõ rêt. Hầu
hết các nhóm mesofauna tập trung ở độ sâu 0-10 cm với mật độ cá thể và
sinh khối cao nhất (27,44 con/m2 và 17,26 g/m2), thấp nhất ở độ sâu > 20 cm
(6,93 con/m2 và 2,32 g/m2).
Từ khóa: Phân bố động vật đất, Trà Bồng, Quảng Ngãi.
1. ĐẶT VẤN ĐỀ
Các nhóm động vật không xương sống cỡ trung bình (mesofauna) có vai trò quan trọng
trong hệ sinh thái đất (tham gia và quyết định nhiều hoạt tính sinh học của đất) và có
nhiều giá trị đối với đời sống của con người. Trà Bồng là huyện miền núi ở phía Tây
Bắc của tỉnh Quảng Ngãi, có địa hình khá phức tạp, bị chia cắt bởi các dãy núi có độ
dốc lớn và hệ thống sông suối phức tạp. Khu vực này có vị trí quan trọng trong hành
lang xanh miền Trung và được Uỷ ban nhân dân tỉnh Quảng Ngãi phê duyệt quy hoạch
xây dựng khu dự trữ thiên nhiên Tây Trà Bồng (Ủy Ban nhân dân tỉnh Quảng Ngãi,
2017). Những dữ liệu về động vật đất ở khu vực này còn rất hạn chế. Trước nghiên cứu
này, mới chỉ có ghi nhận 19 loài giun đất và 31 nhóm động vật mesofauna khác
(Nguyễn Văn Thuận và cs., 2006; Nguyễn văn Thuận và cs., 2019). Những tài liệu đã
công bố đó chỉ cung cấp thông tin về thành phần loài. Chưa có công bố nào đánh giá
hoặc phân tích về mối quan hệ sinh thái và đặc điểm phân bố của từng nhóm hoặc loài
động vật trong mỗi kiểu sinh cảnh cụ thể. Bài báo này cung cấp những dẫn liệu về đặc
điểm phân bố của giun đất và các nhóm mesofauna khác ở huyện Trà Bồng, tỉnh Quảng
124 NGUYỄN VĂN THUẬN, HUỲNH THỊ TƯỜNG VY
Ngãi làm cơ sở cho những nghiên cứu tiếp theo về động vật đất nói riêng và đa dạng
sinh học nói chung, góp phần cung cấp dữ liệu quan trọng đối với công tác xây dựng
khu dự trữ thiên nhiên Tây Trà Bồng.
2. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Mẫu động vật đất được thu từ những hố đào định tính và định lượng theo theo phương
pháp của Ghiliarov (1975). Mẫu vật được thu từ tháng 10/2017 đến tháng 6/2018 trong
các sinh cảnh: Rừng nguyên sinh (RNS); rừng thứ sinh (RTS); vùng đồi (VĐ); đất trồng
cây lâu năm (ĐTCLN); đất trồng cây ngắn ngày (ĐTCNN); vườn quanh nhà (VQN);
ven sông, khe, suối (VSS) và theo các độ cao (dưới 100 m, từ 100-300 m, từ 300-600m,
trên 600 m), độ sâu khác nhau (0-10 cm, 10-20 cm, > 20 cm) ở các xã: Trà Bình
(15°14’38” B, 108°36’48” Đ), Trà Phú (15°14’41” B, 108°34’18” Đ), Trà Xuân
(15°15’25” B, 108°31’31” Đ), Trà Giang (15°18’21” B, 108°34’25” Đ), Trà Tân
(15°11’28” B, 108°32’27” Đ), Trà Bùi (15°08’12” B, 108°30’53” Đ), Trà Sơn
(15°13’57” B, 108°30’49” Đ), Trà Thủy (15°17’38” B, 108°29’42” Đ), Trà Lâm
(15°14’02” B, 108°25’37” Đ) và Trà Hiệp (15°16’37” B, 108°23’56” Đ) của huyện Trà
Bồng, tỉnh Quảng Ngãi. Ngoài 37 hố đào định tính, có 126 hố đào định lượng được thu
trong các sinh cảnh: RNS (12), RTS (13), VĐ (28), ĐTCLN (14); ĐTCNN (13); VQN
(23) và VSS (23).
