Kết hợp kết quả định danh loài xoắn khuẩn
với kết quả giám định huyết thanh học bằng
phương pháp vi ngưng kết được thực hiện
đồng thời trên cùng mẫu chó đã xác định xoắn
khuẩn gây nhiễm hai chó nói trên thuộc serovar
Icterohaemorrhagiae (Leptospira interrogans
serovar Icterohaemorrhagiae) và một chó thuộc
serovar Hurstbridge (Leptospira fainei serovar
Hurstbridge).
Bằng phương pháp định danh phân tử,
chúng tôi đã phát hiện được 2 loài xoắn khuẩn
Leptospira interrogans và Leptospira fainei
bài thải qua nước tiểu chó nuôi tại Cần Thơ mà
từ trước tới nay ở Việt Nam chưa có nghiên cứu
nào công bố. Đặc biệt, Leptospira fainei là loài
xoắn khuẩn gây bệnh cơ hội lần đầu tiên được
xác định gây nhiễm trên chó ở Việt Nam. Cả
hai loài xoắn khuẩn này đều có thể truyền lây
sang người (Levett, 2001; Adler et al., 2010).
Do vậy, việc phát hiện hai loài xoắn khuẩn gây
nhiễm trên chó này không những chỉ có ý nghĩa
rất lớn đối với khoa học thú y mà còn đưa ra
cảnh báo mối nguy cơ tiềm ẩn đang đe dọa sức
khỏe cộng đồng cư dân trong khu vực. Tuy
nhiên đây chỉ mới là những kết quả nghiên cứu
bước đầu, việc định danh các loài xoắn khuẩn
gây bệnh trên chó cũng như trên những động
vật khác cần được tiếp tục nghiên cứu trong thời
gian tới.
IV. KẾT LUẬN
Đã phân lập thành công Leptospira từ nước
tiểu của 3 trong số 63 chó nghi mắc leptospirosis
ở thành phố Cần Thơ, chiếm tỷ lệ 4,76%. Số mẫu
nước tiểu này được lấy từ hai chó có biểu hiện lâm
sàng và một chó chưa xuất hiện các triệu chứng
của bệnh leptospirosis.
Bằng phương pháp định danh phân tử, đã phát
hiện ít nhất có 2 loài Leptospira interrogans thuộc
nhóm Leptospira gây bệnh và Leptospira fainei
thuộc nhóm xoắn khuẩn gây bệnh cơ hội hiện diện
trong nước tiểu chó tại thành phố Cần Thơ. Đây là
hai loài xoắn khuẩn gây nhiễm trên chó được phân
lập và định danh đầu tiên ở Việt Nam.
7 trang |
Chia sẻ: hachi492 | Lượt xem: 10 | Lượt tải: 0
Bạn đang xem nội dung tài liệu Phân lập và định danh leptospira từ nước tiểu chó nghi mắc bệnh leptospirosis ở thành phố Cần Thơ, để tải tài liệu về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
42
KHOA HỌC KỸ THUẬT THÚ Y TẬP XXV SỐ 4 - 2018
PHAÂN LAÄP VAØ ÑÒNH DANH LEPTOSPIRA TÖØ NÖÔÙC TIEÅU CHOÙ
NGHI MAÉC BEÄNH LEPTOSPIROSIS ÔÛ THAØNH PHOÁ CAÀN THÔ
Nguyễn Thị Bé Mười1, Hồ Thị Việt Thu1, Trần Đình Từ2
TÓM TẮT
leptospirosis là một bệnh truyền nhiễm chung của nhiều loài động vật và người, hiện diện phổ biến
khắp thế giới. Sự lưu hành huyết thanh học của Leptospira được ghi nhận trên chó nuôi ở khu vực đồng
bằng sông Cửu Long (ĐBSCL). Gần đây, xuất hiện những trường hợp chó nghi mắc leptospirosis với
triệu chứng vàng da, xuất huyết niêm mạc, chảy nước mắt, đau cơ và rối loạn thận-niệu đã được đưa
đến khám và điều trị tại các bệnh xá thú y trong khu vực. Mục tiêu của nghiên cứu này là phát hiện xoắn
khuẩn Leptospira gây bệnh trên chó. Một trăm mười một (111) mẫu nước tiểu chó có hiệu giá MAT≥1:400
đã được thu thập để phát hiện sự hiện diện của xoắn khuẩn bằng phương pháp quan sát dưới kính hiển vi
nền đen. Xoắn khuẩn ở những mẫu nước tiểu dương tính được nuôi cấy tiếp trên môi trường EMJH, giám
định xoắn khuẩn bằng PCR và giải trình tự gen 16S rRNA để định danh loài.
