Hợp chất (2) thu được dưới dạng bột,
màu trắng, dễ tan trong methanol.
Phổ 13C và 1H-NMR của hợp chất (2)
tương tự như hợp chất (1), tuy nhiên có
thêm 1 nhóm oxymethyl ở δC 52,4 tương
quan với proton ở δH 3,84 (3H, s, OMe),
cho thấy hợp chất (2) là 1 saponin
triterpen khung oleanolic với 2 đơn vị
đường là β-D-GlcA, β-D-Glc và 1 nhóm
oxymethyl. Phổ HMBC cho thấy proton
oxymethyl ở δH 3,84 (3H, s, OMe) tương
tác với carbon carbonyl δC 170,0, đã xác
định β-D-GlcA đã bị methyl hóa ở vị trí
C-6. Ngoài ra, 2 proton anomer ở δH
4,93 (1H, d, J = 7,5 Hz, H-1) và 4,96
(1H, d, J = 7,5 Hz, H-1) lần lượt tương
tác với 2 carbon ở δC 89,2 (C-3) và 82,3
(C-4) giống hợp chất (1). Từ dữ liệu
phổ NMR và so sánh với tài liệu bố (Vo,
D.H. et al, 1998), chúng tôi nhận danh
hợp chất (2) là: acid 3-O-[β-Dglucopyranosyl-(14)]--D-(6-Omethyl) glucuronopyranosyloleanolic.
Hợp chất PF10 (3) thu được dưới
dạng bột, màu trắng, dễ tan trong methanol.
Phổ 13C và 1H-NMR của hợp chất (3)
tương tự như hợp chất (1), cho thấy hợp
chất (3) cũng là 1 saponin triterpen
khung oleanolic với 2 đơn vị đường là β-
D-GlcA, β-D-Glc. Phổ HMBC cho thấy
proton anomer ở δH 4,79 (1H, d, J = 8,0
Hz, H1) tương tác với carbon oxymethin ở δC 88,8 (C3); chứng tỏ β-D-GlcA
gắn vào aglycon ở C3. Ngoài ra, còn cho
thấy tương tác giữa proton anomer ở δH
6,14 (1H, d, J = 8,0 Hz, H1) với carbon
carbonyl δC 176,6 (C28), chứng tỏ β-DGlc gắn vào aglycon ở C-28. Từ dữ liệu
phổ NMR và so sánh với tài liệu (Vo,
D.H. et al, 1998), chúng tôi nhận danh
hợp chất (3) là: 3-O--D-glucuronopyranosylolea-nolic 28-O-β-D-glucopyranosyl ester.
9 trang |
Chia sẻ: hachi492 | Lượt xem: 8 | Lượt tải: 0
Bạn đang xem nội dung tài liệu Phân lập một số saponin từ lá cây đinh lăng (polyscias fruticosa (L) harms), để tải tài liệu về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
Tạp chí Nghiên cứu khoa học và Phát triển kinh tế Trường Đại học Tây Đô Số 06 - 2019
181
PHÂN LẬP MỘT SỐ SAPONIN TỪ LÁ CÂY ĐINH LĂNG
(POLYSCIAS FRUTICOSA (L.) HARMS)
Đỗ Văn Mãi1,2, Nguyễn Tấn Phát3,4 và Trần Công Luận2*
1Đại học Y Dược Thành phố Hồ Chí Minh
2Khoa Dược – Điều dưỡng, Trường Đại học Tây Đô
3Học viện Khoa học & Công nghệ-Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam
4Học viện Công nghệ hoá học-Viện Khoa học và Công nghệ Việt Nam
(Email: dvmai@tdu.edu.vn)
Ngày nhận: 13/2/2019
Ngày phản biện: 11/4/2019
Ngày duyệt đăng: 10/5/2019
TÓM TẮT
Các huyện miền núi thuộc tỉnh An Giang được xem là vùng dược liệu nổi tiếng ở Đồng
bằng sông Cửu Long với nhiều loài dược liệu quý trong đó có cây Đinh lăng nhưng chưa