Mẫu vật được rửa sạch đất và các vụn hữu cơ bám ngoài, định hình sơ bộ trong formol
2% và bảo quản trong formol 4%. Đối với côn trùng và ốc cạn được bảo quản bằng cồn
700. Các nhóm mesofauna được định loại theo tài liệu của Thái Trần Bái (1983), Lưu
Tham Mưu và Đặng Đức Khương (2000), Nguyễn Đức Anh và Trần Thị Thanh Bình
(2006), Nguyễn Đức Khảm và cs. (2007), Tạ Huy Thịnh (2009), Schileyko (2011).
3. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN
3.1. Phân bố theo sinh cảnh của các nhóm mesofauna
Kết quả phân tích 2.455 cá thể mesofauna thu từ 37 hố đào định tính và 126 hố đào định
lượng của 4 đợt điều tra, đã xác định được 32 họ, 20 bộ và 8 lớp thuộc 3 ngành: Thân
mềm (Mollusca), Giun đốt (Annelida) và Chân khớp (Arthropoda) phân bố trong các sinh
cảnh khác nhau của vùng nghiên cứu (Bảng 1).
Bảng 1. Phân bố theo sinh cảnh của các nhóm mesofauna ở khu vực nghiên cứu
Tên khoa học
SINH CẢNH
R
N
S
R
T
S
V
Đ
Đ
T
C
L
N
Đ
T
C
N
N
V
Q N
V
S
S
GASTROPODA
I. NERITOPSINA
1 Pupinidae +
II. STYLOMMATOPHORA
2 Ariophantidae +
3 Bradybaenidae +
PHÂN BỐ THEO SINH CẢNH CỦA GIUN ĐẤT VÀ CÁC NHÓM ĐỘNG VẬT... 125
Tên khoa học
SINH CẢNH
R
N
S
R
T
S
V
Đ
Đ
T
C
L
N
Đ
T
C
N
N
V
Q N
V
S
S
4 Subulinidae +
5 Veronicellidae +
OLIGOCHAETA
III. HAPLOTAXIDA
6 Glossoscolecidae + + + + + + +
7 Megascolecidae + + + + + + +
8 Moniligastridae +
HIRUDINEA
IV. ARHYNCHOBDELLIDA
9 Hirudinidae +
ARACHNIDA
V. ARANEI
10 Salticidae + + +
VI. ACARINA
11 Ixodidae +
VII. PEDIPALPIDA
12 Telyphonidae +
CRUSTACEA
VIII. ISOPODA
13 Sphaeromatidae +
MYRIOPODA
IX. GEOPHILOMORPHA
14 Geophilidae + +
X. SCOLOPENDROMORPHA
15 Scolopendridae + + + + + +
DIPLOPODA
XI. JULIDA
16 Julidae + +
XII. POLYDESMIDA
17 Paradoxosomatidae +
18 Polydesmidae + +
INSECTA
XIII. BLATTOPTERA
19 Blaberidae + + +
XIV. COLEOPTERA
20 Carabidae + + + +
126 NGUYỄN VĂN THUẬN, HUỲNH THỊ TƯỜNG VY
Tên khoa học
SINH CẢNH
R
N
S
R
T
S
V
Đ
Đ
T
C
L
N
Đ
T
C
N
N
V
Q N
V
S
S
21 Elateridae +
22 Lampyridae +
23 Tenebrionidae +
24 Scarabaeidae + + + + + +
XV. DERMAPTERA
25 Anisolabididae + +
XVI. HEMIPTERA
26 Cicadidae +
27 Pentatomidae +
XVII. HYMENOPTERA
28 Formicidae + + + +
XVIII. ISOPTERA
29 Termitidae + + +
XIX. LEPIDOPTERA
30 Noctuidae + +
XX. ORTHOPTERA
31 Gryllidae + +
32 Gryllotapidae + + +
Tổng số nhóm 7 21 8 6 8 51 9
Ghi chú: Stt chỉ số họ mesofauna; số La Mã chỉ số bộ
Kết quả nghiên cứu cho thấy: ở huyện Trà Bồng, 4 họ Glossoscolecidae,
Megascoleccidae, Scolopendridae, Scarabaeidae sinh sống và phân bố rộng khắp trong
các sinh cảnh khác nhau; 16 họ chỉ sinh sống ở một trong số những sinh cảnh nghiên
cứu (Pupinidae, Ariophantidae, Bradybaenidae, Subulinidae, Veronicellidae,
Moniligastridae, Hirudinidae, Ixodidae, Telyphonidae, Sphaeromatidae,
Paradoxosomatidae, Elateridae, Lampyridae, Tenebrionidae, Cicadidae, Pentatomidae;
các họ còn lại được ghi nhận trong 2 - 4 sinh cảnh. Mặt khác, mức độ đa dạng của các
nhóm mesofauna thể hiện rõ sự khác biệt giữa các sinh cảnh nghiên cứu, cụ thể: RTS >
VQN > VSS > VĐ, ĐTCNN > RNS > ĐTCLN (Bảng 1).
