Từ kết quả trình bày ở Bảng 1 cho thấy dịch trích
carotenoid của dòng SK8-1 có màu hồng, có hàm
lượng carotenoid tổng số cao nhất (3,397a ± 0,026) ở
bước sóng hấp thu cực đại là 502 nm và khác biệt có
ý nghĩa thống kê ở mức 5% so với tất cả các dòng còn
lại. Dịch trích carotenoid dòng TS6-3 cũng có màu
hồng, có hàm lượng carotenoid tổng số cao thứ ba
(2,552c ± 0,025) ở bước sóng hấp thu cực đại là 500 nm
và khác biệt có ý nghĩa thống kê ở mức 5% so với
dịch trích carotenoid dòng SK9-1 có màu hồng nhạt
(hàm lượng carotenoid tổng số là 1,940d ± 0,033) ở
bước sóng hấp thu cực đại là 499 nm.
Dịch trích carotenoid dòng SS6-3 có màu vàng
đậm, có hàm lượng carotenoid tổng số cao thứ hai
(2,921b ± 0,030) ở bước sóng hấp thu cực đại là 458
nm và khác biệt có ý nghĩa thống kê ở mức 5% so với
các dòng còn lại.
Dịch trích carotenoid dòng TS5-1 màu cam nhạt,
có hàm lượng carotenoid tổng số là 1,831e ± 0,024
ở bước sóng hấp thu cực đại là 470 nm và khác biệt
có ý nghĩa thống kê ở mức 5% so với tất cả các dòng
còn lại.
Kết quả trên bước đầu cho thấy sự hiện diện
của một số loại carotenoid ở các dòng vi khuẩn
Bacillus spp. phân lập được. Dịch trích carotenoid
của các dòng khác nhau có bước sóng cực đại khác
nhau là do chứa các loại carotenoid khác nhau, mỗi
loại carotenoid khác nhau sẽ hấp cực đại khác nhau
ở mỗi bước sóng khác nhau. Theo Briton và cộng
tác viên (2004), 3’4’ - Didehydro-β-Ψ-Carotene
có độ hấp thu cực đại ở các bước sóng 467, 501 và
537 nm trong dung môi Chlororoform. Kết quả này
cũng tương tự với kết quả nghiên cứu của Khaneja
và cộng tác viên (2010), trong đó sắc tố vàng, cam và
hồng có độ hấp thu cực đại lần lượt ở bước sóng 455,
467 và 492 nm.
5 trang |
Chia sẻ: hachi492 | Lượt xem: 5 | Lượt tải: 0
Bạn đang xem nội dung tài liệu Phân lập và tuyển chọn các dòng vi khuẩn bacillus spp có khả năng sinh tổng hợp carotenoid ở vùng Duyên Hải huyện Hòn Đất, tỉnh Kiên Giang, để tải tài liệu về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
85
Tạp chí Khoa học Công nghệ Nông nghiệp Việt Nam - Số 2(111)/2020
Application of some bio-organic fertilizers
for tea variety TB14 in Lam Dong province
Nguyen Thi Thanh Mai, Nguyen Van Toan
Abstract
The study on application of 4 types of bio-organic fertilizers for tea variety TB14 in Lam Dong province showed that
the bio-organic fertilizers had a positive effect on the chemical properties of tea cultivation soil, making increase
productivity, quality, resistance to pests and diseases and increase economic efficiency of tea production. In particular,
NAS and RAS bio-fertilizers were two types of tea fertilizers that had the best efficiency: The tea yield reached
17.58 tons/ha when applying RAS bio-organic fertilizer and increased by 15.13% compared to control; the yield
reached 18.01 tons/ha, up 17.94% compared to the control when applying organic fertilizer NAS. At the same time,
these two types of fertilizers also increased tea quality of the highest grade A and B among studied formulas (the ratio
of grade A reached 30.0%, grade B reached 49.0% when applying NAS; the ratio of grade A was 29.5% and of grade B
was 48.6% when applying RAS). The net profit was 74.785 million/ha when applying NAS bio-fertilizers, an increase
of 12.990 million/ha compared to control; the net profit was 71.130 million/ha when applying RAS bio-fertilizers, an
increase of 9.335 million/ha compared to control. The research results also showed that there was almost no residue
of Nitrate and heavy metals in tae products when using the bio-organic fertilizers.