có nhiều nghiên cứu sâu về thành phần hóa học trồng tại khu vực này. Vì thế vấn đề này
cần thiết được nghiên cứu nhằm phát triển và bảo tồn nguồn dược liệu quý của tỉnh An
Giang. Lá cây Đinh lăng trồng tại An Giang được thu mẫu, chiết và tách phân đoạn bằng
kỹ thuật chiết ngấm kiệt và chiết lỏng - lỏng, thu được các cao phân đoạn. Các cao phân
đoạn được phân lâp tiếp tục bằng kỹ thuật sắc ký và được xác định cấu trúc hóa học bằng
phổ cộng hưởng từ hạt nhân. Kết quả phân lập được 3 hợp chất saponin triterpen bao gồm:
Ladyginosid A (1), acid 3-O-[β-D-glucopyranosyl-(14)]--D-(6-O-methyl) glucurono-
pyranosyloleanolic (2), 3-O--D-glucuronopyranosy-loleanolic 28-O-β-D-glucopyra-nosyl
ester (3). Cấu trúc được xác định bởi cộng hưởng từ hạt nhân 1 chiều 2 chiều NMR và so
sánh với tài liệu tham khảo. Ba hợp chất trên được tìm thấy có trong lá cây Đinh lăng cung
cấp số liệu cơ bản cho các nghiên cứu sâu hơn về tác dụng dược lý sau này.
Từ khóa: Đinh lăng, Polyscias fruticosa, Araliaceae, saponin triterpen.
Trích dẫn: Đỗ Văn Mãi, Nguyễn Tấn Phát và Trần Công Luận, 2019. Phân lập một số
saponin từ lá cây Đinh lăng (Polyscias fruticosa (L.) Harms). Tạp chí Nghiên
cứu khoa học và Phát triển kinh tế Trường Đại học Tây Đô. 06: 181-189.
*PGS.TS. Trần Công Luận, Trưởng Khoa Dược - Điều dưỡng, Trường Đại học Tây Đô
Tạp chí Nghiên cứu khoa học và Phát triển kinh tế Trường Đại học Tây Đô Số 06 - 2019
182
1. ĐẶT VẤN ĐỀ
Cây Đinh lăng có tên khoa học là
Polyscias fruticosa (L.) Harms, thuộc họ
Nhân sâm (Araliaceae), là một cây thuốc
quý được sử dụng nhiều để làm thuốc ở
Việt Nam. Theo chuyên luận Dược điển
Việt Nam V thì Đinh lăng có tác dụng bổ
khí, lợi sữa, giải độc; điều trị suy nhược
cơ thể và suy nhược thần kinh, tiêu hóa
kém (Bộ Y tế, 2018).
Đinh lăng có chứa 2 nhóm hợp chất
chính và quan trọng là hợp chất saponin
(Chaboud, et al., 1995; Vo Duy Huan et
al, 1998) và polyacetylen (Lutomski, J.
and Tran Cong Luan, 1992). Trong
những năm gần đây nhiều tác giả đã
phân lập được hơn 12 saponin triterpen
(Vo, D.H. et al, 1998; Proliac, A. et al.,
1996; Chaboud, A. et al., 1996; Tran Thi
Hong Hanh et al, 2016) và 5 hợp chất
polyacetylen (Lutomski, J. and Tran
Cong Luan, 1992) trong lá và rễ Đinh
lăng. Tuy nhiên, hợp chất saponin là
thành phần đáng quan tâm nhất trong
Đinh lăng. Với hy vọng tìm ra hợp chất
mới để tăng giá trị của loài này ngoài 12
saponin được công bố thì trong bài báo
này, chúng tôi trình bày kết quả phân lập
và xác định cấu trúc 3 saponin triterpen
từ cao n-butanol của lá cây Đinh lăng.