3.2. Mật độ cá thể và sinh khối của các nhóm mesofauna
Dựa trên đặc điểm của thảm thực vật ở huyện Trà Bồng, tỉnh Quảng Ngãi, có thể chia
khu vực nghiên cứu thành 7 sinh cảnh: Rừng nguyên sinh; rừng thứ sinh; vùng đồi; đất
trồng cây lâu năm; đất trồng cây ngắn ngày; vườn quanh nhà; ven sông, khe, suối, kết
quả nghiên cứu được giới thiệu ở Hình 1.
Rừng nguyên sinh: Do hoạt động khai thác quá mức của con người nên diện tích rừng
PHÂN BỐ THEO SINH CẢNH CỦA GIUN ĐẤT VÀ CÁC NHÓM ĐỘNG VẬT... 127
nguyên sinh còn lại ít, tập trung ở hai xã Trà Lâm (đèo Eo Chim) và Trà Thuỷ (núi Cà Đú).
Ở sinh cảnh này đã xác định được 7 họ, 6 bộ thuộc 3 lớp với mật độ cá thể 12,94 con/m2 và
sinh khối là 24,98 g/m2. Trong đó, họ Glossoscolecidae có mật độ cá thể và sinh khối lớn
nhất (7,29 con/m2 và 13,32 g/m2), Scolopendridae có mật độ cá thể và sinh khối thấp
nhất (0,24 con/m2 và 0,05 g/m2).
Hình 1. Mật độ cá thể (con/m2), sinh khối (g/m2) của các nhóm mesofauna theo các sinh
cảnh, độ cao và độ sâu ở khu vực nghiên cứu
Rừng thứ sinh: Mẫu vật được thu ở các xã Trà Giang, Trà Thuỷ, Trà Hiệp, Trà Phú, Trà
Lâm và Trà Bùi. Trên cơ sở phân tích 201 cá thể, xác định được 21 họ, 14 bộ thuộc 8
lớp với mật độ cá thể và sinh khối là 44,67 con/m2 và 39,36 g/m2. Trong đó, họ
Glossoscolecidae có mật độ cá thể và sinh khối lớn nhất (26.67 con/m2 và 21,60 g/m2), họ
Subilinidae có mật độ cá thể và sinh khối thấp nhất (0,22 con/m2 và 0,11 g/m2).
Vùng đồi: Mẫu vật được thu ở các xã Trà Tân, Trà Bùi, Trà Hiệp và thị trấn Trà Xuân.
Đây là sinh cảnh khá phổ biến ở khu vực nghiên cứu, do hoạt động khai thác rừng nhưng
không được phục hồi dẫn đến mặt đất không được che phủ và bị xói mòn mạnh. Kết quả
phân tích 235 cá thể mesofauna thu được ở vùng đồi, đã xác đinh được 8 họ, 6 bộ thuộc 4
lớp; với mật độ cá thể và sinh khối lần lượt là 27,65 con/m2 và 24,12 g/m2. Trong đó, họ
Glossoscolecidae có mật độ cá thể và sinh khối lớn nhất (19,41 con/m2 và 8,08 g/m2), họ
Moniligastridae có mật độ cá thể và sinh khối thấp nhất (0,12 con/m2 và 0,06 g/m2).
