Kết quả cho thấy cả 3 chủng đều có thể tiêu thụ
2 nguồn cơ chất trên. Tuy nhiên, khả năng xử lý
không rõ nét ở chủng G1, sau 12 ngày, khối lượng
rơm và bã mía còn lại lần lượt là 91,3% và 90,5%;
trong khi G3, D4 thể hiện khả năng này khá tốt. Sau
12 ngày, khối lượng rơm còn lại của 2 chủng G3 và
D4 lần lượt là 13,0% và 10,5% khối lượng ban đầu;
khối lượng bã mía cũng giảm còn 10,5% và 11,3%.
Chủng G1 mặc dù có vòng phân giải CMC lớn
nhưng khả năng sử dụng nguồn cellulose tự nhiên
kém có thể giải thích là do việc phân giải cellulose
một cách hiệu quả cần có sự hoạt động kết hợp của cả
3 enzyme trong hệ cellulase là endoglucanase,
exoglucanase, và β-glucosidase trong khi việc phân
giải CMC trên đĩa thạch mới chỉ có thể xác định định
tính khả năng sinh enzyme endoglucanase. Hơn nữa,
ngoài cellulose, các nguồn cơ chất tự nhiên là rơm và
bã mía còn được cấu tạo từ nhiều thành phần khác
như mannan, xylan, lignin do đó ngoài việc xác
định định lượng hoạt độ của 3 enzyme trong hệ
cellulase, khả năng sinh tổng hợp xylanase hay
ligninase cũng cần được kiểm tra để có thể tuyển
chọn ra những chủng có khả năng phân giải các
nguồn cơ chất từ phế thải nông nghiệp tốt.
4. Kết luận
Nhóm nghiên cứu đã phân lập được 21 chủng xạ
khuẩn có khả năng phân giải cellulose. Căn cứ theo
khóa phân loại Bergey và dựa vào hình dạng chuỗi
bào tử, 7 chủng D4, DE2, G9, G11, G14, K1, K4
được sơ bộ nhận định thuộc chi Streptomyces. 3
chủng G1, G3, D4 tạo vòng phân giải CMC cao; đặc
biệt chủng G3 và D4 phân hủy nguồn cellulose tự
nhiên là rơm và bã mía khá tốt mở ra tiềm năng ứng
dụng vào nông nghiệp.
6 trang |
Chia sẻ: hachi492 | Lượt xem: 9 | Lượt tải: 0
Bạn đang xem nội dung tài liệu Phân lập các chủng xạ khuẩn có khả năng phân giải cellulose, để tải tài liệu về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
Tạp chí Khoa học và Công nghệ 140 (2020) 065-070
65
Phân lập các chủng xạ khuẩn có khả năng phân giải cellulose
Isolation of Cellulose-Degrading Actinomycetes
Nguyễn Liêu Ba*, Hoàng Thị Phương Anh, Phạm Thu Hiền, Lê Thị Hồng Hậu
Trường Đại học Bách khoa Hà Nội - Số 1, Đại Cồ Việt, Hai Bà Trưng, Hà Nội
Đến Tòa soạn: 16-12-2018; chấp nhận đăng: 20-01-2020
Tóm tắt
Mục đích của nghiên cứu là phân lập các chủng xạ khuẩn có khả năng phân giải cellulose. 21 chủng có khả
năng phân giải cellulose được phân lập từ các mẫu đất và gỗ khác nhau như lá, rơm và gỗ mục thu thập
trên địa bàn thành phố Hà Nội và phân thành 6 nhóm màu khuẩn lạc: tím, hồng, trắng, xanh lá, xám và
vàng. Khả năng sinh enzyme cellulase của được xác định bằng sự xuất hiện của vòng halo trên môi trường
với nguồn cơ chất CMC xung quanh thỏi thạch chứa khuẩn lạc, sử dụng thuốc thử lugol. Hoạt tính cellulase
của các chủng phân lập được xác định định tính bằng cách đo đường kính vòng halo. Chủng G1, D4 và G3
thể hiện vòng phân giải lớn nhất với đường kính vòng halo lần lượt là 40mm, 40mm và 39mm. Khả năng sử
dụng nguồn cellulose tự nhiên (rơm, bã mía) của 3 chủng này mở ra triển vọng ứng dụng vào nông nghiệp.
