Kumar và cs (2009) [13] đã kết luận, hỗn hợp chủng vi
sinh vật loại bỏ màu thuốc nhuộm tốt nhất tại 30 và 35oC,
hiệu quả loại bỏ màu giàm dần khi nhiệt độ tăng lên và bị
giảm đáng kể tại 45oC. Chủng vi khuẩn Planococcus sp. và
Bacillus sp. trong nghiên cứu của Mohan và cs (2013) [12]
đạt hiệu quả khử màu cao nhất tại 37oC, khi tăng nhiệt độ
tới 45oC hay giảm về 27oC hiệu quả khử màu giảm. Trong
thí nghiệm của Hadi Eslami và cs (2019) [6], hai chủng vi
khuẩn Enterococcus faecalis và Klebsiella variicola đạt
hiệu quả khử màu cao nhất tại 37oC, nếu tăng nhiệt độ tới
45oC, hiệu quả khử màu giảm. Ken Meerbergen và cs (2018)
[2] cũng khẳng định các chủng vi khuẩn Acinetobacter
(ST16.16/164) và Klebsiella (ST16.16/034) biểu hiện khả
năng khử màu mạnh nhất trong dải nhiệt độ 20-40oC. Kết
quả nghiên cứu của Maulin và cs (2013) [4] cho thấy, các
chủng vi khuẩn ETL-1 và ETL-2 đạt hiệu quả khử màu
thuốc nhuộm cao nhất tại 35oC và thấp nhất tại 45oC.
Ảnh hưởng của nguồn carbon và nitơ: carbon là nguồn
năng lượng cần thiết cho sinh trưởng và phát triển của vi
sinh vật và tác động như chất nhường điện tử cần thiết để
bẻ gãy các cầu nối trong phân tử thuốc nhuộm. Chủng A9
biểu hiện khả năng khử màu tốt nhất khi nguồn carbon là
tinh bột (bảng 5), tiếp theo là saccarose và lactose. Khi
sử dụng nguồn carbon là xylose, hiệu quả khử màu của
chủng A9 thấp nhất (41,6%). Nguồn carbon khác nhau đã
ảnh hưởng tới hiệu quả khử màu. Kết quả này tương tự với
kết quả được công bố bởi Palanivelan và cs (2014) [14].
Các chủng vi khuẩn Bacillus sp. (ESL-52), Micrococcus
sp. (TSL-7) và Lactobacillus sp. (TS-5) trong nghiên cứu
của Palanivelan biểu hiện khả năng khử màu cao nhất khi
trong môi trường nuôi vi khuẩn có tinh bột, các chủng vi
khuẩn Staphylococcus sp. (ES-37), Pseudomonas sp. (M-
1) và Bacillus sp. (TSL-9) biểu hiện tối đa khả năng khử
màu khi nguồn carbon là lactose. Chủng Bacillus sp. trong
thí nghiệm của Pushpa và cs (2017) [15] khử màu tốt nhất
khi môi trường nuôi có chứa tinh bột, ngược lại maltose và
saccarose cho hiệu quả khử màu thấp.
Đề đánh giá ảnh hưởng của nguồn nitơ đến khả năng làm
mất màu thuốc nhuộm của chủng A9, các nguồn nitơ vô cơ
và hữu cơ đã được sử dụng (bảng 6). Kết quả thí nghiệm cho
thấy, nguồn nitơ vô cơ NH4Cl và cao nấm men giúp chủng
A9 khử màu tốt hơn các nguồn nitơ khác, tuy nhiên không
bằng nguồn (NH4)2SO4. Saad El-Din Hassan và cs (2015) [5]
kết luận cao nấm men và NaNO3 đã làm tăng khả năng khử
màu thuốc nhuộm disperse yellow (D4) của chủng vi khuẩn
Klebsiella pneumoniae và Klebsiella variicola. Mohan và
cs (2013) [12] đã ghi nhận peptone là nguồn nitơ thích hợp
nhất để chủng Planococcus sp. khử màu của thuốc nhuộm
Coractive Blue P-3R, nhưng cao nấm men lại là nguồn nitơ
ưa thích để khử màu của chủng Bacillus sp.