Kết quả quan sát bằng kính hiển vi nền đen đã phát hiện xoắn khuẩn hiện diện trong 63/111 (56,75%)
mẫu nước tiểu, nhưng chỉ nuôi cấy Leptospira thành công trên môi trường EMJH từ 3 trong số 63 mẫu
nước tiểu này (chiếm tỷ lệ 4,76%). Kết quả giám định phân tử xoắn khuẩn đã phát hiện Leptospira
interrogans trong hai mẫu nước tiểu của chó có biểu hiện nhiễm bệnh lâm sàng và Leptospira fainei hiện
diện trong một mẫu nước tiểu của chó chưa biểu hiện bệnh, trong đó L. interrogans thuộc nhóm xoắn
khuẩn gây bệnh trực tiếp và L. fainei thuộc nhóm xoắn khuẩn gây bệnh cơ hội. Đây là kết quả phân lập
và định danh xoắn khuẩn Leptospira gây bệnh từ nước tiểu chó đầu tiên ở Việt Nam.
Từ khóa: chó, Leptospira, nước tiểu, nuôi cấy, định danh, thành phố Cần Thơ
Isolation and identifcation of Leptospira from the urine of dogs
with suspected leptospirosis in Can Tho city
Nguyen Thi Be Muoi, Ho Thi Viet Thu, Tran Dinh Tu
SUMMARY
leptospirosis is a popularly zoonotic disease of the worldwide. The sero-prevalence of leptospirosis
was reported in the domestic dogs in the Mekong Delta. Recently, the dogs suspecting leptospirosis
with the clinical syndromes, such as: jaundice, mucosal hemorrhage, oculo-nasal discharge, abdominal
pain and renal dysfunction were recorded in the veterinary clinics in the investigating area. The objective
of this study was to detect the Leptospira species causing leptospirosis in the dogs. One hundred
and eleven (111) urine samples were collected from the suspected dogs to detect the presence of
leptospira by a dark-field microscopy; leptospira from the positive samples was inoculated in the EMJH
medium, then Leptospira species were identified by PCR assay, and 16S rRNA gene sequence.
The results of dark-field microscopic examination showed that leptospira was present in 63 out of
111 (56.75%) urine samples, however leptospira was cultured successfully on EMJH medium from
only 3 out of 63 positive urine samples, accounting for 4.76%. The results of analysing leptospira gene
sequences revealed two species, i.e. Leptospira interrogans and Leptospira fainei presenting in the
urine of the investigated dogs, of which L. interrogans belonged to the mainly pathogenic group and L.
fainei belonged to the associated pathogenic group. This is the first successful study on isolation and
identification of pathogenic Leptospira from the urine of the dogs suspecting leptospirosis in Viet Nam.
Keywords: dogs, Leptospira, urine, culture, identification, Can Tho city.
1. Bộ môn Thú y, Khoa Nông nghiệp và SHUD, Đại học Cần Thơ
2. Hội Thú y Việt Nam
43
KHOA HỌC KỸ THUẬT THÚ Y TẬP XXV SỐ 4 - 2018
I. ĐẶT VẤN ĐỀ
leptospirosis là bệnh truyền nhiễm chung cho
nhiều loài động vật và người, gây ra bởi một số
loài xoắn khuẩn gây bệnh (Pathogenic Leptospira
species). Bệnh phổ biến khắp thế giới, nhiều nhất
ở vùng nhiệt đới có khí hậu nóng, ẩm, thuận lợi
cho sự tồn tại của xoắn khuẩn ở bên ngoài cơ thể
(Evangelista và Coburn, 2010). Xoắn khuẩn gây
bệnh ký sinh trong ống thận và được bài thải qua
nước tiểu làm ô nhiễm môi trường (Alder et al.,
2010). Chuột cống là nguồn tàng trữ xoắn khuẩn
chính trong tự nhiên và chó cũng là nguồn truyền
lây bệnh quan trọng cho người và các động vật
khác (Syke et al., 2011).
Leptospira là những xoắn khuẩn hiếu khí,
Gram âm, có hình dạng mảnh mai với những vòng
cuộn xoắn đều đặn và đầu cuối có hình móc câu.
Chi Leptospira hiện được chia thành 21 loài dựa
vào sự so sánh trình tự nucleotide của gen 16S
rRNA và kết quả nghiên cứu lai DNA-DNA. Dựa
vào trình tự nucleotide của gen này để phân tích
cây sinh dòng (phylogenetic tree analysis), chi
Leptospira được chia thành 3 cụm loài: gây bệnh
(pathogenic), gây bệnh trung gian (intermediate-
pathogenic) và hoại sinh (saprophytic Leptospira)
(Levett, 2001).
Chẩn đoán bệnh leptospirosis không thể dựa
hoàn toàn vào khám xét lâm sàng, do chó có nhiều
dạng bệnh với những biểu hiện lâm sàng rất khác
nhau, có thể đồng nhiễm hoặc kế nhiễm với một số
căn nguyên gây bệnh khác (Vasconcellos, 1979).