Từ khóa: phân lập, xạ khuẩn, phân giải cellulose
Abstract
The aim of this study is to isolate cellulose-degrading Actinomycetes. Twenty one isolates of cellulolytic
Actinomycetes were isolated from different soil and woody habitats such as, leaves, straws and rotted wood
collected in Hanoi and were divided into six color groups of colony: purple-violet, pink, white, green, grey and
yellow. Cellulase production was indicated by the appearance of a pale halo on agar medium containing
CMC as substrate around the agar piece with colony on using lugol as an indicator. Cellulase activities of
isolates were determined qualitatively by measuring the diameters of halo zones. G1, D4 and G3, exhibited
the maximum zones of halo around the agar piece with diameter of 40mm, 40mm and 39mm respectively.
The abilities of degrading natural cellulose (straw, sugarcane bagasse) of these three strains open up
potential application in agriculture.
Keywords: Isolation, Actinomycetes, cellulose-degrading
1. Đặt vấn đề
Xạ* khuẩn là một nhóm vi khuẩn thật thuộc lớp
Actinobacteria, bộ Actinomycetales. Phần lớn xạ
khuẩn là các vi khuẩn Gram dương, hiếu khí, hoại
sinh, có cấu tạo dạng sợi phân nhánh. Chúng phân bố
rộng rãi trong tự nhiên, thường được thấy ở môi
trường đất, nước và là vi sinh vật đóng vai trò quan
trọng trong việc tái chế nguồn cơ chất từ phế phẩm
nông nghiệp [1,3]. Đặc biệt, xạ khuẩn có khả năng
phân giải cellulose - thành phần cấu tạo thành tế bào
thực vật [8].
Cellulose là nguồn carbon hữu cơ dồi dào nhất
trong tự nhiên và được tích tụ hàng năm với lượng rất
lớn trong nông nghiệp, công nghiệp, lâm nghiệp và
các phế phụ phẩm của các ngành kinh tế trên [7]. Hầu
hết các nghiên cứu về enzyme cellulase của các vi
sinh vật phân lập từ đất thường hướng về nấm, và khả
năng phân giải cellulose của xạ khuẩn ít được chú ý
[6]. Tuy nhiên, một số nghiên cứu cho thấy, hệ
*
Địa chỉ liên hệ: Tel: (+84) 947121115
Emai: ba.nguyenlieu@hust.edu.vn
enzyme cellulase của xạ khuẩn là enzyme ngoại bào
và chúng có khả năng tương tác với cellulose tương
tự như các enzyme trong hệ cellulase của nấm [8].
Thực tế, đất là nơi cư trú của xạ khuẩn cùng
nhiều loài vi sinh vật khác. Sự phát triển chậm của xạ
khuẩn so với các vi sinh vật đất khiến cho việc phân
lập xạ khuẩn từ đất trở nên khó khăn [5]. Do đó, sự
tìm kiếm các chủng xạ khuẩn có khả năng phân giải
cellulose mang ý nghĩa quan trọng. Bài báo này trình
bày kết quả phân lập xạ khuẩn có hoạt tính cellulase
từ các mẫu đất, lá, rơm, gỗ mục thu thập ở các địa
điểm khác nhau của thành phố Hà Nội cho mục đích
tuyển chọn sơ bộ để ứng dụng xử lý cellulose tự
nhiên.
2. Vật liệu và phương pháp
2.1. Thu thập mẫu
Mẫu đất, rơm, lá khô, gỗ mục được thu thập ở
Hà Nội, sau đó được giữ trong túi nhựa vô trùng và
bảo quản ở điều kiện khô.