6 trang |
Chia sẻ: hachi492 | Lượt xem: 1 | Lượt tải: 0
Bạn đang xem nội dung tài liệu Phân lập và tuyển chọn chủng vi khuẩn có khả năng khử màu nước thải dệt nhuộm, để tải tài liệu về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
5262(6) 6.2020
Khoa học Kỹ thuật và Công nghệ
Đặt vấn đề
Trong ngành công nghiệp dệt nhuộm, hàng năm khoảng
200.000 tấn thuốc nhuộm các loại được thải ra dưới dạng
nước thải trong quá trình nhuộm và hoàn thiện sản phẩm
[1]. Phần lớn các loại thuốc nhuộm tồn tại rất lâu trong tự
nhiên do tính ổn định cao của chúng đối với ánh sáng, nhiệt
độ. Xả trực tiếp nước thải từ quá trình dệt nhuộm, in vào
nguồn nước sẽ gây ô nhiễm nghiêm trọng. Thuốc nhuộm
trong nước làm tăng độ đục, không chỉ gây giảm độ hòa tan
oxy trong nước mà còn làm giảm khả năng xuyên qua nước
của ánh sáng mặt trời, do đó ảnh hưởng đến quang hợp và
toàn bộ hệ sinh thái dưới nước [2]. Xả nước thải dệt nhuộm
vào ao, hồ, sông sẽ làm thay đổi pH và tăng nhu cầu oxy
sinh hoá, nhu cầu oxy hoá học và tổng carbon hữu cơ [3].
Một số thuốc nhuộm như azo và các sản phẩm phân huỷ
chúng có tính độc, có khả năng gây ung thư, ảnh hưởng tới
sức khoẻ con người. Nhiều phương pháp vật lý, hoá học như
lọc, kết tủa, keo tụ đã được tiến hành, tuy nhiên giá thành
cao, tiêu thụ nhiều năng lượng, tạo ra chất thải khó xử lý
cũng như ảnh hưởng tới hệ sinh thái [4, 5]. Phương pháp
sinh học được xem là giải pháp thay thế hiệu quả vì giá
thành không cao, thân thiện với môi trường [6]. Khử màu
nước thải dệt nhuộm có thể diễn ra theo hai cách: hấp phụ
trên sinh khối vi sinh vật hay phân huỷ sinh học bởi tế bào
vi sinh vật [1]. Hiện nay, biện pháp phân huỷ sinh học được
ứng dụng để loại bỏ nhiều chất gây ô nhiễm. Nhiều loài vi
sinh vật, gồm vi nấm, vi khuẩn, vi tảo, nấm men có khả
năng loại bỏ nhiều dạng thuốc nhuộm [6]. Các loài vi sinh
vật sinh tổng hợp nhiều enzyme cần thiết cho quá trình làm
mất màu và khoáng hoá thuốc nhuộm trong các điều kiện
môi trường thích hợp [4]. Trên cơ sơ đó, nghiên cứu này
được tiến hành với mục đích phân lập, tuyển chọn chủng
vi khuẩn từ nước thải làng nghề dệt nhuộm và khảo sát ảnh
hưởng của một số điều kiện môi trường tới khả năng làm
mất màu thuốc nhuộm trong điều kiện in vitro.
Vật liệu và phương pháp nghiên cứu
Vật liệu
Trong nghiên cứu này thuốc nhuộm Red FN2BL
(Reactive dye) với λ=526 nm đã được sử dụng. Nước thải
dệt nhuộm được lấy từ làng nghề dệt nhuộm phường Vạn
Phúc, quận Hà Đông, TP Hà Nội.