Trong đó có 1 saponin lần đầu được
phân lập từ lá Đinh lăng. Đây là một
định hướng mới cho nghiên cứu tác
dụng sinh học về sau.
2. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1. Nguyên liệu nghiên cứu
Nguyên liệu dùng trong nghiên cứu là
lá cây Đinh lăng 3 năm tuổi được trồng
và thu hái tại huyện Tri Tôn, tỉnh An
Giang. Căn cứ vào đặc điểm hình thái
của mẫu nghiên cứu, sử dụng khóa phân
loại chi Polyscias, đối chiếu với các tiêu
bản và bản mô tả loài theo tài liệu tham
khảo (Đỗ Tất Lợi, 2013; Võ Văn Chi,
2012), các mẫu nghiên cứu đã được xác
định chính xác tên khoa học là Polyscias
fruticosa (L.) Harms.
Mẫu phân tích được rửa sạch, loại bỏ
phần sâu bệnh, sấy khô bằng tủ sấy ở
nhiệt độ khoảng 40 – 50 oC , xay nhỏ
thành bột lưu tại Bộ môn Dược liệu,
Khoa Dược – Điều dưỡng, Trường Đại
học Tây Đô để sử dụng cho nghiên cứu.
2.2. Phương pháp nghiên cứu
2.2.1. Hóa chất và thiết bị
Các phổ cộng hưởng từ hạt nhân:
1
H-
NMR,
13
C-NMR, DEPT, COSY, HSQC,
HMBC được ghi trên máy BRUCKER
AVANCE (500 MHz) độ dịch chuyển
hoá học tính theo (ppm), hằng số
tương tác (J) tính bằng Hz. Phổ khối
lượng được đo trên máy AGILENT
TECHNOLOGIES 6120 (Quadrupole
LC/MS). Sắc ký lớp mỏng (TLC) được
thực hiện trên bản nhôm silica gel
Merck-GF60F254 tráng sẵn, kích thước
20 × 20 cm, độ dày lớp hấp phụ 0,2 mm
của hãng Merck, Germany. Sắc ký cột
trung áp dùng silica gel 60, Merck,
đường kính hạt 0,040-0,063 mm; diaion
HP-20; silica gel pha đảo RP - 18 (cỡ
hạt 30 - 50 µm).
Tạp chí Nghiên cứu khoa học và Phát triển kinh tế Trường Đại học Tây Đô Số 06 - 2019
183
2.2.2. Chiết xuất và thu cao phân
đoạn
Bột lá cây Đinh lăng (859,4 g) được
chiết ngấm kiệt liên tục với khoảng 69
lít ethanol (EtOH) 96%, lọc bỏ bã, phần
dịch chiết được cô loại dung môi dưới
áp suất thấp thu được cao thô EtOH
(156,3 g). Sau đó, cao thô EtOH được
thêm ít nước chiết lỏng-lỏng lần lượt với
diethyl ether (Et2O), ethyl acetat
(EtOAc), n-butanol (n-BuOH) (Nguyễn
Kim Phi Phụng, 2007) thu được các cao
tương ứng Et2O (46,9 g), EtOAc (6,8 g),
n-BuOH (50,0 g) và dịch nước.
2.2.3. Phương pháp phân lập
Cao n-BuOH (50 g) tiến hành phân
lập bằng sắc ký cột (SKC) với pha tĩnh
là diaion HP – 20. Hệ dung môi lần lượt
là nước, 50% MeOH, 80% MeOH,
MeOH và Me2CO. Kết quả thu được 5
phân đoạn chính là PFN01-PFN05 tương
ứng.
Phân đoạn PFN02 (8 g) tiến hành
SKC pha thường rửa giải với hệ dung
môi tăng dần độ phân cực CHCl3-MeOH
(100:0, 90:10, 80:20, 70:30, 0:100). Kết
quả thu được 7 phân đoạn tương ứng từ
PFN02.1-PFN02.7 (khối lượng lần lượt
là 0,2 g, 0,2 g, 0,3 g, 0,7 g, 1,0 g, 0,5 g,
0,6 g).