Tạp chí Khoa học và Công nghệ 140 (2020) 065-070
66
2.2. Dụng cụ và hóa chất
Các dụng cụ, thiết bị sử dụng thuộc phòng thí
nghiệm Bộ môn Vi sinh – Hóa sinh – Sinh học phân
tử, Viện Công nghệ Sinh học và Công nghệ Thực
phẩm, Trường Đại học Bách Khoa Hà Nội. Hóa chất
sử dụng trong thí nghiệm là hóa chất của các hãng
Merck (Đức), Himedia (Ấn Độ) và từ Trung Quốc.
2.3. Phương pháp nghiên cứu
2.3.1. Phương pháp phân lập xạ khuẩn
Các mẫu đã thu thập được cắt và nghiền nhỏ. 1g
mẫu được cho vào bình tam giác vô trùng chứa sẵn
99ml nước cất vô trùng, sau đó được lắc ở nhiệt độ
30
°
C với tốc độ 150 vòng/phút trong 30 phút. Sau khi
đồng nhất, dịch huyền phù được pha loãng đến độ
pha loãng 10-12 bằng dung dịch nước muối sinh lý.
Với mỗi độ pha loãng từ 10-8-10-12, 0,1ml dịch pha
loãng được trải lên đĩa petri chứa sẵn môi trường
ISP4 (Tinh bột tan 10g/L, K2HPO4 1g/L, NaCl 1g/L,
MgSO4.7H2O 1g/L, CaCO3 2g/L, (NH4)2SO4 2g/L,
MgCl2.7H2O 0,001g/L, ZnSO4.4H2O 0,001g/L,
FeSO4 0,001g/L; pH 7) có bổ sung cycloheximide
(50µg/mL) sau đó đem ủ ở nhiệt độ 30°C trong 4 -7
ngày. Khuẩn lạc riêng rẽ được cấy ria sang đĩa petri
chứa môi trường ISP4 để làm thuần ở 30°C trong 4-7
ngày [9].
2.3.2. Phương pháp tuyển chọn dựa trên khả năng
phân giải cellulose
Các thỏi thạch có đường kính 6mm được lấy từ
các đĩa cấy ria các chủng xạ khuẩn sau đó đặt lên đĩa
thạch chứa sẵn môi trường ISP4 thay nguồn carbon
bằng CMC và ủ ở 30°C. Sau 4 ngày lugol được nhỏ
lên đĩa thạch để quan sát khả năng phân giải CMC.
Nếu thuốc thử lugol không bắt màu quanh thỏi thạch
tức là xạ khuẩn có khả năng phân giải CMC [10].
2.3.3. Phương pháp xác định một số đặc điểm hình
thái của các chủng phân lập
Các chủng phân lập được nuôi lỏng trong môi trường
ISP4 và môi trường cám gạo (môi trường ISP4 thay
nguồn carbon bằng cám gạo) trong 4 ngày trên máy
lắc tốc độ 150 rpm ở 30°C. Quan sát đặc điểm canh
trường và pellet tạo thành. Sử dụng canh trường làm
tiêu bản nhuộm tế bào và quan sát duới kính hiển vi
có độ phóng đại 1000 lần.
Hình 1: Khuẩn lạc các chủng phân lập
Tạp chí Khoa học và Công nghệ 140 (2020) 065-070
67
2.3.4. Phương pháp xác định khả năng phân giải
nguồn cellulose tự nhiên
Rơm được cắt thành những đoạn dài 3cm và bã
mía từ Nhà máy đường Lam Sơn được sấy khô ở
60
°
C. 50g rơm và bã mía khô mỗi loại được ngâm
trong 1L NaOH 1% (w/v) ở điều kiện phòng trong
24h sau đó được rửa bằng nước và sấy khô đến khối
lượng không đổi [4].