Phương pháp vi ngưng kết (MAT) vẫn được OIE
(2008 và 2014) khuyến cáo sử dụng trong sàng
lọc bệnh, nhưng phương pháp này thiếu độ tin cậy
cần thiết trong chẩn đoán xác định leptospirosis,
nhất là những trường hợp nhiễm trùng mạn tính
(Lilenbaum và Martins, 2014). Do vậy, các phương
pháp chẩn đoán khác, trong đó có các phương
pháp phân tử đã được áp dụng để chẩn đoán phát
hiện xoắn khuẩn gây bệnh và trong các nghiên cứu
về dịch tễ học của bệnh này (Balamurugan et al.,
2013; Cosson et al., 2014).
Kết quả khảo sát huyết thanh học trước đây của
chúng tôi (Nguyễn Thị Bé Mười và cs., 2015) cho
thấy chó nuôi và chuột cống ở Cần Thơ nhiễm xoắn
khuẩn khá phổ biến. Thời gian gần đây, nhiều chó
nghi nhiễm bệnh Leptospriosis được đưa tới khám
và điều trị tại các bệnh xá thú y trong khu vực. Chó
mắc bệnh có biểu hiện các triệu chứng lâm sàng như
sốt, đau cơ, đau vùng bụng, chảy nước mắt và mũi,
rối loạn tiêu hóa, xuất huyết niêm mạc và vàng da.
Nghiên cứu này nhằm chẩn đoán phát hiện căn
nguyên gây bệnh bằng phương pháp phân lập và
giám định phân tử Leptospira gây bệnh từ nước tiểu
chó bệnh. Kết quả nghiên cứu sẽ cung cấp những
bằng chứng khoa học trợ giúp các bác sỹ thú y trong
chẩn đoán phát hiện leptospirosis trên chó.
II. VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP
NGHIÊN CỨU
2.1. Địa điểm và đối tượng thu thập mẫu nước
tiểu
Nước tiểu chó chưa tiêm vacxin phòng bệnh
leptospirosis được đưa tới khám và điều trị tại các
bệnh xá thú y ở thành phố Cần Thơ được thu thập.
Những chó lấy nước tiểu đồng thời được lấy máu
và thu thập những thông tin về độ tuổi, giống, giới
tính và phương thức nuôi.
Đối tượng nghiên cứu là 111 mẫu nước tiểu chó
có hiệu giá MAT ≥1:400, bao gồm cả chưa có biểu
hiện bệnh và đã xuất hiện triệu chứng lâm sàng của
bệnh. Mẫu nước tiểu chó bao gồm 3 nhóm tuổi: từ
4 tháng đến dưới 1 năm tuổi (19 chó); từ 1 đến dưới
6 năm tuổi (45 chó) và 47 chó lớn hơn 6 năm tuổi.
Trong số này có 61 chó đực và 50 chó cái, 58 chó
nuôi thả rông và 53 chó nuôi nhốt. Những chó này
sẽ được kiểm tra nước tiểu liên tục 3 ngày bằng
kính hiển vi nền đen, nếu có xoắn khuẩn hiện diện
trong nước tiểu thì tiến hành nuôi cấy.
Mẫu nước tiểu được hứng khi chó bài tiểu hoặc
lấy trực tiếp từ bàng quang bằng dụng cụ chuyên
dụng vô trùng có dung tích 6–20 ml. Nước tiểu
được bảo quản trong thùng lạnh và đưa ngay đến
phòng thí nghiệm. Sau đó, ly tâm 3.000 vòng/phút
trong 10 phút và loại bỏ phần nước trong, lấy phần
cặn lắng bên dưới để soi kính hiển vi tụ quang nền
đen. Nếu thấy có xoắn khuẩn thì lấy 3 ml nước tiểu
cho qua lọc Seitz với kích thước lỗ lọc là 0,22 μm
để loại bỏ tạp khuẩn. Việc nuôi cấy xoắn khuẩn từ
nước tiểu phải được thực hiện trong vòng 2 giờ
sau khi thu thập mẫu vì Leptospira chết nhanh
trong nước tiểu (WHO, 2003).
44
KHOA HỌC KỸ THUẬT THÚ Y TẬP XXV SỐ 4 - 2018
2.2. Phương pháp nuôi cấy xoắn khuẩn
Việc nuôi cấy xoắn khuẩn Leptospira được
thực hiện tại Bộ môn Thú y-Trường Đại học Cần
Thơ và Phòng Sinh học phân tử -Viện Pasteur Tp.
HCM từ tháng 7 năm 2016 đến tháng 5 năm 2017.