Phân đoạn PFN02.2 (1,0 g) SKC pha
thường với hệ dung môi tăng dần độ
phân cực CHCl3-MeOH-H2O (90:10:0,
85:15:0, 85:15:1, 80:20:1, 75:25:1). Kết
quả thu được 5 phân đoạn tương ứng
PFN02.2.1- PFN02.2.5 (0,032 g, 0,07 g,
0,11 g, 0,15 g, 0,085 g).
Phân đoạn PFN02.2.4 (0,15 g) SKC
pha thường nhiều lần với dung môi
CHCl3-MeOH- H2O (80:20:0,1) và sắc
ký cột pha đảo hệ MeOH- H2O (50:50).
Kết quả thu được 01 hợp chất sạch ký
hiệu là PF02 (1) (16 mg).
Phân đoạn PFN03 (11 g) tiến hành
SKC pha thường rửa giải với hệ dung
môi tăng dần độ phân cực CHCl3-MeOH
(100:0, 90:10, 80:20, 70:30, 0:100). Kết
quả thu được 5 phân đoạn tương ứng từ
PFN03.1-PFN03.5 (khối lượng lần lượt
là 0,4 g, 2,5 g, 2,0 g, 3,0 g, 2,0 g).
Phân đoạn PFN03.2 (2,5 g) SKC pha
thường với hệ dung môi tăng dần độ
phân cực CHCl3-MeOH (90:10, 88:12,
85:15, 80:20, 80:20:1). Kết quả thu được
5 phân đoạn tương ứng PFN03.2.1-
PFN03.2.5 (0,3, 0,6, 0,5, 0,4, 0,3 g).
Phân đoạn PFN03.2.2 (0,6 g) SKC
pha thường nhiều lần với dung môi
CHCl3-MeOH-H2O (90:10:0,05) và sắc
ký cột pha đảo hệ MeOH- H2O (60:40).
Kết quả thu được 01 hợp chất sạch ký
hiệu là PF06 (2) (22 mg).
Phân đoạn PFN03.3 (2,0 g) SKC pha
thường với hệ dung môi tăng dần độ
phân cực CHCl3-MeOH-H2O (88:12:0,
85:15:0, 80:20:0, 80:20:1, 75:25:2). Kết
quả thu được 5 phân đoạn tương ứng
PFN03.3.1- PFN03.3.5 (khối lượng lần
lượt là 0,2 g, 0,5 g, 0,5 g, 0,3 g, 0,1 g).
Phân đoạn PFN03.3.3 (0,5 g) SKC
pha thường nhiều lần với dung môi
CHCl3-MeOH- H2O (80:20:0,1) và sắc
ký cột pha đảo hệ MeOH- H2O (50:50).
Tạp chí Nghiên cứu khoa học và Phát triển kinh tế Trường Đại học Tây Đô Số 06 - 2019
184
Kết quả thu được 01 hợp chất sạch ký
hiệu là PF10 (3) (12 mg).
3. KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN
Kết quả chiết xuất và phân lập từ cao
phân đoạn n-BuOH thu được 3 hợp chất
saponin triterpen PF02 (1) (16 mg),
PF06 (2) (22 mg) và PF10 (3) (12 mg)
đều ở dạng bột, màu trắng, dễ tan trong
methanol.