Đất trồng cây lâu năm: Đất trồng cây lâu năm chiếm diện tích lớn nhất tại huyện Trà
Bồng thuộc 7 xã: Trà Phú, Trà Xuân, Trà Giang, Trà Bùi, Trà Sơn, Trà Thuỷ và Trà
Lâm. Ở sinh cảnh này, đã xác định được 6 họ, 4 bộ thuộc 3 lớp mesofauna với mật độ
cá thể và sinh khối là 32,84 con/m2 và 23,28 g/m2. Trong đó, họ Glossoscolecidae có mật
0
10
20
30
40
50
60
R
N
S
R
T
S
V
Đ
Đ
T
C
L
N
Đ
T
C
N
N
V
Q
N
V
S
S
<
1
0
0
m
1
0
0
-
3
0
0
m
3
0
0
-
6
0
0
m
>
6
0
0
m
0
-
1
0
c
m
1
0
-
2
0
c
m
>
2
0
c
m
Sinh cảnh Độ cao Độ sâu
1
2
,9
4
4
4
,6
7
2
7
,6
5 3
2
,8
4
2
8
,4
4
5
0
,5
7
2
7
,7
9
4
5
,1
5
4
3
,7
4
2
0
,1
7
4
,8
4
2
7
,4
4
2
1
,6
2
6
,9
3
2
4
,9
8
3
9
,3
6
2
4
,1
2
2
3
,2
8
1
5
,0
0
3
1
,8
2
1
3
,8
2
2
8
,6
7
1
1
,9
0
1
0
.1
2
2
,1
2
1
7
,2
6
1
0
,1
2
2
,3
2
Mật độ (con/m2)
Sinh khối (g/m2)
128 NGUYỄN VĂN THUẬN, HUỲNH THỊ TƯỜNG VY
độ cá thể và sinh khối lớn nhất (25,26 con/m2 và 18.88 g/m2), họ Gryllidae có mật độ cá
thể và sinh khối thấp nhất (0,21 con/m2 và 0,02 g/m2).
Đất trồng cây ngắn ngày: Đất trồng cây ngắn ngày thuộc các xã Trà Giang, Trà Bùi và
Trà Sơn. Ở sinh cảnh này gặp 8 họ, 5 bộ thuộc 3 lớp, có mật độ cá thể và sinh khối là
28,44 con/m2 và 15,00 g/m2. Trong đó, Glossoscolecidae có mật độ cá thể và sinh khối
cao nhất (24,00 con/m2 và 11,49 g/m2), các họ Scolopendridae, Anisolabididae và
Scarabaeidae có mật độ cá thể thấp nhất (0,22 con/m2), họ Anisolabididae có sinh khối
thấp nhất (0,02g/m2).
Vườn quanh nhà: Vườn quanh nhà là nơi chịu tác động nhiều của con người thông qua
các hoạt động sinh hoạt hàng ngày và canh tác. Các mẫu thu ở xã Trà Bình, Trà Phú,
Trà Thuỷ và Trà Xuân, đã xác định được 15 họ, 13 bộ thuộc 4 lớp, có mật độ cá thể và
sinh khối là 50,57 con/m2 và 31,82 g/m2. Trong đó, Glossoscolecidae có mật độ cá thể
và sinh khối cao nhất (41,14 con/m2 và 24,29 g/m2), các họ Geophilidae, Cicadidae và
Ixodidae cùng có mật độ cá thể và sinh khối thấp nhất (0,14 con/m2, 0,01g/m2).