Keywords: biological organic fertilizer, tea yield, tea products, ensure safety
Ngày nhận bài: 11/02/2020
Ngày phản biện: 20/02/2020
Người phản biện: TS. Nguyễn Hữu La
Ngày duyệt đăng: 27/02/2020
1 Trường Đại học An Giang - Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh; 2 Trường Đại học Cần Thơ
PHÂN LẬP VÀ TUYỂN CHỌN CÁC DÒNG VI KHUẨN Bacillus spp.
CÓ KHẢ NĂNG SINH TỔNG HỢP CAROTENOID
Ở VÙNG DUYÊN HẢI HUYỆN HÒN ĐẤT, TỈNH KIÊN GIANG
Bằng Hồng Lam1,2, Huỳnh Thị Hồng Thu2,
Nguyễn Lê Thành Đạt2 và Nguyễn Minh Chơn2
TÓM TẮT
Từ 24 mẫu đất và nước mặn thu ở xã Sóc Sơn, Sơn Kiên và Thổ Sơn thuộc vùng duyên hải huyện Hòn Đất, tỉnh
Kiên Giang, đã phân lập và nhận diện được 54 dòng vi khuẩn thuộc chi Bacillus qua các đặc điểm hình thái và sinh
hóa. Kết hợp kỹ thuật ly trích với hệ dung môi methanol: chloroform (1 : 2 v/v) và quang phổ hấp thu ở bước sóng
400 - 600 nm đã phát hiện ở tất các dòng vi khuẩn Bacillus phân lập được đều có khả năng sinh carotenoid. Qua phân
tích quang phổ hấp thu cho thấy các dòng vi khuẩn SK8-1, SS6-3 và TS6-3 có khả năng sinh carotenoid cao nhất
trong các dòng vi khuẩn đã phân lập. Kết quả giải trình tự 16S rRNA cho thấy, đoạn gen giải trình tự dòng SS6-3 có
độ tương đồng 100% với dòng Bacillus marisflavi IHBB 9971, dòng TS6-3 và dòng SK8-1 có độ tương đồng 100%
với dòng Bacillus infantis BAB-2130.
Từ khóa: Bacillus, Bacillus marisflavi, Bacillus infantis, carotenoid
I. ĐẶT VẤN ĐỂ
Carotenoid từ lâu đã được sử dụng trong các
ngành dinh dưỡng, y dược và các ngành công
nghiệp với vai trò làm chất màu thực phẩm thay
cho chất màu tổng hợp. Một số carotenoid hoạt
động như tiền tố vitamin A và chất kháng oxy hóa
góp phần trong điều trị bệnh ở người như ung thư,
tiểu đường và tim mạch (Ötles and Cagindi, 2008;
Alcaino et al., 2016). Nhiều nghiên cứu cho thấy các
sắc tố carotenoid có màu nâu, đen, vàng, cam, đỏ
được quan tâm trong sản xuất công nghiệp có thể
được tổng hợp bởi vi khuẩn Bacillus. Điều này cho
thấy sắc tố tự nhiên từ nguồn vi khuẩn có khả năng
thay thế tốt cho các chất màu tổng hợp và cũng là
một lựa chọn đầy hứa hẹn có thể thay thế chất màu
khác được chiết xuất từ các loài thực vật hay rau củ
quả bởi vì chúng được coi như là chất màu tự nhiên,
không bị ảnh hưởng bởi vấn đề sản xuất theo mùa
và cho năng suất cao (Indra Arulselvi et al., 2014).
Chính vì vậy, nghiên cứu “Phân lập và tuyển chọn
86
Tạp chí Khoa học Công nghệ Nông nghiệp Việt Nam - Số 2(111)/2020
các dòng vi khuẩn Bacillus spp. có khả năng sinh
tổng hợp carotenoid ở vùng duyên hải huyện Hòn
Đất, tỉnh Kiên Giang” được thực hiện với mong
muốn tuyển chọn được một số dòng Bacillus spp.
có tiềm năng sinh tổng hợp carotenoid cao từ môi
trường mặn, có thể ứng dụng hiệu quả trong ngành
công nghiệp thực phẩm cũng như trong các lĩnh vực
khác mang nhiều ý nghĩa thực tiễn.
II. VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1. Vật liệu nghiên cứu
2.1.1. Mẫu vật
Mẫu đất và mẫu nước mặn thu được tại 3 xã Sóc
Sơn, Sơn Kiên và Thổ Sơn ở vùng duyên hải huyện
Hòn Đất, tỉnh Kiên Giang với với độ sâu từ 2 - 5 cm
so với mặt đất, mặt nước, mỗi mẫu thu khoảng
500 g/500 mL cho vào túi nilon, chai vô trùng và
chuyển đến phòng thí nghiệm để phân lập. Tổng
số mẫu thu là 24 mẫu trong đó có là 13 mẫu đất và
11 mẫu nước mặn.
2.1.2. Hóa chất
- Các hóa chất pha môi trường phân lập và nuôi
cấy vi khuẩn: môi trường Sporulation Medium Agar
(SMA) (Agaisse and Lereclus, 1994) và môi trường
Luria Bertani (LB) của Himedia (Ấn Độ).
- Các hóa chất dùng để ly trích các hợp chất
carotenoid: Methanol và Chloroform nguyên chất
của Merck (Đức).
2.2. Phương pháp nghiên cứu
2.2.1. Phân lập và nhận diện một số dòng Bacillus
spp. có khả năng sinh tổng hợp carotenoid
Cân 10 g đất hoặc hút 10 mL nước hoà tan với
90 mL nước muối sinh lý 0,9% đã khử trùng. Hỗn
hợp mẫu này được gia nhiệt ở 65°C trong 1 giờ, sau
đó pha loãng đến nồng độ 10-5, 10-6, 10-7. Hút 0,1 mL
dung dịch mẫu ở mỗi nồng độ pha loãng cấy trải
trên đĩa môi trường SMA và ủ ở nhiệt độ 37°C trong
72 giờ. Chọn các khuẩn lạc có màu hồng, cam, vàng
để tách ròng đến khi được dòng thuần. Các dòng
vi khuẩn được mô tả các đặc điểm về hình thái
và sinh hóa để nhận diện thuộc chi Bacillus dựa
trên hệ thống phân loại của Bergey’s Mannual of
Systermatic Bacteriology theo mô tả bởi Khaneja và
cộng tác viên (2010). Các dòng vi khuẩn được phân
lập sau khi tách ròng được đặt tên theo quy ước là SS
cho địa điểm thu mẫu là Sóc Sơn; SK cho địa điểm
thu mẫu là Sơn Kiên và TS cho địa điểm thu mẫu là
Thổ Sơn. Số 1, 2, 3,... là số thứ tự các dòng vi khuẩn
phân lập được.
2.2.2. Khảo sát khả năng sinh tổng hợp carotenoid
từ các dòng Bacillus spp. phân lập được
Thí nghiệm được thực hiện dựa trên phương
pháp của Indra Arulselvi và cộng tác viên (2014) có
hiệu chỉnh cho phù hợp. Các dòng vi khuẩn phân
lập được nuôi trong 100 mL môi trường LB lỏng với
tỷ lệ giống là 2% (v/v), lắc ở tốc độ 200 rpm ở 37°C
trong 48 giờ. Sinh khối tế bào vi khuẩn được thu
bằng cách ly tâm ở tốc độ 5000 rpm trong 30 phút
(lấy phần cặn). Cân 0,2 g sinh khối vi khuẩn, thêm
vào 6 mL dung môi methanol: chloroform với tỷ lệ
1 : 2 v/v, vortex mạnh để hòa tan đều sinh khối và
ly trích sắc tố màu. Thêm 6 ml nước cất vô trùng,
vortex mạnh. Phần sắc tố màu tan trong dung môi
được ly tâm 12000 rpm trong 15 phút để thu dịch
trích carotenoid (phần sắc tố màu trong dung môi
chloroform). Theo đó, 2 ml dịch trích carotenoid của
mỗi dòng vi khuẩn được đo độ hấp thu cực đại bằng
phương pháp quét bước sóng (Scanning absorption)
trong khoảng bước sóng từ 400 - 600 nm bằng máy
Thermo UV1 spectrophotometer.
Hàm lượng carotenoid tổng số được xác định
theo mô tả của Liaaen-Jensen và Jensen (1971) dựa
trên bước sóng hấp thụ cực đại của mẫu dịch trích
c = D.v.f.10/2500
Trong đó: c là hàm lượng carotenoid tổng (mg);
D là giá trị OD tại bước sóng hấp thụ cực đại; v là tổng
thể tích (mL); f là độ pha loãng; 2500 là hệ số hấp thụ
riêng của carotenoid; 10 là hệ số qui đổi ra mg.