3.1. Hợp chất (1)
Phổ 13C NMR (125 MHz, pyridin-d5,
ppm) kết hợp với phổ DEPT 90, DEPT
135 cho thấy hợp chất (1) có 42 carbon:
2 carbon loại >C=O, 1 carbon loại >C=,
1 carbon loại -CH=, 2 carbon loại
OCHO , 1 carbon loại CH2O, 9
carbon loại CHO, 6 carbon loại
>CCH, 10 carbon
loại CH2, 7 carbon loại CH3. Sự hiện
diện của: 7 carbon methyl bậc ba, 1
carbon carbonyl ở δC 180,5, cùng với 1
carbon loại >C= ở δC 144,6, 1 carbon
loại -CH= ở δC 122,4 đặc trưng cho 2
carbon olefin C13; C12 của khung acid
olean-12-en-28-oic. Với sự có mặt 2
carbon acetal ở δC 106,2; 104,5; 8 carbon
oxymethin và 1 carbon oxymethylen ở
δC 62,0, cho thấy hợp chất (1) là 1
saponin triterpen khung oleanolic với 2
đơn vị đường lần lượt là D-
glucuronopyranosid và D-glucopyra-
nosid. Phổ 1H - NMR (500 MHz,
pyridin - d5, ppm) cũng chứng tỏ
khung aglycon là acid oleanolic với sự
hiện diện của các tín hiệu: 1 proton
olefin ở δH 5,41 (1H, br s, H12); 1
proton oxymethin ở δH 3,23 (1H, dd, J =
4,0 và 11,5 Hz, H3); 1 proton methin ở
δH 3,21 (1H, dd, J = 4,0 và 13,5 Hz,
H18) và 7 nhóm methyl bậc ba ở δH 0,68
- 1,25. Ngoài ra, sự hiện diện của 2
proton anomer ở δH 5,09 (1H, d, J = 7,0
Hz, H1’) và 4,82 (1H, d, J = 7,5 Hz,
H1) kết hợp phổ HSQC, xác nhận hợp
chất (1) có 2 đơn vị đường là β-D-
glucuronic và β-D-glucose. Phổ HMBC
cho thấy proton oxymethin ở δH 3,23
(1H, dd, J = 4,0 và 11,5 Hz, H3) với 2
carbon methyl ở δC 28,0 (C-23) và 16,8
(C-24); proton methin ở δH 3,21 (1H, dd,
J = 4,0 và 13,5 Hz, H18) với 2 carbon
olefin ở δC 144,6 (C-13) và 122,4 (C-
12); proton ở δH 2,07 (1H, m, H-16a) với
carbon ở δC 180,5 (C-28), đã xác nhận
lại các vị trí quan trọng của khung. Mặt
khác, proton anomer ở δH 5,09 (1H, d, J
= 7,0 Hz, H1’) tương tác với carbon
oxymethin ở δC 89,1 (C3); bên cạnh đó,
proton anomer ở δH 4,82 (1H, d, J = 7,5
Hz, H1) tương tác với carbon oxyme-
thin ở δC 83,6 (C4); chứng tỏ đơn vị
đường D-glucuronic gắn vào khung
aglycon ở vị trí C3 và đơn vị đường D-
glucose gắn vào đơn vị đường D-
glucuronic ở vị trí C4.
Từ dữ liệu phổ
1
H-NMR, 13C-NMR,
kết hợp với phổ DEPT, HSQC, HMBC;
các đặc trưng vật lý và so sánh với các
tài liệu đã công bố (Vo Duy Huan et al.,
1998), chúng tôi nhận danh hợp chất (1)
là: acid 3-O-[β-D-glucopyranosyl-
(14)]--D-glucuronopyranosylolea-
nolic hay còn gọi được là Ladyginosid
A.
Tạp chí Nghiên cứu khoa học và Phát triển kinh tế Trường Đại học Tây Đô Số 06 - 2019
185
Hợp chất (2) thu được dưới dạng bột,
màu trắng, dễ tan trong methanol.