Ven sông, khe, suối: Trên cơ sở phân tích 216 cá thể thu được tại 5 xã: Trà Phú, Trà
Tân, Trà Bùi, Trà Sơn, Trà Thuỷ đã xác định được 9 họ, 7 bộ thuộc 4 lớp với mật độ cá
thể và sinh khối là 27,79 con/m2 và 13,82 g/m2. Trong đó, Glossoscolecidae có mật độ
cá thể và sinh khối cao nhất (24,41 con/m2 và 8,32 g/m2), họ Gryllidae có mật độ cá thể
và sinh khối thấp nhất (0,14 con/m2, 0,01g/m2). Như vậy, mật độ cá thể giảm theo thứ
tự: VQN (50,67 con/m2), RTS (44,67con/m2), ĐTCLN (32,84 con/m2), ĐTCNN
(28,44 con/m2), VĐ (27,65 con/m2), VSS (27,79 con/m2). Sinh khối giảm theo thứ
tự: RTS (39,36 g/m2), VQN (31,82 g/m2), RNS (24,94 g/m2), VĐ (24,12 g/m2),
ĐTCLN (23,28 g/m2), ĐTCNN (15,00 g/m2), VSS (13,82 g/m2).
Mật độ cá thể và sinh khối của các nhóm mesofauna theo độ cao
Căn cứ vào địa hình, chúng tôi chia vùng nghiên cứu thành 4 mức độ cao so với mực
nước biển: Đai á nhiệt đới vùng đồng bằng có độ cao dưới 100 m, 100-300 m; đai á
nhiệt đới chân núi có độ cao từ 300-600 m; đai á nhiệt đới trên núi có độ cao trên > 600
m, kết quả nghiên cứu được giới thiệu ở Hình 1.
Độ cao dưới 100 m: Trên cơ sở phân tích 587 cá thể mesofauna thu được ở độ cao này
đã xác định được 11 họ, 7 bộ thuộc 8 lớp có mật độ cá thể và sinh khối là 45,15 con/m2
và 28,67 g/m2. Trong đó họ Glossoscolecidae có mật độ cá thể và sinh khối lớn nhất
(38.62 con/m2, 16,08 g/m2), Carabidae là nhóm có mật độ cá thể và sinh khối thấp nhất
(0,08 con/m2, 0,02 g/m2).
Độ cao từ 100-300 m: Trong 503 mẫu động vật đất cỡ trung bình được thu tại các xã
Trà Giang, Trà Bùi và Trà Thuỷ đã xác định được 26 họ, 16 bộ, thuộc 7 lớp mesofauna.
Ở độ cao này có mật độ cá thể và sinh khối là 43,74 con/m2 và 11,90 g/m2. Trong đó,
Glossoscolecidae có mật độ cá thể và sinh khối lớn nhất (35.74 con/m2, 6,10 g/m2), họ
Carabidae có mật độ cá thể và sinh khối thấp nhất (0,09 con/m2, 0,01 g/m2).
Độ cao từ 300-600 m: Từ phân tích 232 cá thể ở 2 xã Trà Lâm và Trà Hiệp đã xác định
được 8 họ, 7 bộ thuộc 3 lớp với mật độ cá thể và sinh khối là 20,17 con/m2 và 31,06
PHÂN BỐ THEO SINH CẢNH CỦA GIUN ĐẤT VÀ CÁC NHÓM ĐỘNG VẬT... 129
g/m2. Trong đó họ Glossoscolecidae có mật độ cá thể và sinh khối lớn nhất (17,83
con/m2, 6,31 g/m2), Julidae và Paradoxosomatidae cùng có mật độ cá thể và sinh khối
thấp nhất (0,27 con/m2, 0,03 g/m2).
Độ cao trên 600 m: Mẫu được thu ở Đèo Eo Chim thuộc xã Trà Lâm, ở độ cao này chỉ
gặp 3 họ (Glossoscolecidae, Megascolecidae, Scarabaeidae) với mật độ cá thể và sinh
khối là 4,84 con/m2 và 2,12 g/m2. Trong đó, Scarabaeidae có mật độ cá thể và sinh khối
thấp nhất (0,21 con/m2, 0,73 g/m2). Từ kết quả phân tích sự phân bố theo độ cao của các
nhóm mesaufona ở vùng nghiên cứu được thể hiện trong Hình 1. Mật độ cá thể giảm
theo trật tự độ cao: < 100 m (45,15 con/m2), 100-300 m (43,74 con/m2), 300-600 m
(20,17 con/m2) và trên 600 m (4,84 con/m2). Sinh khối giảm theo trật tự độ cao: <
100m (28.67 g/m2), 100-300 m (11,9 g/m2), 300-600 m (10,12 g/m2) và trên 600 m
(2,13 g/m2). Như vậy, mật độ cá thể và sinh khối của các nhóm động vật đất cỡ trung
bình giảm dần từ độ cao từ 100 m đến trên 600 m.