Các chủng xạ khuẩn thể hiện khả năng phân giải
CMC cao được tuyển chọn để tiếp tục kiểm tra khả
năng phân giải các nguồn cellulose tự nhiên. Sau khi
hoạt hóa, các chủng tuyển chọn được nuôi lỏng (thể
tích giống cấp 4%) trong môi trường ISP4 thay nguồn
carbon bằng rơm và bã mía ở 30°C với tốc độ lắc 150
rpm. Lượng bã mía và rơm còn lại sau 4, 8 và 12
ngày được rửa bằng dung dịch acid acetic/acid nitric
(80% acetic acid, 68% nitric acid (10/1, v/v)), sau đó
rửa lại bằng nước và được lọc qua rây có kích thước
0,03mm. Phần cellulose sau xử lý được sấy khô đến
khối lượng không đổi. Môi trường không cấy xạ
khuẩn được sử dụng làm mẫu kiểm chứng [2], [4].
3. Kết quả và thảo luận
3.1. Phân lập và sàng lọc các chủng xạ khuẩn có khả
năng phân giải cellulose
Từ các mẫu đất, gỗ mục, lá, nhóm nghiên cứu đã
phân lập được 23 chủng có các đặc điểm hình thái
khác nhau (hình 1).
Màu sắc khuẩn lạc, màu sắc mặt dưới khuẩn lạc,
kết cấu bề mặt và sắc tố hòa tan thể hiện khác nhau
giữa các chủng phân lập. Màu sắc khuẩn lạc phân
thành 6 nhóm: tím, hồng, trắng, xanh lá, xám đen,
vàng; trong đó đa số các chủng có hệ sợi khí sinh
màu xám đen (7 chủng) hoặc màu trắng (6 chủng).
Màu sắc mặt dưới của khuẩn lạc cũng khá đa dạng và
phần lớn có ánh vàng hoặc cam. Các chủng phân lập
có kết cấu bề mặt khuẩn lạc chủ yếu là nhung, ngoài
ra 1 số ít có kết cấu vôi, bột hoặc trơn. Chỉ có một số
chủng phân lập sinh sắc tố hòa tan làm thay đổi màu
của môi trường và màu của sắc tố hòa tan cũng rất
khác nhau giữa các chủng (Bảng 1).
Bảng 1: Đặc điểm khuẩn lạc các chủng phân lập
Nguồn Chủng
Màu khuẩn lạc
Kết cấu bề mặt Sắc tố hòa tan
Đường kính
vòng halo (mm) Hệ sợi khí sinh Mặt dưới
Mẫu đất 1
K1 Xám đen Vàng kem Nhung - 22,3 1,2
K4 - Hồng cam Trơn - 31,7 1,5
Mẫu đất 2 DE2 Xám đen Tím hồng Nhung - 34,0 1,7
Mẫu đất 3
X1 Vàng nâu Trắng Nhung - 33,0 1,0
X5 Trắng Vàng cam Nhung - 25,7 1,2
X6 Trắng Vàng cam Vôi Vàng nhạt 21,3 1,2
Mẫu đất 4
D1 Trắng Trắng ngà Nhung Tro nhạt 26,7 0,6
D4 Xám đen Xám nhạt Vôi Xám nhạt 40,3 0,6
D5 Trắng Vàng cam Nhung - 36,0 1,0
Mẫu gỗ
mục
G1 Phớt hồng Đỏ tím Nhung - 40,3 1,5
G3 Trắng Vàng cam Vôi Vàng nhạt 39,3 0,6
G4 Xám đen Nâu cam Nhung Nâu cam đậm 20,0 1,0
Mẫu lá 1
G7 Phớt hồng Cam Vôi Cam vàng 32,3 2,1
G8 Trắng Tím hồng Nhung Nâu nhạt 26,0 1,0
G9 Xanh xám Xanh nhạt Nhung Tro nhạt 17,3 0,6
G10 Trắng Vàng kem Vôi - 26,0 1,0
Mẫu lá 2
G11 Trắng xanh Kem Nhung Xám nhạt 17,0 0,0
G13 Xám trắng Vàng Nhung Xám xanh nhạt 25,0 1,0
G14 Xám đen Vàng chanh Nhung Vàng chanh 23,0 1,7
G16 Xám đen Cam Nhung Cam nhạt 25,7 0,6
Mẫu lá 3
P1 Xanh lá Trắng xanh Bột - 39,0 0,0
P4 Xanh đen viền trắng Nâu vàng Bột - 39,0 1,7
Mẫu rơm XK3 Hồng xám Nâu đen Nhung - 25,3 0,6
- : không sinh sắc tố hòa tan
Tạp chí Khoa học và Công nghệ 140 (2020) 065-070
68
Hình 2: Khả năng phân giải CMC của các chủng phân lập
Tiến hành kiểm tra khả năng phân giải CMC
của các chủng phân lập bằng phương pháp thỏi thạch
sử dụng thuốc thử lugol thấy xuất hiện vòng thủy
phân cơ chất xung quanh thỏi thạch (hình 2).