2.2.3. Định danh dòng Bacillus spp. có khả năng
sinh carotenoid cao thông qua giải trình tự gen
16S rRNA
Dòng vi khuẩn Bacillus spp. có khả năng sinh
carotenoid cao được định danh bằng phương pháp
giải trình tự đoạn gen 16S rRNA (Phần giải trình tự
được thực hiện bởi Nam Khoa Biotek). Kết quả giải
trình tự được so sánh với dữ liệu trên ngân hàng gen
của NCBI thông qua công cụ BLAST để xác định
tên khoa học đến loài các dòng vi khuẩn được tuyển
chọn (Ramesh et al., 2017).
2.2.4. Phương pháp thống kê
Dữ liệu thu được xử lý bằng phần mềm Excel và
xử lý thống kê bằng phần mềm SPSS. Số liệu được
trình bày là giá trị trung bình các lần lặp lại. Các giá
trị trung bình được kiểm định bằng phép thử Ducan
để kiểm tra sự khác biệt.
2.3. Thời gian và địa điểm nghiên cứu
Nghiên cứu được thực hiện từ tháng 1 đến tháng 9
năm 2019 tại Viện Nghiên cứu và Phát triển Công
nghệ sinh học, Trường Đại học Cần Thơ.
87
Tạp chí Khoa học Công nghệ Nông nghiệp Việt Nam - Số 2(111)/2020
III. KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN
3.1. Phân lập và nhận diện một số dòng Bacillus
spp. có khả năng sinh tổng hợp carotenoid
3.1.1. Phân lập vi khuẩn
Năm mươi bốn (54) dòng vi khuẩn đã được phân
lập trên môi trường SMA từ 13 mẫu đất và 11 mẫu
nước mặn trong tổng số 24 mẫu thu được tại 3 xã Sóc
Sơn, Sơn Kiên và Thổ Sơn ở vùng duyên hải huyện
Hòn Đất, tỉnh Kiên Giang. Trong đó có 24 dòng vi
khuẩn được phân lập từ đất (chiếm 44,44%) và có
30 dòng được phân lập từ nước mặn (chiếm 55,56%).
Điều này cho thấy các dòng vi khuẩn phân bố rộng
rãi trong cả môi trường đất và nước mặn.
3.1.2. Nhận diện các dòng vi khuẩn đã phân lập
thuộc chi Bacillus
Về hình thái khuẩn lạc: Khuẩn lạc của 54 dòng
vi khuẩn phân lập sau 72 giờ nuôi cấy trên đĩa môi
trường SMA có màu vàng nhạt, vàng, vàng đậm,
hồng, hồng nhạt, cam nhạt. Hình dạng khuẩn lạc
tròn hoặc không tròn, bề mặt lồi hoặc phẳng, bìa
nguyên hoặc răng cưa. Đường kính khuẩn lạc dao
động từ 1 - 6 mm.
Về hình dạng - kích thước tế bào: Tế bào của các
dòng vi khuẩn đều có hình que với kích thước dao
động (1,5 - 4) µm ˟ (0,5-1) µm.
Hình 1. Hình thái khuẩn lạc (A) & (B) và Hình dạng - kích thước tế bào (C) & (D)
của các dòng vi khuẩn đã phân lập
Ghi chú: (A): Khuẩn lạc có màu hồng, (B): Khuẩn lạc có màu vàng đậm, (C): Tế bào hình que - chiều dài 2,5 μm,
(D): Tế bào hình que - chiều rộng 1 μm.
(A)
(A)
(B)
(B)
(C)
(C)
(D)
(D)
Về các đặc điểm sinh hóa: 54 dòng vi khuẩn phân
lập được đều là vi khuẩn Gram dương, có khả năng
di động, sinh nội bào tử và cho phản ứng catalase
dương tính.
Các đặc điểm kiểm tra về hình thái và sinh
hóa của các dòng vi khuẩn đã phân lập giống như
trong hệ thống phân loại của Bergey’s Mannual of
Systermatic Bacteriology theo mô tả của Khaneja và
cộng tác viên (2010) về đặc điểm nhận diện vi khuẩn
thuộc chi Bacillus. Do đó, có thể kết luận rằng có
54 dòng vi khuẩn được phân lập từ các mẫu đất, mẫu
nước mặn thu được ở Sóc Sơn, Thổ Sơn, Sơn Kiên
thuộc vùng duyên hải huyện Hòn Đất, tỉnh Kiên
Giang là thuộc chi Bacillus spp.