Mật độ cá thể và sinh khối của các nhóm mesofauna theo độ sâu
Độ sâu 0-10 cm: Các mẫu thu ở độ sâu này, đã xác định được 30 nhóm mesofauna
thuộc 20 bộ, 8 lớp với mật độ cá thể và sinh khối là 27,44 con/m2 và 17,26 g/m2.
Trong các nhóm mesofauna gặp ở độ sâu này, Glossoscolecidae có mật độ cá thể và
sinh khối cao nhất (18,26 con/m2, 6,16 g/m2).
Độ sâu 10-20 cm: Các mẫu thu được ở tầng đất này, đã xác định được 3 họ, 2 bộ thuộc
2 lớp giun ít tơ (Oligochaeta) và côn trùng (Insecta) với mật độ cá thể và sinh khối là
21,62 con/m2 và 10,12 g/m2. Trong đó, Glososcolecidae có mật độ cá thể và sinh khối
cao nhất nhất (18,70 con/m2, 8,94 g/m2), Moniligastridae có mật độ cá thể và sinh khối
thấp nhất (0,11 con/m2, 0,05 g/m2).
Độ sâu hơn 20 cm: Ở độ sâu này xác định được 3 họ (Glossoscolecidae, Megascolecidae,
Hemiptera) có mật độ cá thể và sinh khối là 6,93 con/m2 và 2,32 g/m2. Trong đó, họ
Glossoscolecidae có mật độ cá thể và sinh khối cao nhất (6,67 con/m2, 2,29 g/m2) còn
Cicadidae, nhóm có mật độ cá thể và sinh khối thấp nhất (0,53 con/m2, 0,05 g/m2).
Từ kết quả phân tích sự phân bố theo độ sâu của các nhóm mesaufona ở vùng nghiên cứu
có thể nhận thấy: Mật độ cá thể giảm theo thứ tự: độ sâu (0-10 cm) (27,44 con/m2), độ sâu
(10-20 cm) (21,62 con/m2), độ sâu (> 20 cm) (6,93 con/m2). Sinh khối giảm dần theo thứ
tự: Độ sâu (0-10 cm) (17,26 g/m2), độ sâu (10-20 cm) (10,12 g/m2), độ sâu (> 20 cm)
(2,32 g/m2). Như vậy mật độ cá thể và sinh khối của các nhóm động vật đất cỡ trung bình
giảm dần từ độ sâu (0-10 cm) đến độ sâu (10-20 cm) và thấp nhất ở độ sâu > 20 cm.
4. KẾT LUẬN
Các nhóm mesofauna tập trung chủ yếu ở sinh cảnh vườn quanh nhà với mật độ cá thể
cao nhất (34,46 con/m2), thấp nhất ở sinh cảnh vùng đồi (24,12 g/m2). Mật độ cá thể và
sinh khối của các nhóm động vật đất cỡ trung bình giảm dần từ độ cao từ 100 m đến
trên 600 m. Ở độ cao <100 m các nhóm động vật đất cỡ trung bình có mật độ cá thể và
sinh khối lớn nhất (45,15 con/m2 và, 28,67 gr/m2), còn độ cao > 600 m có mật độ cá thể
và sinh khối thấp nhất (4,84 con/m2 và, 20,12 gr/m2).
130 NGUYỄN VĂN THUẬN, HUỲNH THỊ TƯỜNG VY
Sự phân bố của các nhóm mesofauna theo độ sâu có sự sai khác rõ rệt. Hầu hết tập trung
ở độ sâu 0-10 cm và ở độ sâu này có mật độ cá thể và sinh khối cao nhất (27,44 con/m2
và, 17,26 g/m2), còn thấp nhất ở độ sâu > 20 cm (6.933 con/m2 và, 2,32 g/m2).