Kết quả thí nghiệm cho thấy tất cả 23 chủng
phân lập được đều có khả năng phân giải cơ chất
CMC (hình 2, bảng 1). Số liệu cũng chỉ ra rằng khả
năng này ở chủng G9 và G11 không lớn bằng các
chủng có cùng nguồn gốc (đường kính chỉ 17mm),
trong khi G1, D4, G3, P1, P4 có thể tạo vòng phân
giải CMC lớn hơn gấp 2,4 lần vòng phân giải CMC
của G9 và G11. Có thể nhận định sơ bộ rằng khả
năng này của 3 chủng G1, G3 và D4 tốt hơn cả trong
số các chủng phân lập.
3.2. Đặc điểm hình thái của các chủng phân lập
Nghiên cứu về đặc điểm hình thái các chủng
phân lập được thể hiện qua hình dạng tế bào, chuỗi
bào tử và đặc điểm sinh trưởng trong môi trường lỏng
của các chủng.
Hầu hết các chủng phân lập được là vi khuẩn
gram dương, có cấu tạo dạng sợi phân nhánh phức tạp
đan xen nhau như nấm nhưng không có vách ngăn,
kích thước tế bào tương tự vi khuẩn (hình 3). Đây là
đặc điểm hình thái đặc trưng của xạ khuẩn. Chủng P1
và P4 mặc dù có đường kính vòng phân giải CMC lớn
nhưng hình dạng và kích thước tế bào giống nấm nên
không được đưa vào bộ sưu tập các chủng xạ khuẩn.
Hình 3: Hình dạng tế bào chủng G14 dưới kính hiển
vi với hệ số phóng đại 1000
Hình 4. Bào tử của một số chủng xạ khuẩn phân lập có dạng xoắn của chi Streptomyces dưới kính hiển vi với hệ
số phóng đại 100
Tạp chí Khoa học và Công nghệ 140 (2020) 065-070
69
Qua hình 4 dễ thấy các chủng D4, DE2, G9,
G11, G14, K1, K4 có hình dạng chuỗi bào tử xoắn
đặc trưng của chi Streptomyces.
Xạ khuẩn có khả năng sản sinh ra sắc tố hòa tan
khuếch tán vào dịch canh trường. Đối với các môi
trường khác nhau, mỗi loài xạ khuẩn lại sinh ra sắc tố
hòa tan với màu sắc khác nhau. Đây cũng là 1 đặc
điểm quan trọng trong việc phân loại và định danh xạ
khuẩn [1]. Màu sắc của pellet, màu của dịch canh
trường khi nuôi các chủng phân lập trong môi trường
lỏng ISP4 và môi trường cám gạo được thể hiện qua
hình 4 và mô tả chi tiết tại bảng 3.
Sự hình thành pellet và tổng hợp sắc tố của các
chủng xảy ra đồng thời sau 3-4 ngày nuôi cấy. Đối
với một số chủng như X6, D4, G3, G4, G10, G14, và
XK3, màu của pellet gần với màu của dịch nuôi. Một
số chủng khác màu của pellet không tương đồng với
màu của sắc tố tạo thành điển hình là các chủng G8,
K1, D5, DE2 trong môi trường ISP4 (bảng 3).