Lấy 1,5 ml nước tiểu sau khi qua lọc Seitz
(Sartorius Stedim Biotech, Việt Nam) cho vào
ống nghiệm có chứa 6 ml môi trường EMJH,
trộn hỗn hợp dung dịch này 10 giây, để ở nhiệt độ
280C-300C và sau đó được kiểm tra đều đặn 2 lần/
tuần. Nếu quan sát thấy các ống môi trường nuôi
cấy có hiện tượng vẩn đục như làn khói thì xác
định có xoắn khuẩn phát triển và được cấy chuyển
sang ống mới chứa môi trường EMJH để tiếp tục
theo dõi. Các mẫu nuôi cấy đồng thời được kiểm
tra bằng kính hiển vi tụ quang nền đen 2 lần/tuần,
nếu phát hiện có xoắn khuẩn phát triển thì tiến
hành thực hiện ly trích DNA.
Môi trường Ellinghausen-McCullough-
Johnson (EMJH) dùng cho nuôi cấy xoắn khuẩn
Leptospira được pha chế theo quy trình của
Viện Pasteur Tp. HCM có bổ sung kháng sinh
5-fluorouracil 100 µg/ml để ức chế sự phát triển
của các vi khuẩn vấy nhiễm.
2.3. Phương pháp định danh xoắn khuẩn
Việc định danh xoắn khuẩn Leptospira dựa
vào khuếch đại gen 16S rRNA của xoắn khuẩn
bằng kỹ thuật PCR và giải trình tự nucleotide
gen 16S rRNA được thực hiện tại Công ty TNHH
MTV Sinh hóa Phù Sa (cskh@phusabiochem.
com).
DNA tổng số được ly trích bằng phương pháp
sốc nhiệt theo trình tự: đun canh khuẩn ở 1000C
trong 10 phút; làm lạnh nhanh trong nước đá 5
phút, rồi bảo quản DNA ở -20 0C (Trần Nhân
Dũng, 2011).
Gen 16S rRNA được khuếch đại bằng cặp mồi
tổng quát 27F (5’-AGA GTT TGA TCM TGG
CTC AG-3’) và 1492R (5’-TAC GGY TAC CTT
GTT ACG ACT T-3’) (Weisberg et al. 1991) do
Công ty TNHH MTV Sinh hóa Phù Sa tổng hợp.
Vùng gen được khuếch đại có kích thước gần tới
1500 bp.
Phản ứng PCR được thực hiện trong tổng thể
tích 50 µL trên máy T100 (Biorad/Mỹ). Thành
phần 1 phản ứng PCR bao gồm:
- DNA tổng số 50-100 ng.
- Master Mix 2X (thành phần bao gồm Taq,
dNTPs, buffer 2X) (PHUSA Biochem cung cấp)
- Mồi 27F và 1492R với nồng độ là 0,4 µM
(PHUSA Biochem cung cấp)
Chu kỳ nhiệt của phản ứng như sau: Biến tính
ở 950C trong 5 phút, 30 chu kỳ gồm biến tính 30
giây, gắn mồi ở 550C trong 30 giây, tổng hợp DNA
ở 720C trong 1 phút 45 giây và cuối cùng phản ứng
được duy trì 720C trong 5 phút.
Sản phẩm PCR được điện di trên gel agarose
với nồng độ 1,5% trong dung dịch đệm TBE1X ở
90V trong 45 phút và quan sát dưới tia UV, chụp
ảnh bằng phần mềm Quantity One. Mẫu được lưu
giữ để kiểm tra và giải trình tự gen. Thang chuẩn
100 bp được mua từ công ty Fermentas.
Giải trình tự gen 16S rRNA tự động trên máy
ABI 3130 Sequencer. Kết quả giải trình tự được
dựa vào phần mềm BioEdit và ClustalX, so sánh
các trình tự gen thu được với các trình tự gen công
bố trong GenBank bằng chương trình BLAST.
Nếu mức độ đồng nhất của trình tự nucleotide
trong đoạn gen 16S rRNA đạt ≥ 95% thì có thể xác
định tới chi (genus) và ≥ 99% thì có thể xác định
tới loài (species).
III. KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN
3.1. Kết quả khảo sát huyết thanh học và nuôi
cấy Leptospira từ nước tiểu chó
Số liệu ở bảng 1 cho thấy, trong 111 mẫu nước
tiểu chó khảo sát bằng soi kính hiển vi nền đen,
đã phát hiện thấy 63 mẫu có xoắn khuẩn hiện diện
trong nước tiểu, chiếm tỷ lệ 56,76%. Những chó này
có hiệu giá kháng thể vi ngưng kết ≥ 1: 400 và có
sự hiện diện xoắn khuẩn trong nước tiểu liên tục 3
ngày khi kiểm tra bằng kính hiển vi nền đen. Trong
đó, chó ở độ tuổi ≤1-6 năm và ≥ 6 năm nghi nhiễm
leptospirosis chiếm tỷ lệ cao hơn chó ở độ tuổi từ 4
tháng đến 1 năm. Chó nuôi thả có tỷ lệ nhiễm xoắn
khuẩn cao hơn chó nuôi nhốt, trong khi không thấy
có sự sai khác đáng kể giữa nhóm chó đực và chó cái.