Phổ 13C và 1H-NMR của hợp chất (2)
tương tự như hợp chất (1), tuy nhiên có
thêm 1 nhóm oxymethyl ở δC 52,4 tương
quan với proton ở δH 3,84 (3H, s, OMe),
cho thấy hợp chất (2) là 1 saponin
triterpen khung oleanolic với 2 đơn vị
đường là β-D-GlcA, β-D-Glc và 1 nhóm
oxymethyl. Phổ HMBC cho thấy proton
oxymethyl ở δH 3,84 (3H, s, OMe) tương
tác với carbon carbonyl δC 170,0, đã xác
định β-D-GlcA đã bị methyl hóa ở vị trí
C-6. Ngoài ra, 2 proton anomer ở δH
4,93 (1H, d, J = 7,5 Hz, H-1) và 4,96
(1H, d, J = 7,5 Hz, H-1) lần lượt tương
tác với 2 carbon ở δC 89,2 (C-3) và 82,3
(C-4) giống hợp chất (1). Từ dữ liệu
phổ NMR và so sánh với tài liệu bố (Vo,
D.H. et al, 1998), chúng tôi nhận danh
hợp chất (2) là: acid 3-O-[β-D-
glucopyranosyl-(14)]--D-(6-O-
methyl) glucuronopyranosyloleanolic.
Hợp chất PF10 (3) thu được dưới
dạng bột, màu trắng, dễ tan trong metha-
nol.
Phổ 13C và 1H-NMR của hợp chất (3)
tương tự như hợp chất (1), cho thấy hợp
chất (3) cũng là 1 saponin triterpen
khung oleanolic với 2 đơn vị đường là β-
D-GlcA, β-D-Glc. Phổ HMBC cho thấy
proton anomer ở δH 4,79 (1H, d, J = 8,0
Hz, H1) tương tác với carbon oxyme-
thin ở δC 88,8 (C3); chứng tỏ β-D-GlcA
gắn vào aglycon ở C3. Ngoài ra, còn cho
thấy tương tác giữa proton anomer ở δH
6,14 (1H, d, J = 8,0 Hz, H1) với carbon
carbonyl δC 176,6 (C28), chứng tỏ β-D-
Glc gắn vào aglycon ở C-28. Từ dữ liệu
phổ NMR và so sánh với tài liệu (Vo,
D.H. et al, 1998), chúng tôi nhận danh
hợp chất (3) là: 3-O--D-glucuronopy-
ranosylolea-nolic 28-O-β-D-glucopyra-
nosyl ester.
Tạp chí Nghiên cứu khoa học và Phát triển kinh tế Trường Đại học Tây Đô Số 06 - 2019
186
O
3
2324
25 26
27
28
2930
20
O
OH
O
OH
HO
1'
O
HOOC
12
13
1
4
5
6
7
8
9
10
11
14
15
16
17
18
19 21
22
2
2'3'
4' 5'
6'
O
HO
HO
OH
1''2''3''
4'' 5''
6'' GlcAGlc
OH
(1) (2)
(3)
Hình 1. Các hơp chất saponin trong lá cây Đinh lăng
Bảng 1. Dữ liệu phổ 13C và 1H-NMR của các hợp chất (1), (2) và (3)
Vị
trí
13C NMR
δ ppm
1H, NMR
δ ppm, J = Hz
(1) (2) (3) (1) (2) (3)
1 38,3 38,4 38,4
2 26,1 26,3 26,0
3 89,1 89,2 88,8
3,23 (1H, dd, J
= 4,0 và 11,5)
3,23 (1H, dd, J =
4,0 và 11,5)
3,36 (1H, dd, J =
4,5 và 12,0)
4 39,2 39,3 39,1
5 55,5 55,6 55,5
6 18,2 18,3 18,2
7 33,0 33,0 32,8
8 39,5 39,6 39,5
9 47,7 47,8 47,6
10 36,7 36,8 36,6
11 23,5 23,5 23,4
12 122,4 122,4 122,6 5,41 (1H, br s) 5,41 (1H, br s) 5,40 (1H, brs)
13 144,6 144,6 143,8
14 41,9 42,0 41,8