Sàng lọc lần đầu các chủng vi khuẩn khử màu thuốc
nhuộm
Phân lập vi khuẩn từ nước thải dệt nhuộm được tiến hành
Phân lập và tuyển chọn chủng vi khuẩn
có khả năng khử màu nước thải dệt nhuộm
Nguyễn Huy Thuần1, Nguyễn Văn Giang2*, Lê Thị Vân Anh2
1Viện Nghiên cứu và Phát triển công nghệ cao, Trường Đại học Duy Tân
2Khoa Công nghệ sinh học, Học viện Nông nghiệp Việt Nam
Ngày nhận bài 22/10/2019; ngày chuyển phản biện 30/10/2019; ngày nhận phản biện 30/12/2019; ngày chấp nhận đăng 3/1/2020
Tóm tắt:
Nước thải dệt nhuộm không qua xử lý, xả trực tiếp vào nguồn nước sẽ gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng. Nhiều
phương pháp vật lý, hoá học như lọc, kết tủa, keo tụ đã được tiến hành, tuy nhiên giá thành cao, tiêu thụ nhiều năng
lượng, tạo ra chất thải khó xử lý, ảnh hưởng tới hệ sinh thái. Sử dụng vi sinh vật để xử lý nước thải dệt nhuộm được
xem là phương pháp thay thế vì giá thành không cao, thân thiện với môi trường. Nhiều chủng vi sinh vật thuộc các
chi vi khuẩn, vi nấm, xạ khuẩn và tảo có khả năng phân huỷ thuốc nhuộm. Nghiên cứu này được thực hiện với mục
đích khảo sát khả năng khử màu thuốc nhuộm Red FN2BL của một số chủng vi khuẩn được phân lập từ nước thải
dệt nhuộm. Ba chủng vi khuẩn A2, A9 và A14 có hiệu quả khử màu đã được tuyển chọn. Hiệu quả khử màu của
chủng A9 (80,6%)>A14 (67,5%)>A2 (34,6%) trong điều kiện nuôi tĩnh; trong điều kiện nuôi lắc, hiệu quả phân huỷ
thuốc nhuộm của chủng A9 (63,3%)>A14 (34,9%)>A2 (26,9%). Chủng A9 được chọn để khảo sát ảnh hưởng của
một số điều kiện môi trường nuôi cấy. Hiệu quả khử màu của chủng A9 mạnh nhất khi trong môi trường nuôi cấy có
nguồn carbon là tinh bột, nguồn nitơ là (NH
4
)2SO4, NH4Cl hay cao nấm men, mật độ vi khuẩn 5-15%, pH môi trường
trong khoảng 6-7, nhiệt độ 35oC. Chủng A9 có tiềm năng ứng dụng xử lý nước thải dệt nhuộm.
Từ khóa: khử màu, nước thải, phân huỷ sinh học, thuốc nhuộm.
Chỉ số phân loại: 2.7
*Tác giả liên hệ: Email: nvgiang@vnua.edu.vn
5362(6) 6.2020
Khoa học Kỹ thuật và Công nghệ
bằng cách pha loãng mẫu nước thải trong nước cất và cấy
chang trên đĩa thạch dinh dưỡng. Các đĩa thạch này được ủ
ở 37±2˚C trong 24h. Những khuẩn lạc với hình thái khác
nhau được tách riêng và nuôi cấy làm thuần [7]. Các mẫu
vi khuẩn sau khi đã được làm thuần được nuôi cấy trong
môi trường dinh dưỡng lỏng NB (gồm (g/l): Peptone 10,
Beef extract 10, NaCl 5, pH=7,3±0,1) trong 24h trước khi
cấy chuyển sang môi trường muối khoáng tối thiểu (gồm
(g/l): (NH4)2SO4 2, K2HPO4 1, KH2PO4 1, MgSO4.7H2O
0,1, NaCl 5, glucose 3, nước cất 1000 ml, pH=7). Sau 24h
nuôi, 10% (v/v) dịch nuôi các chủng vi khuẩn được chuyển
sang ống nghiệm có chứa 200 mg/l dung dịch thuốc nhuộm.
Quan sát sự khử màu của các chủng vi khuẩn sau 48h ủ các
ống thí nghiệm ở 30±2°C. Chủng nào biểu hiện tiềm năng
khử màu mạnh nhất được chọn để tiến hành các thí nghiệm
tiếp theo [8].
Sàng lọc lần cuối và đánh giá hiệu quả khử màu thuốc
nhuộm của các chủng vi khuẩn phân lập
Thí nghiệm này được tiến hành bằng cách sử dụng
thuốc nhuộm Red FN2BL trong môi trường MS lỏng.
Mỗi chủng vi khuẩn được chọn được nuôi 24h trong môi
trường NB, sau đó chuyển 5% (v/v) của mỗi chủng sang
bình Erlenmeyer (V=250 ml) chứa 50 ml môi trường MS và
100 mg/l thuốc nhuộm Red FN2BL. Các bình này sẽ được
nuôi cấy ở 30±2°C, trong thời gian 24-72h, điều kiện tĩnh
và lắc (150 vòng/phút). Độ hấp thụ ánh sáng của các mẫu
thí nghiệm được đo tại λ=526 nm ở thời điểm 24 và 72h [8].