45
KHOA HỌC KỸ THUẬT THÚ Y TẬP XXV SỐ 4 - 2018
Bảng 1. Kết quả khảo sát sự hiện diện Leptospira trong nước tiểu chó theo độ tuổi,
giới tính và phương thức nuôi
Các chỉ tiêu khảo sát N
Độ tuổi
Giới tính Phương thức nuôi
4 tháng-
1 năm
≤1-6
năm
≥ 6
năm Đực Cái Thả Nhốt
Tổng số mẫu nước tiểu khảo sát 111 19 51 41 61 50 58 53
Số chó nghi nhiễm leptospirosis
(MAT≥1:400 và soi kính hiển vi nền đen
phát hiện Leptospira)
63 7 31 25 35 28 38 25
Tỷ lệ (%) 56,76 36,84 60,78 60,98 57,38 56,00 65,52 47,17
Tổng số mẫu nước tiểu cấy vào môi
trường EMJH 63 mẫu
Số mẫu nuôi cấy có xoắn khuẩn mọc
vào thời điểm 17 ngày sau khi cấy 3 mẫu
Hình 1. Hình ảnh xoắn khuẩn trong nước
tiểu soi dưới kính hiển vi nền đen (x40)
Sáu mươi ba mẫu nước tiểu của chó nghi nhiễm
leptospirosis này được cấy vào môi trường EMJH
(Ellinghausen-McCullough-Johnson-Harris) có
bổ sung 5-fluorouracil 100µg/ml để ức chế sự tăng
trưởng các vi sinh vật vấy nhiễm và để ở nhiệt độ
28-300C. Sau thời gian nuôi cấy kéo dài 3 tháng,
kết quả nghiên cứu chỉ phát hiện được 3 trong
63 mẫu nước tiểu nuôi cấy có sự hiện diện của
Leptospira ở thời điểm 17 ngày kể từ khi bắt đầu
nuôi cấy, chiếm tỷ lệ 4,76%.
Trong 63 mẫu nước tiểu có sự hiện diện xoắn
khuẩn Leptospira khi soi dưới kính hiển vi nền
đen trước khi đem nuôi cấy, có 31 mẫu từ những
chó có triệu chứng nghi mắc bệnh leptospirosis và
32 mẫu được lấy từ những chó không có biểu hiện
lâm sàng rõ ràng của bệnh. Trong 3 mẫu nước tiểu
nuôi cấy được Leptospira, có 2 mẫu nước tiểu lấy
từ chó có triệu chứng làm sàng: bỏ ăn 4 ngày, ói
6 lần/ngày, nước tiểu vàng sậm, nhiệt độ lúc nhập
viện 39,50C, vàng da và 1 mẫu từ chó không có
biểu hiện lâm sàng của bệnh. Điều này cho thấy
khó có thể chẩn đoán phát hiện leptospirosis nếu
chỉ dựa hoàn toàn vào lâm sàng như Vasconcellos
(1979) đã nhận xét.
Hình 2. Hình ảnh xoắn khuẩn mọc trong
môi trường EMJH sau 17 ngày nuôi cấy ở
nhiệt độ 28-300C
Việc nuôi cấy xoắn khuẩn Leptospira từ nước
tiểu của chó là một công việc hết sức khó khăn
(WHO, 2003). Bên cạnh tốc độ phát triển chậm của
xoắn khuẩn làm cho thời gian nuôi cấy kéo dài, một
số loài xoắn khuẩn lại có sức sống yếu, rất dễ bị
chết hoặc ít có khả năng sống sót ở bên ngoài cơ thể
(Evangelista và Coburn, 2010). Mặt khác, mẫu nước
46
KHOA HỌC KỸ THUẬT THÚ Y TẬP XXV SỐ 4 - 2018
Hình 3. Kết quả điện di sản phẩm PCR trên gel agarose 1,5%, với hiệu điện thế 90V, thời gian 45 phút
Mẫu 1, 2 là mẫu nuôi cấy âm tính. Mẫu 3, 4 và 5 là mẫu nuôi cấy dương tính
tiểu cũng hay bị nhiễm tạp khuẩn. Một số công bố
về phân lập Leptospira từ nước tiểu chó của các tác
giả trên thế giới cho kết quả đối lập nhau. Harkin
et al. (2003) không phân lập được Leptospira từ
nước tiểu chó nghi nhiễm leptospirosis, ngược lại
Alongkorn et al. (2017) phân lập được xoắn khuẩn
ở 4/58 mẫu nước tiểu chó, chiếm 6,89%.
Trong khi đó, chẩn đoán bằng những kỹ thuật
sinh học phân tử khác nhau lại cho kết quả phát hiện
Leptospira trong nước tiểu chó cao hơn hẳn. Harkin et al.