15 28,1 28,1 27,9
16 23,5 23,6 23,0
Tạp chí Nghiên cứu khoa học và Phát triển kinh tế Trường Đại học Tây Đô Số 06 - 2019
187
17 46,5 46,5 46,8
18 41,8 41,8 41,4
3,21 (1H, dd, J
= 4,0 và 13,5)
3,21 (1H, dd, J =
4,0 và 13,5)
3,18 (1H, dd, J =
3,5 và 13,5)
19 46,3 46,3 45,9
20 30,7 30,8 30,4
21 34,0 34,1 33,6
22 33,0 33,1 32,2
23 28,0 28,0 27,9 1,21 (3H, s) 1,21 (3H, s) 1,29 (3H, s)
24 16,8 16,8 16,7 0,90 (3H, s) 0,90 (3H, s) 097 (3H, s)
25 15,2 15,3 15,2 0,71 (3H, s) 0,71 (3H, s) 0,81 (3H, s)
26 17,2 17,2 17,1 0,89 (3H, s) 0,89 (3H, s) 1,07 (3H, s)
27 26,0 26,0 25,8 1,25 (3H, s) 1,25 (3H, s) 1,26 (3H, s)
28 180,5 180,1 176,6
29 33,0 33,0 32,8 0,90 (3H, s) 0,90 (3H, s) 0,89 (3H, s)
30 23,6 23,6 23,3 0,95 (3H, s) 0,95 (3H, s) 0,87 (3H, s)
3-O-
GlcA
1 106,2 106,6 106,3
5,09 (1H, d, J =
7,0)
5,09 (1H, d, J =
7,0)
5,01 (1H, d, J =
8,0)
2 74,6 74,5 74,8
3 76,5 75,8 78,0
4 83,6 82,3 73,3
5 74,7 74,9 77,6
6 * 170,0 *
OMe 52,4 3,84 (3H, s)
Glc
1 104,5 104,8 95,3
4,82 (1H, d, J =
7,5)
4,82 (1H, d, J =
7,5)
6,30 (1H, d, J =
8,5)
2 74,6 74,2 73,4
3 77,2 77,8 78,7
4 71,1 71,3 70,6
5 78,0 78,3 78,7
6 62,0 62,3 61,7
*tín hiệu yếu
4. KẾT LUẬN
Từ lá cây Đinh lăng được 3 năm tuổi
trồng tại An Giang, chúng tôi đã phân
lập và nhận danh cấu trúc 3 hợp chất là:
ladyginosid A (1), acid 3-o-[β-D-
glucopyranosyl-(14)]--D-(6-o-me-
thyl) glucuronopyranosyloleanolic (2),
3-o--D-glucuronopyranosyloleanolic
28-o-β-D-glu-copyranosyl ester (3).
Trong đó hợp chất (2) là lần đầu tiên
được tìm thấy trong lá cây Đinh lăng so
với những nghiên cứu trong và ngoài
nước trước đây.
Tạp chí Nghiên cứu khoa học và Phát triển kinh tế Trường Đại học Tây Đô Số 06 - 2019
188
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Bộ Y Tế, 2018. Dược điển Việt
Nam V. Nhà xuất bản y học, Hà Nội.
Trang 1168-1169.
2. Chaboud, A., Rougny, A., Proliac,
A., Raynaud, J., Cabalion, P., 1995. A
new triterpenoid saponin from Polyscias
fructicosa. Pharmazie. Vol 50 (5), 371.
3. Chaboud, A., Rougny, A., Proliac,
A., Raynaud, J., Cabalion, P., 1996. A
new oleanolic saponin from Polyscias
fructicosa (L.) Harms var yellow leaves.
Pharmazie, Vol 51(8), 611-612.
4. Đỗ Tất Lợi, 2013. Những cây thuốc
và vị thuốc Việt Nam. NXB Hồng Đức,
Hà Nội, tr. 828-830.
5. Lutomski, J. and Tran Cong Luan.,
1992. Polyacetylenes in the Araliaceae
family. Part II, Polyacetylenes from the
roots of Polyscias fruticosa (L.) Harms.