Hình 2. Đặc điểm sinh hóa của các dòng vi khuẩn đã phân lập
Ghi chú: (A): Gram dương, (B): Có khả năng di động, (C): Sinh nội bào tử, (D): Catalase dương tính.
88
Tạp chí Khoa học Công nghệ Nông nghiệp Việt Nam - Số 2(111)/2020
3.2. Khả năng sinh tổng hợp carotenoid từ các
dòng Bacillus spp. phân lập được
Tất cả 54 dòng vi khuẩn đã phân lập ở 3 xã Sóc
Sơn, Sơn Kiên và Thổ Sơn ở vùng duyên hải huyện
Hòn Đất, tỉnh Kiên Giang được khảo sát khả năng
sinh carotenoid đều cho kết quả là có khả năng sinh
carotenoid. Vì dịch trích carotenoid của 54 dòng vi
khuẩn này đều có đỉnh hấp thu quang phổ trong
vùng bước sóng 400 - 600 nm là vùng bước sóng có
sự hiện diện của nhóm carotenoid theo Vũ Thanh
Thảo và cộng tác viên (2011) (Bảng 1).
Bảng 1. Hàm lượng carotenoid tổng số của dịch trích
carotenoid từ một số dòng Bacillus spp. đã phân lập
STT Tên dòng
Bước sóng
hấp thu
cực đại (nm)
Hàm lượng
carotenoid
tổng số (µg/mL)
1 SK8-1 502 3,397a ± 0,026
2 SS6-3 458 2,921b ± 0,030
3 TS6-3 500 2,552c ± 0,025
4 SK9-1 499 1,940d ± 0,033
5 TS5-1 470 1,831e ± 0,024
Ghi chú: Số liệu về hàm lượng carotenoid tổng số (µg/mL)
là giá trị trung bình của 3 lần lặp lại. Các giá trị trong
cùng một cột, nếu có mẫu tự theo sau giống nhau thì khác
biệt không có ý nghĩa thống kê ở mức 5% qua phép thử
Ducan ± độ lệch chuẩn (SD).
Từ kết quả trình bày ở Bảng 1 cho thấy dịch trích
carotenoid của dòng SK8-1 có màu hồng, có hàm
lượng carotenoid tổng số cao nhất (3,397a ± 0,026) ở
bước sóng hấp thu cực đại là 502 nm và khác biệt có
ý nghĩa thống kê ở mức 5% so với tất cả các dòng còn
lại. Dịch trích carotenoid dòng TS6-3 cũng có màu
hồng, có hàm lượng carotenoid tổng số cao thứ ba
(2,552c ± 0,025) ở bước sóng hấp thu cực đại là 500 nm
và khác biệt có ý nghĩa thống kê ở mức 5% so với
dịch trích carotenoid dòng SK9-1 có màu hồng nhạt
(hàm lượng carotenoid tổng số là 1,940d ± 0,033) ở
bước sóng hấp thu cực đại là 499 nm.
Dịch trích carotenoid dòng SS6-3 có màu vàng
đậm, có hàm lượng carotenoid tổng số cao thứ hai
(2,921b ± 0,030) ở bước sóng hấp thu cực đại là 458
nm và khác biệt có ý nghĩa thống kê ở mức 5% so với
các dòng còn lại.
Dịch trích carotenoid dòng TS5-1 màu cam nhạt,
có hàm lượng carotenoid tổng số là 1,831e ± 0,024
ở bước sóng hấp thu cực đại là 470 nm và khác biệt
có ý nghĩa thống kê ở mức 5% so với tất cả các dòng
còn lại.
Kết quả trên bước đầu cho thấy sự hiện diện
của một số loại carotenoid ở các dòng vi khuẩn
Bacillus spp. phân lập được. Dịch trích carotenoid
của các dòng khác nhau có bước sóng cực đại khác
nhau là do chứa các loại carotenoid khác nhau, mỗi
loại carotenoid khác nhau sẽ hấp cực đại khác nhau
ở mỗi bước sóng khác nhau. Theo Briton và cộng
tác viên (2004), 3’4’ - Didehydro-β-Ψ-Carotene
có độ hấp thu cực đại ở các bước sóng 467, 501 và
537 nm trong dung môi Chlororoform. Kết quả này
cũng tương tự với kết quả nghiên cứu của Khaneja
và cộng tác viên (2010), trong đó sắc tố vàng, cam và
hồng có độ hấp thu cực đại lần lượt ở bước sóng 455,
467 và 492 nm.