(2003) sử dụng kỹ thuật PCR đã phát hiện 8,2% chó có
sự hiện diện của Leptospira trong nước tiểu (41/500 chó).
Ở Ireland, Rojas et al. (2010) thấy có 7,05% (37/525)
chó có Leptospira trong nước tiểu và ở Iran, Zakeri et
al. (2010) công bố là 22% chó bài thải Leptospira qua
nước tiểu. Trong một vài nghiên cứu khác, Khorami et al.
(2010) ứng dụng kỹ thuật PCR cho thấy có 31% (28/90)
chó có sự hiện diện của xoắn khuẩn Leptospira trong
nước tiểu và kết quả nghiên cứu của Chetta et al. (2014)
là 14,21% (26/183). Nhìn chung, kết quả của những
nghiên cứu này đã phản ánh tỷ lệ Leptospira hiện diện
trong nước tiểu trong khoảng 7,05%-31%, điều đó cho
thấy tình trạng mang trùng Leptospira của chó nuôi khá
phổ biến ở nhiều nước trên thế giới.
Kết quả nghiên cứu của các tác giả nói trên và
của chúng tôi cho thấy việc chẩn đoán phát hiện sự
hiện diện của Leptospira trong nước tiểu bằng các
kỹ thuật sinh học phân tử có lẽ thuận lợi hơn nhiều
so với phương pháp nuôi cấy phân lập xoắn khuẩn.
Tuy vậy, việc nuôi cấy thành công Leptospira
từ mẫu nước tiểu chó trong nghiên cứu này là một
kết quả rất đáng được khích lệ và đây là công bố
đầu tiên về việc phân lập được xoắn khuẩn từ nước
tiểu chó ở Việt Nam.
3.2. Kết quả định danh xoắn khuẩn Leptospira
phân lập từ nước tiểu chó
Kết quả định danh xoắn khuẩn Leptospira
trong các mẫu nuôi cấy bằng kỹ thuật PCR khuếch
đại gen 16S rRNA của xoắn khuẩn cho thấy cả 3
mẫu canh khuẩn có xoắn khuẩn mọc đều cho kết
quả PCR dương tính. Ba mẫu gen này đã được
tiến hành giải trình tự và so sánh với trình tự
nucleotide gen 16S rRNA của một số loài xoắn
khuẩn được công bố trên Ngân hàng Gen. Kết quả
cho thấy mẫu số 3 với tổng số nucleotide được
giải trình tự là 1374nt và mẫu số 5 với tổng số
nucleotide là 1369nt, tương đồng với loài xoắn
khuẩn tham chiếu Leptospira interrogans serovar
Icterohaemorrhagiae strain RGA có mã số NR
116542.1 trên Ngân hàng Gen ở mức ≥ 99%. Do
vậy, có thể xác định hai mẫu xoắn khuẩn phân lập
được từ nước tiểu chó ở Cần Thơ thuộc loài xoắn
khuẩn gây bệnh Leptospira interrogans. Mẫu số 4
với tổng số nucleotide được giải trình tự là 1393nt,
khi so sánh với chủng xoắn khuẩn tham chiếu
Leptospira fainei serovar Hurstbridge strain BUT6
có mã số trên Ngân hàng Gen là NR 043049.1
cũng đạt mức độ tương đồng ≥ 99% và có thể xác
định thuộc loài gây bệnh cơ hội Leptospira fainei
(intermediate pathogenic Leptospira).
Việc định danh vi khuẩn dựa vào so sánh
trình tự nucleotide của gen 16S rRNA đã được
Hookey et al. áp dụng để định danh các loài
47
KHOA HỌC KỸ THUẬT THÚ Y TẬP XXV SỐ 4 - 2018
xoắn khuẩn trong họ Leptospiraceae vào năm
1993. Bên cạnh việc sử dụng các gen mục tiêu
khác, một số nhà nghiên cứu vẫn tiếp tục sử
dụng gen 16S rRNA để định danh nhóm xoắn
khuẩn gây bệnh này ở người và các động vật
nuôi khác (Morey et al., 2006; Balamurugan
et al., 2013; Backstedt et al., 2015). Điều đó
chứng tỏ việc giải và so sánh trình tự nucleotide
của gen 16S rRNA là một công cụ quan trọng
trong định danh phân loại các loài xoắn khuẩn.
Trên GenBank, có sẵn các dữ liệu về trình tự
nucleotide của gen 16S rRNA của các loài xoắn
khuẩn Leptospira khác nhau, tuy nhiên trong
nhiều trường hợp chỉ một phần gen này được
giải trình tự. Trong nghiên cứu của chúng tôi,
số lượng nucleotide được giải trình tự khá cao
(1369-1393nt), chiếm gần hết độ dài của gen
16S rRNA. Do vậy có cơ sở để tin chắc rằng
kết quả so sánh định danh loài Leptospira trong
nghiên cứu của chúng tôi là đáng tin cậy.