Khi nuôi trong môi trường có thành phần khác
nhau, màu sắc của pellet và màu của canh trường
nuôi cấy các chủng xạ khuẩn khác nhau là khác nhau
và thay đổi không theo quy luật. Sự khác biệt rõ rệt
nhất có thể quan sát được từ kết quả của chủng G1 và
G8. Pellet trong môi trường cám gạo của 2 chủng G1
và G8 có màu sắc lần lượt là tím và tím đậm trong khi
ở môi trường ISP4, 2 chủng này tạo pellet có màu lần
lượt là trắng và vàng sáng (hình 5).
Hình 5. Màu sắc dịch canh trường và pellet chủng G1
và G8 trên môi trường (a) ISP4 và (b) cám gạo
Bảng 3: Màu sắc của pellet và dịch nuôi xạ khuẩn trên môi trường ISP4 và môi trường cám gạo
Chủng
Môi trường cám gạo ISP4
Màu pellet Màu môi trường Màu pellet Màu môi trường
K1 Nâu xám Vàng nhạt Cam đậm -
K4 Hồng nâu Ánh vàng Trắng ngà -
DE2 Hồng Vàng nhạt Hồng nhạt Trắng
X1 Nâu sáng Nâu cam Nâu cam -
X5 Vàng xám Vàng xám Trắng ngà Trắng
X6 Nâu đậm Nâu cam Nâu cam đậm Cam nâu
D1 Trắng ngà Vàng xanh nhạt Trắng Trắng
D4 Nâu đậm Vàng nâu nhạt Nâu đậm Nâu
D5 Nâu nhạt Vàng nâu nhạt Vàng nâu nhạt -
G1 Tím Vàng tím nhạt Trắng Trắng
G3 Vàng nhạt Vàng nhạt Nâu đồng Cam nâu
G4 Nâu nhạt Cam nâu đậm Cam nâu Nâu đỏ đậm
G7 Vàng nhạt Vàng Nâu nhạt Vàng
G8 Tím đậm Nâu nhạt Vàng sáng -
G9 Nâu xám Vàng xám nhạt Đen xám Xám đen nhạt
G10 Vàng Vàng Vàng chanh đậm Vàng chanh đậm
G11 Xanh xám Vàng nhạt Vàng xám Xám nhạt
G13 Nâu cam nhạt Vàng nhạt Cam đậm Vàng nhạt
G14 Cam Vàng chanh Trắng vàng Vàng chanh nhạt
G16 Nâu cam đậm Nâu Cam đậm Nâu nhạt
XK3 Vàng nâu nhạt Vàng nâu nhạt Trắng -
- : không sinh sắc tố hòa tan
Tạp chí Khoa học và Công nghệ 140 (2020) 065-070
70
3.3. Khả năng phân giải nguồn cellulose tự nhiên
Các chủng G1, G3 và D4 với đường kính vòng
phân giải CMC cao được tiến hành kiểm tra khả năng
sử dụng nguồn cellulose tự nhiên là rơm và bã mía.
Bảng 4: Tỷ lệ khối lượng cơ chất cellulose còn lại so
với khối lượng ban đầu sau 4, 8 và 12 ngày xử lý (%)
G1 G3 D4
Bã
mía
4 ngày 98,3 0,0 32,5 0,3 50,8 0,4
8 ngày 92,9 0,1 26,8 0,4 20,5 0,3
12 ngày 90,5 0,1 10,5 0,3 11,3 0,3
Rơm
4 ngày 98,7 0,0 30,3 0,1 37,0 0,2
8 ngày 95,7 0,0 22,5 0,3 22,5 0,1
12 ngày 91,3 0,0 13,0 0,2 10,5 0,1
Kết quả cho thấy cả 3 chủng đều có thể tiêu thụ
2 nguồn cơ chất trên. Tuy nhiên, khả năng xử lý
không rõ nét ở chủng G1, sau 12 ngày, khối lượng
rơm và bã mía còn lại lần lượt là 91,3% và 90,5%;
trong khi G3, D4 thể hiện khả năng này khá tốt. Sau
12 ngày, khối lượng rơm còn lại của 2 chủng G3 và
D4 lần lượt là 13,0% và 10,5% khối lượng ban đầu;
khối lượng bã mía cũng giảm còn 10,5% và 11,3%.