3.3. Định danh các dòng Bacillus spp. có khả năng
sinh carotenoid cao bằng phương pháp sinh học
phân tử
Ba dòng SK8-1 (màu hồng), SS6-3 (màu vàng
đậm) và TS6-3 (màu hồng) là 3 dòng vi khuẩn
Bacillus spp. có khả năng sinh carotenoid cao nhất
và đại diện cho 3 xã Sơn Kiên, Sóc Sơn và Thổ Sơn
được chọn để định danh. Kết quả định danh bằng
giải trình tự đoạn gen 16S rRNA và so sánh với
các trình tự gen trong ngân hàng gen trên NCBI
cho thấy dòng SS6-3 có độ tường đồng 100% với
Bacillus marisflavi IHBB 9971, dòng SK8-1 và
TS6-3 có độ tương đồng 100% với Bacillus infantis
BAB-2130. Kết hợp các đặc điểm hình thái và sinh
hóa ở trên với kết quả của trình tự gen 16S rRNA của
các dòng SS6-3, SK8-1 và TS6-3, có thể kết luận rằng
SS6-3 là Bacillus marisflavi, SK8-1 và TS6-3 là
Bacillus infantis. Bởi vì, kết quả này tương tự với kết
quả mô tả về Bacillus marisflavi của Yoon và cộng
tác viên (2003) và Bacillus infantis của Ko và cộng
tác viên (2006). Ngoài ra, quá trình sinh tổng hợp
sắc tố vàng đã được tìm thấy ở Bacillus marisflavi
bởi Bùi Minh Giao Long và cộng tác viên (2010) và
Bacillus infantis sản xuất sắc tố hồng cũng được xác
định bởi Vũ Thanh Thảo và cộng tác viên (2011) và
Lê Minh Trí và cộng tác viên (2011).
IV. KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ
4.1. Kết luận
Từ 24 mẫu đất và nước mặn thu ở 3 xã Sóc Sơn,
Sơn Kiên và Thổ Sơn thuộc vùng duyên hải huyện
Hòn Đất, tỉnh Kiên Giang đã phân lập được 54
dòng vi khuẩn Bacillus spp. có khả năng tổng hợp
carotenoid trên môi trường SMA.
Kết quả khảo sát khả năng sinh carotenoid cho
thấy 54 dòng Bacillus spp. đã phân lập được đều
có khả năng sinh carotenoid. Trong đó, ba dòng
SK8-1 (màu hồng), SS6-3 (màu vàng đậm) và TS6-3
(màu hồng) có hàm lượng carotenoid tổng số sinh
ra cao nhất.
89
Tạp chí Khoa học Công nghệ Nông nghiệp Việt Nam - Số 2(111)/2020
Dòng SS6-3 có độ tương đồng 100% với Bacillus
marisflavi IHBB 9971, dòng TS6-3 và dòng SK8-1 có
độ tương đồng 100% với Bacillus infantis BAB-2130
dựa trên phân tích trình tự 16S rRNA.
4.2. Đề nghị
Khảo sát khả năng kháng oxy hóa và một số
hoạt tính sinh học khác của dịch trích carotenoid
từ các dòng Bacillus spp. có khả năng sinh tổng hợp
carotenoid cao như SK8-1, SS6-3 và TS6-3.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
Bùi Minh Giao Long, Vũ Thanh Thảo và Trần Cát
Đông, 2010. Sàng lọc chủng vi khuẩn sinh carotenoid
từ biển và các hô tôm ở Việt Nam. Y học TP. Hồ Chí
Minh, 14 (1): 1-5.
Vũ Thanh Thảo, Trần Hữu Tâm, Trần Thành Đạo và
Trần Cát Đông, 2011. Khảo sát sự tạo Carotenoid
theo thời gian ở pha sinh dưỡng của một số chủng
Bacillus. Y học TP. Hồ Chí Minh, 15(1): 211-217.
Lê Minh Trí, Trần Hữu Tâm, Trần Thị Thanh Thảo
và Trần Cát Đông, 2011. Khảo sát môi trường nuôi
cấy Bacillus sinh carotenoid cao từ các nguyên liệu
rẻ tiền. Y học TP. Hồ Chí Minh, 15 (1): 189-194.