Kết hợp kết quả định danh loài xoắn khuẩn
với kết quả giám định huyết thanh học bằng
phương pháp vi ngưng kết được thực hiện
đồng thời trên cùng mẫu chó đã xác định xoắn
khuẩn gây nhiễm hai chó nói trên thuộc serovar
Icterohaemorrhagiae (Leptospira interrogans
serovar Icterohaemorrhagiae) và một chó thuộc
serovar Hurstbridge (Leptospira fainei serovar
Hurstbridge).
Bằng phương pháp định danh phân tử,
chúng tôi đã phát hiện được 2 loài xoắn khuẩn
Leptospira interrogans và Leptospira fainei
bài thải qua nước tiểu chó nuôi tại Cần Thơ mà
từ trước tới nay ở Việt Nam chưa có nghiên cứu
nào công bố. Đặc biệt, Leptospira fainei là loài
xoắn khuẩn gây bệnh cơ hội lần đầu tiên được
xác định gây nhiễm trên chó ở Việt Nam. Cả
hai loài xoắn khuẩn này đều có thể truyền lây
sang người (Levett, 2001; Adler et al., 2010).
Do vậy, việc phát hiện hai loài xoắn khuẩn gây
nhiễm trên chó này không những chỉ có ý nghĩa
rất lớn đối với khoa học thú y mà còn đưa ra
cảnh báo mối nguy cơ tiềm ẩn đang đe dọa sức
khỏe cộng đồng cư dân trong khu vực. Tuy
nhiên đây chỉ mới là những kết quả nghiên cứu
bước đầu, việc định danh các loài xoắn khuẩn
gây bệnh trên chó cũng như trên những động
vật khác cần được tiếp tục nghiên cứu trong thời
gian tới.
IV. KẾT LUẬN
Đã phân lập thành công Leptospira từ nước
tiểu của 3 trong số 63 chó nghi mắc leptospirosis
ở thành phố Cần Thơ, chiếm tỷ lệ 4,76%. Số mẫu
nước tiểu này được lấy từ hai chó có biểu hiện lâm
sàng và một chó chưa xuất hiện các triệu chứng
của bệnh leptospirosis.
Bằng phương pháp định danh phân tử, đã phát
hiện ít nhất có 2 loài Leptospira interrogans thuộc
nhóm Leptospira gây bệnh và Leptospira fainei
thuộc nhóm xoắn khuẩn gây bệnh cơ hội hiện diện
trong nước tiểu chó tại thành phố Cần Thơ. Đây là
hai loài xoắn khuẩn gây nhiễm trên chó được phân
lập và định danh đầu tiên ở Việt Nam.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Adler, B and A.D.L.P. Moctezuma, 2010. Leptospira
and leptospirosis. Overview of the biology of
Bảng 2. Kết quả xác định loài xoắn khuẩn dựa vào so sánh trình tự nucleotide gen 16S rRNA
Tên mẫu
khảo sát Các chủng xoắn khuẩn so sánh Mã gen
Mức độ
tương đồng
Tên loài xoắn khuẩn
được xác định
3
Leptospira interrogans serovar
Icterohemorrhagiae strain RGA 16S
ribosomal gene
NR 116542.1 99% Leptospira interrogans
5
Leptospira interrogans serovar
Icterohemorrhagiae strain RGA 16S
ribosomal gene
NR 116542.1 99% Leptospira interrogans
4
Leptospira fainei serovar Hurstbridge
strain BUT6 16S ribosomal gene NR 043049.1 99% Leptospira fainei
48
KHOA HỌC KỸ THUẬT THÚ Y TẬP XXV SỐ 4 - 2018
Leptospira and how recent progress in genetic research
will contribute to our understanding of Leptospira
pathogenesis. Veterinary Microbiology, 140, (3–4):
287-296.
2. Alongkorn, K., P. Chanchaithong., K. Lugsomya.,
W. Niyomtham., W. Vanaporn and N. Prapasarakul,
2017. Molecular detection and isolation of pathogenic
Leptospira from asymptomatic humans, domestic
animals and water sources in Nan province, a rural area of
Thailand. Research in Veterinary Science, 115: 146–154.
3. Balamurugan V., N. L Gangadhar, N. Mohandoss,
S. R. A. Thirumalesh, M. Dhar, R. Shome, P.
Krishnamoorthy, K. Prabhudas and H. Rahman,
2013. Characterization of Leptospira isolates from
animals and humans: phylogenetic analysis identifies
the prevalence of intermediate species in India.
SpringerPlus, 2: 1-9.
4. Backstedt, B. T., O. Buyuktanir., J. Lindow., E A.
Wunder., Jr. M. G. Reis., S. Usmani-Brown., M.