Chủng G1 mặc dù có vòng phân giải CMC lớn
nhưng khả năng sử dụng nguồn cellulose tự nhiên
kém có thể giải thích là do việc phân giải cellulose
một cách hiệu quả cần có sự hoạt động kết hợp của cả
3 enzyme trong hệ cellulase là endoglucanase,
exoglucanase, và β-glucosidase trong khi việc phân
giải CMC trên đĩa thạch mới chỉ có thể xác định định
tính khả năng sinh enzyme endoglucanase. Hơn nữa,
ngoài cellulose, các nguồn cơ chất tự nhiên là rơm và
bã mía còn được cấu tạo từ nhiều thành phần khác
như mannan, xylan, lignin do đó ngoài việc xác
định định lượng hoạt độ của 3 enzyme trong hệ
cellulase, khả năng sinh tổng hợp xylanase hay
ligninase cũng cần được kiểm tra để có thể tuyển
chọn ra những chủng có khả năng phân giải các
nguồn cơ chất từ phế thải nông nghiệp tốt.
4. Kết luận
Nhóm nghiên cứu đã phân lập được 21 chủng xạ
khuẩn có khả năng phân giải cellulose. Căn cứ theo
khóa phân loại Bergey và dựa vào hình dạng chuỗi
bào tử, 7 chủng D4, DE2, G9, G11, G14, K1, K4
được sơ bộ nhận định thuộc chi Streptomyces. 3
chủng G1, G3, D4 tạo vòng phân giải CMC cao; đặc
biệt chủng G3 và D4 phân hủy nguồn cellulose tự
nhiên là rơm và bã mía khá tốt mở ra tiềm năng ứng
dụng vào nông nghiệp.
Tài liệu tham khảo
[1] Nguyễn Lân Dũng, Nguyễn Đình Quyến, Phạm Văn
Ty, Vi sinh vật học, 39-42, Nhà xuất bản Giáo dục
Việt Nam, 2012.
[2] Bian, Jing & Peng, Feng & Peng, Xiao-Peng & Pai,
Peng & Xu, Feng & Sun, Run-Cang, Acetic acid
enhanced purification of crude cellulose from
sugarcane bagasse: Structural and morphological
characterization. BioResources. 7(4) (2012),4626-
4639.
[3] Chaudhary, B.S., A. R. Shrivastava, S. Shrivastava,
Diversity and versatility of actinomycetes and its role
in antibiotic production. Journal of Applied
Pharmaceutical Science, 3(8) (2013), 83-94.
[4] Hongyan Zhao, Hairu Yu, Degradation of
Lignocelluloses in Rice Straw by BMC-9, a
Composite Microbial System, J. Microbiol.
Biotechnol., 24(5) (2014), 585–591
[5] Jeffrey, L. S. H, Isolation, characterization and
identification of actinomycetes from agriculture soils
at Semongok, Sarawak. African Journal of
Biotechnology, 7(20) (2008), 3700-3705.
[6] Malherbe, S.C., Thomas, Lignocellulose
biodegradation: Fundamentals and applications.
Reviews in Environmental Science and
Bio/Technology, 1 (2002), 105-114
[7] Mandels, M. Microbiological source of cellulase.
Biotechnology and Bioengineering symposium. 5
(1975), 81-105
[8] McCarthy, A.J., Lignocellulose-degrading
Actinomycetes. FEMS Microbiology Letters, 46(2)
(1987), 145-163.
[9] Ravi Ranjan Kumar, V.J.J., Isolation of
Actinomycetes: A Complete Approach. International
Journal of Current Microbiology and Applied
Sciences, 5(5) (2016), 606-618
[10] Swati Deep, Pratibha Sharma, Niranjan Behera,
Optimization of extracellular cellulase enzyme
production from Alternaria brassicicola, International
Journal of Current Microbiology and Applied Science
3(9) (2014), 127-139
Các file đính kèm theo tài liệu này:
phan_lap_cac_chung_xa_khuan_co_kha_nang_phan_giai_cellulose.pdf