Dựa trên kết quả giảm độ hấp thụ, % khử màu thuốc nhuộm
được tính toán, chủng vi khuẩn có tiềm năng khử màu thuốc
nhuộm cao sẽ được chọn cho các thí nghiệm tiếp theo.
Hiệu quả khử màu thuốc nhuộm được biểu hiện bằng %.
5 ml mẫu thí nghiệm đã khử màu được ly tâm 10.000 vòng/
phút trong 15 phút và đo độ hấp thụ ánh sáng tại λ=526 nm.
Ống đối chứng chỉ chứa thuốc nhuộm và môi trường nuôi
chủng vi khuẩn. Thí nghiệm được lặp lại 3 lần. Hiệu quả
loại bỏ màu của các chủng vi khuẩn thí nghiệm được xác
định theo công thức sau [8]:
Hiệu quả khử màu (%) = [(I - F)x100]/I (1)
Trong đó: I là độ hấp thụ của ống đối chứng; F là độ hấp
thụ của ống thí nghiệm.
Khảo sát ảnh hưởng của một số chỉ tiêu đến khả năng
khử màu của các chủng vi khuẩn thí nghiệm [5]
Ảnh hưởng của nồng độ thuốc nhuộm Red FN2BL: các
chủng vi khuẩn thí nghiệm được nuôi 24h trong môi trường
NB, sau đó 5% (v/v) dịch nuôi vi khuẩn được chuyển sang
bình Erlenmeyer (V=250 ml) chứa 50 ml môi trường MS
được bổ sung 100, 200 và 300 mg/l thuốc nhuộm, pH=7.
Các bình này sẽ được nuôi cấy ở 30±2°C, trong thời gian
72h, điều kiện tĩnh. Hiệu quả khử màu được tính theo công
thức (1).
Isolation and characterisation
of decolorising bacterial strains
isolated from textile dyeing
wastewater
Huy Thuan Nguyen1, Van Giang Nguyen2*,
Thi Van Anh Le2
1Institute of Research and Development, Duy Tan University
2Faculty of Biotechnology, Vietnam National University of Agriculture
Received 22 October 2019; accepted 3 January 2020
Abstract:
Directed discharge into water sources of untreated textile
dyeing wastewater will cause seriously environmental
contamination. Various kinds of physico-chemical
methods have been in use for the treatment of the
wastewater. However, these methods are not environment
friendly and cost-effective, and hence become
commercially unattractive. Many microorganisms
strains belonging to the different taxonomic groups
of bacteria, fungi, actinomycetes, and algae have been
reported for their ability to decolourise dyes. This study
was conducted to investigate the decolorisation of Red
FN2BL by using bacterial strains isolated from textile
dyeing wastewater. Three different bacterial strains
A2, A9 and A14 exhibited high decolorization effects
were selected. Decolorisation effect of strain A9 was
80.6%>A14 (67.5%)>A2 (34.6%) in stable cultural
condition and was A9 (63.3%)>A14 (34.9%)>A2 (26.9%)
in shaking cultural condition. The strain A9 was selected
for evaluating the effects of some cultural conditions.
Strain A9 showed maximum decolorisation ability at
pH between 6 and 7, temperature of 35oC, and bacterial
density of 5-15%. Starch and (NH
4
)2SO4, NH4Cl or
yeast extract were found to be the optimum condition
for decolorisation. In brief, the strain A9 reveals a great
potential for application in the textile dyeing wastewater
treatment.
Keywords: biodegradation, decolorisation, dyes,
wastewater.
Classification number: 2.7
5462(6) 6.2020
Khoa học Kỹ thuật và Công nghệ
Ảnh hưởng của tỷ lệ tiếp giống: các chủng vi khuẩn thí
nghiệm được nuôi 24h trong môi trường NB, sau đó lần lượt
bổ sung vi khuẩn ở các nồng độ khác nhau (v/v): 1, 5, 10 và
15% vào bình Erlenmeyer (V=250 ml) có chứa 50 ml môi
trường MS và 100 mg/l thuốc nhuộm, chuẩn độ môi trường
về pH=7. Các bình này sẽ được nuôi cấy ở 30±2°C, trong
thời gian 72h, điều kiện tĩnh. Hiệu quả khử màu được tính
như công thức (1).