Ledizet., A. Ko and U. Pal, 2015. Efficient Detection
of Pathogenic Leptospires Using 16S Ribosomal
RNA. PlosOne June, 19: 1-18.
5. Chetta, M., D. Vicari., S. Agnello., M. Percipalle., V.
Ferrantelli and M. Vitale, 2014. Canine leptospirosis
cases and molecular screening for Leptospira interrogans
infection. Pakistan Veterinary Journal, 34 (2): 260-262.
6. Evangelista, K.V and J. Coburn, 2010. Leptospira
as an emerging pathogen: a review of its biology,
pathogenesis and host immune responses. Future
Microbiol. 5(9): 1413-1425.
7. Geisen, V., C. Stengel., S. Brem., W. Muller., C.
Greene and K. Hartmann, 2007. Canine leptospirosis
infections – clinical signs and outcome with different
suspected Leptospira serogroups (42 cases). Journal
of Small Animal Practice, 48: 324-328.
8. Hookey J.V., J. Bryden and L. Gatehouse, 1993. The
use of 16s Leptospiraceae rDNA sequence analysis to
investigate the phylogeny of and related spirochaetes.
Journal of General Microbiology, 139: 2585-2590.
9. Lilenbaum, W and G. Martins, 2014. leptospirosis in
Cattle: A Challenging Scenario for the Understanding
of the Epidemiology. Transboundary Emerging
Diseases, 61: 63-68.
10. Harkin, K.R., Y.M. Roshto., J.T. Sullivan., T.J. Purvis
and M.M. Chengappa, 2003. Comparison of polymerase
chain reaction assay, bacteriologic culture, and serologic
testing in assessment of prevalence of urinary shedding of
Leptospira in dogs. Journal of the American Veterinary
Medical Association, 222 (9): 1230 -1233.
11. Ko, A.I., C. Goarant and M. Picardeau, 2009. Leptospira: the
dawn of the molecular genetics era for an emerging zoonotic
pathogen. Nature Reviews Microbiology, 7: 736-747.
12. Khorami, N., A. Malmasi, S. Zakeri, T.Z. Salehi, G.
Abdollahpour, S.M. Nassiri and A. Nejati, 2010. Screening
urinalysis in dogs with urinary shedding of Leptospira.
Comparative Clinical Pathology, 19: 271-274.
13. OIE, 2008. OIE Terrestrial Manual. Chapter 2.1.9 In:
leptospirosis, 251-263.
14. OIE, 2014. OIE Terrestrial Manual. Chapter 2.1.9 In:
leptospirosis, 1-15.
15. Rojas, P., A.M. Monahan., S. Schuller., I.S. Miller.,
B.K. Markey and J.E. Nally, 2010. Detection and
quantification of leptospires in urine of dogs: a
maintenance host for the zoonotic disease leptospirosis.
European Journal Clinical Microbiology Infectious
Diseases, 29: 1305-1309.
16. Sanger, F., S. Nicklen and A. R. Coulson, 1997.
DNA sequencing with chain-terminating inhibitors.
Proceedings National Academy Sciences USA, 74
(12): 5463-5467.
17. Sykes, J. E., K. Hartmann., K. F. Lunn., G. E. Moore.,
R. A. Stoddard and R. E. Goldstein, 2011. 2010 ACVIM
small animal consensus statement on leptospirosis:
diagnosis, epidemiology, treatment, and prevention.
Journal Veterinary Internal Medicine, 25 (1): 1–13.
18. Trần Nhân Dũng, 2011. Sổ tay thực hành sinh học
phân tử, NXB ĐHCT: 7- 9.
19. Weisburg, W.G., S.M. Barns., D.A. Pelletier and D.J. Lane,
1991. 16S Ribosomal DNA Amplification for Phylogenetic
Study. Journal of Bacteriology, 173 (2): 697-703.
20. WHO, 2003. Human leptospirosis: guidance for
diagnosis, surveillance and control. Isolation and
culture of leptospires: 81-82.
21. Vasconcellos, S.A, 1979. Diagnóstico laboratorial da
leptospirose. Comunicação Científica da Faculdade
de Medicina Veterinária e Zootecnia da Universidade
de São Paulo, 3: 189-194.
22. Zakeri, S., N. Khorami., Z.F. Ganji., N. Sepahian.,
A.A. Malmasi., M.M. Gouya and N.D. Djadid, 2010.
Leptospira wolffii, a potential new pathogenic Leptospira
species detected in human, sheep and dog. Infection,
Genetics and Evolution, 10 (2): 273-277.
Ngày nhận 20-12-2017
Ngày phản biện 15-2-2018
Ngày đăng 1-6-2018
Các file đính kèm theo tài liệu này:
phan_lap_va_dinh_danh_leptospira_tu_nuoc_tieu_cho_nghi_mac_b.pdf