TÀI LIỆU THAM KHẢO
[1] Nguyễn Đức Anh, Trần Thị Thanh Bình (2006). Khóa định loại các họ của bộ Cuốn
chiếu mai (Diplopoda, Polydesmida) ở Việt Nam, Tạp chí Sinh học, 28(1), 30-34.
[2] Thái Trần Bái (1983). Giun đất Việt Nam (Hệ thống học, khu hệ, phân bố và địa lý
động vật học), Luận án Tiến sĩ Khoa học, Đại học Quốc gia M.V. Lomonosov, Nga
(bản dịch tiếng Việt).
[3] Nguyễn Đức Khảm, Nguyễn Tân Vương, Trịnh Văn Hạnh, Nguyễn Văn Quảng, Lê
Văn Triển, Nguyễn Thúy Hiền, Vũ Văn Nghiên, Ngô Trường Sơn, Võ Thu Hiền
(2007). Động vật chí Việt Nam, Tập 15, Bộ cánh đều-Isoptera, NXB Khoa học Kỹ
thuật, Hà Nội.
[4] Lưu Tham Mưu, Đặng Đức Khương (2000). Động vật chí Việt Nam, Tập 7, Họ Châu
chấu, Cào cào (Orthoptera, Acrididae), Họ Bọ xít Coreidae (Heteroptera), NXB Khoa
học và Kỹ thuật, Hà Nội.
[5] Tạ Huy Thịnh (2009). Danh lục các loài thuộc bộ Cánh da (Insecta: Dermaptea) ở Việt
Nam, Báo cáo khoa học về Sinh thái và Tài nguyên sinh vật lần thứ ba, 342-356.
[6] Nguyễn Văn Thuận, Nguyễn Thị Tường Vy (2006). Thành phần loài và đặc điểm phân
bố của giun đất tỉnh Quảng Ngãi, Tạp chí Khoa học Đại học Huế, 33, 25-29.
[7] Nguyễn Văn Thuận, Trần Văn Giang, Huỳnh Thị Tường Vy (2019). Nghiên cứu động
vật đất cỡ trung bình (Mesofauna) ở vùng Trà Bồng. tỉnh Quảng Ngãi. Tạp chí Khoa
học, Đại học Sư phạm, Đại học Huế, 03(53): 118-124.
[8] Ủy Ban nhân dân tỉnh Quảng Ngãi, (2017). Quyết định số 116/QĐ-UBND, ngày
02/02/2017 về việc phê duyệt quy hoạch bảo tồn đa dạng sinh học tỉnh Quảng Ngãi
đến năm 2025, định hướng đến năm 2030.
[9] Ghilliarov M. S. (1975). Methods of Soil Zoological Studies, Pub. Nauka, Moscow, 12-29.
[10] Schileyko, A. A. (2011). Check-list of land pulmonate molluscs of Vietnam (Gastropoda:
Stylommatophora), Ruthenica, Russian Malacological Journal, 21(1), 1-68.
Title: DISTRIBUTIONAL CHARACTERISTICS OF EARTHWORMS AND OTHER
MESOFAUNAL INVERTEBRATES IN TRA BONG DISTRICT, QUANG NGAI
PROVINCE
Abstract: Earthworms and other mesofauna invertebrates distribute in a wide range of habitats
within the study area. Result from our study indicated that invertebrates of the study area are
mostly common in gardens with a density of 34,46 individual per square meter and rarely found
in hilly soil habitats. The density and biomass of soil invertebrates decreased from the elevation
of 100 m to over 600 m. In the elevation of under 100m, the density and biomass of these
animals were the highest (45,15 individual/m2; 28,67 g/m2), and the lowest in over 600 m (4,84
individuals/m2; 20,12g/m2). The distribution of mesofauna groups were different in soil depth.
The density and biomass were the highest in the depth of 0-10 cm, and the lowest in a depth of
over 20 cm (6,93 individual/m2; 2,32g/m2).
Keywords: Distribution of earthworms, Tra Bong, Quang Ngai.
Các file đính kèm theo tài liệu này:
phan_bo_theo_sinh_canh_cua_giun_dat_va_cac_nhom_dong_vat_dat.pdf