Herba Polonica. Tom XXXVIII, 1: 3-10.
6. Nguyễn Kim Phi Phụng, 2007.
Phương pháp cô lập hợp chất hữu cơ,
NXB. Đại học Quốc gia TP Hồ Chí
Minh.
6. Proliac, A., Chaboud, A., Rougny,
A., Gopal-samy, N., Raynaud, J. and
Cabalion, P., 1996. A oleanolic saponin
from Polyscias fruticosa (L.) Harms var
yellow leaves, Pharmazie, Vol 51 (8),
611-612.
7. Tapondjou, A. L., Miyamoto, T.,
Lacaille-Dubois, M. A., 2006.
Glucuronide triterpene saponins from
Bersama engleriana, Phytochem., 67,
2126-2132.
8. Tran Thi Hong Hanh ., 2016. α-
Amylase and α-glucosidase inhibitory
saponins from Polyscias fruticosa (L.)
Harms leaves. Journal of Chemistry.
Vol 2016, 1-5.
9. Ushijima, M., Komoto, N.,
Sugizono, Y., Mizuno, I., Sumihiro, M.,
Ichikawa, S., Hayama, M., Kawahara,
N., Nakane, T., Shirota, O., Sekita, S.,
Kuroyanagi, M., 2008. Triterpene
glycosides from the roots of Codonopsis
lanceolata, Chem. Pharm. Bull., 56, 308-
314.
10. Võ Văn Chi, 2012. Từ điển cây
thuốc Việt Nam. Tập 1. Nxb Y học, Hà
Nội, tr. 937-938.
11. Vo Duy Huan, Yamamura, S.,
Ohtani, K., Kasai, R., Yamasaki, K.,
Nguyen, T.N. and Hoang, M.C., 1998.
Oleanane saponin from Polyscias
fruticosa (L.) Harms, Phytochemistry,
Vol 47(3), Pp. 451-457.
Tạp chí Nghiên cứu khoa học và Phát triển kinh tế Trường Đại học Tây Đô Số 06 - 2019
189
ISOLATION OF TRITERPENOID SAPONINS FROM POLYSCIAS
FRUTICOSA (L.) HARMS LEAVES
Do Van Mai1,2, Nguyen Tan Phat3,4, Tran Cong Luan2
1Ho Chi Minh city University of Pharmacy and Medicine,
2Faculty of Pharmacy and Nursing, Tay Do University
3Institute of Science and Technology - Vietnam Academy of Science and Technology
4Institute of Chemistry - Vietnam Academy of Science and Technology
(Email: dvmai@tdu.edu.vn)
ABSTRACT
Mountainous regions of An Giang province are considered as famous area for herbal
plants cultivation with several valuable medicinal plants such as Dinh Lang. However, the
chemical composition of Dinh Lang cultivated in these areas has not been sufficiently
investigated. Therefore, this valuable plant need to be studied further for reservation. The
leaves of Polyscias fruticosa were collected, extracted by percolation. Ethanol crude
extract was then fractionated by liquid-liquid extraction. The obtained fractions were
further separated by chromatography technique and structures of compounds isolated were
elucidated by NMR. Three isolated saponin triterpens were found as following:
Ladyginosid a (1), acid 3-O-[β-D-glucopyranosyl-(14)]--D-(6-O-methyl) glucuronopy-
ranosyloleanolic (2), 3-O--D-glucuronopyranosy-loleanolic 28-O-β-D-gluco-pyranosyl
ester (3) which were isolated. Their structures were elucidated by NMR (1D and 2D –
NMR) and comparison with published data. These results can provide a basic new data for
further pharmacological study.
Keywords: Araliaceae, Polyscias fruticosa, saponin triterpen.
Các file đính kèm theo tài liệu này:
phan_lap_mot_so_saponin_tu_la_cay_dinh_lang_polyscias_frutic.pdf