Agaisse, H. and D. Lereclus, 1994. Expression in
Bacillus subtilis of the Bacillus thuringiensis cryIIIA
toxin gene is not dependent on a sporulation-specific
sigma factor and is increased in a spo0A mutant.
J Bacteriol, 176, 4734-4741.
Alcaíno, J., M. Baeza and V. Cifuentes, 2016.
Carotenoid distribution in nature. Carotenoids
in Nature: Biosynthesis. Regulation and Function.
Springer, 3-34.
Britton, G., Liaaen-Jensen, S and Pfander, H, 2004.
Carotenoids Handbook - Section 2: Carotenoids with
a C40 skeleton. Springer Basel AG: 1-50.
Indra Arulselvi, P., S. Umamaheswari, G. Ranandkumar
Sharma, C. Karthik and C. Jayakrishna, 2014.
Screening of Yellow Pigment Producing Bacterial
Isolates from Various Eco-climatic Areas and
Analysis of the Carotenoid Produced by the Isolate.
J. Food Process Technol., 5: 1-4.
Khaneja, R., L. Perez-Fons, S. Fakhry, L. Baccigalupi,
S. Steiger, E. To1, G. Sandmann, T.C. Dong,
E. Ricca, P.D. Fraser and S.M. Cutting, 2010.
Carotenoids found in Bacillus. Journal of Applied
Microbiology, 108: 1889-1902.
Ko, K.S., W.S. Oh, M.Y. Lee, J.H. Lee, H. Lee, K.R.
Peck, N.Y. Lee and J.H. Song, 2006. Bacillus infantis
sp. nov. and Bacillus idriensis sp. nov., isolated from
a patient with neonatal sepsis. International journal
of systematic and evolutionary microbiology. 56 (11):
2541-2544.
Liaaen-Jensen, S. and Jensen, A., 1971. Quantitative
Determination of Carotenoid in Photosynthetic
Tissues. In Method in enzymology, volume XXIII
Photosynthesis, ed. Pietro, A.S., 586-602.
Ötles, S. and O. Cagindi, 2008. Carotenoids as natural
colorants. In: Socaciu, C. (Ed.). Food Colorants:
Chemical and Functional Properties. CRC Press,
Boca Raton, 51-70.
Ramesh, C.H., R. Mohanraju, K.N.Murthy and P.
Karthick, 2017. Molecular characterization of
marine pigment bacteria showing antibacterial
activity. Indian Journal of Geo Marine Sciences, 46
(10): 2081- 2087.
Yoon, J.H., I.G. Kim, K.H. Kang, T.K. Oh and Y.H.
Park, 2003. Bacillus marisflavi sp. nov. and Bacillus
aquimaris sp. nov., isolated from sea water of a tidal
flat of the Yellow Sea in Korea. Int. J. Syst. Evol.
Microbiol., 53: 1297-1303.
Isolation and selection of carotenoid-biosynthesis Bacillus spp.
from the Coastal zone of Hon Dat district, Kien Giang province
Bang Hong Lam, Huynh Thi Hong Thu,
Nguyen Le Thanh Dat, Nguyen Minh Chon
Abstract
Fifty-four strains Bacillus bacteria were isolated and identified by the morphology and biochemistry characteristics
from 24 soil and saltwater samples collected in Soc Son, Son Kien, and Tho Son Commune from the Coastal zone of
Hon Dat District. The extracts which were extracted by methanol: chloroform (1: 2 v/v) were measured absorption
at wavelengths of 400 - 600 nm. The result showed that all strains were able to synthesize carotenoids; among them,
SK8-1, SS6-3, and TS6-3 strains had the highest ability of carotenoids-biosynthesis. Bacterial identification by
sequencing the 16S rRNA gene displayed that there was 100% similarity between the 16S rRNA gene of SS6-3 and
Bacillus marisflavi IHBB 9971. Likewise, the 16S rRNA gene of TS6-3 and SK8-1 showed 100% similarity with
Bacillus infantis BAB-2130.
Keywords: Bacillus, Bacillus marisflavi, Bacillus infantis, carotenoid
Ngày nhận bài: 9/02/2020
Ngày phản biện: 22/02/2020
Người phản biện: TS. Huỳnh Ngọc Thanh Tâm
Ngày duyệt đăng: 27/02/2020
Các file đính kèm theo tài liệu này:
phan_lap_va_tuyen_chon_cac_dong_vi_khuan_bacillus_spp_co_kha.pdf