Ảnh hưởng của pH, nhiệt độ: các chủng vi khuẩn thí
nghiệm được nuôi 24h trong môi trường NB, sau đó 5% (v/v)
dịch nuôi vi khuẩn được chuyển vào bình Erlenmeyer (V=250
ml) chứa 50 ml môi trường MS được bổ sung 100 mg/l thuốc
nhuộm. pH của các bình thí nghiệm được điều chỉnh đạt 5, 6,
7 và 8. Các bình này được nuôi cấy ở 30±2°C, trong thời gian
72h, điều kiện tĩnh. Tương tự như vậy, chỉnh pH của bình thí
nghiệm để đạt giá trị pH=7, nhưng các bình được ủ ở nhiệt độ
15, 25, 30 và 40°C, trong thời gian 72h, điều kiện tĩnh. Hiệu
quả khử màu được tính theo công thức (1).
Ảnh hưởng của nguồn carbon và nitơ: các chủng vi
khuẩn thí nghiệm được nuôi 24h trong môi trường NB,
sau đó 5% (v/v) dịch nuôi vi khuẩn được chuyển vào bình
Erlenmeyer (V=250 ml) chứa 50 ml môi trường MS được
bổ sung 100 mg/l thuốc nhuộm, nguồn đường glucose trong
môi trường MS được thay thế bằng Saccarose, tinh bột,
Lactose, Xytose, Maltose và Fructose. Tiến hành thí nghiệm
tương tự, nhưng thay nguồn (NH4)2SO4 trong môi trường
MS bằng NH4Cl, NaNO3, KNO3 và peptone, cao thịt, cao
nấm men. Các bình này được nuôi cấy ở 30±2°C, trong thời
gian 72h, ở điều kiện tĩnh. Hiệu quả khử màu được tính theo
công thức (1).
Kết quả và thảo luận
Kết quả phân lập chủng vi khuẩn từ nước thải dệt
nhuộm
Một số khuẩn lạc có hình thái, màu sắc khác nhau đã
xuất hiện trên đĩa môi trường thạch dinh dưỡng sau khi để
đĩa ở 37oC sau 24h (hình 1). Các chủng vi khuẩn phân lập
từ mẫu nước thải thu tại làng nghề dệt nhuộm phường Vạn
Phúc, quận Hà Đông, TP Hà Nội được lần lượt đặt tên là A1
đến A14.
Hình 1. Khuẩn lạc chủng A2, A4 và A5 phân lập được từ nước
thải dệt nhuộm.
Nhiều nhà nghiên cứu đã phân lập thành công các chủng
vi khuẩn khử màu nước thải nhuộm [1, 6, 9] và từ đất nhiễm
thuốc nhuộm azo [8]. Kết quả này cho thấy khả năng thích
nghi tự nhiên của các chủng vi khuẩn phân lập với môi
trường bị nhiễm thuốc nhuộm và khả năng sống sót trong
điều kiện có thuốc nhuộm độc hại.
Sàng lọc lần đầu các chủng vi khuẩn khử màu thuốc
nhuộm
Các khuẩn lạc với hình thái khác nhau được tách riêng
và nuôi cấy làm thuần [7]. Các mẫu vi khuẩn sau khi đã
được làm thuần được nuôi cấy 24h trong môi trường dinh
dưỡng lỏng NB trước khi cấy chuyển sang môi trường muối
khoáng tối thiểu. Sau 24h nuôi, 10% (v/v) dịch nuôi các
chủng vi khuẩn được chuyển sang ống nghiệm có chứa 200
mg/l dung dịch thuốc nhuộm. Kết quả khử màu của các
chủng vi khuẩn sau 48h ủ các ống thí nghiệm ở 30±2°C
được thể hiện ở hình 2.
Hình 2. Kết quả sàng lọc các chủng vi khuẩn có khả năng khử
màu thuốc nhuộm.
Kết quả quan sát cho thấy, chủng A2, A9 và A14 biểu
hiện hiệu quả khử màu thuốc nhuộm mạnh nhất, được chọn
để tiến hành đánh giá hiệu quả khử màu trong thí nghiệm
tiếp theo. Anamika và cs (2013) [8] cũng đã sàng lọc được
nhiều chủng vi khuẩn có khả năng khử màu một số loại
thuốc nhuộm như Balck WNN, Blue FRN, Blue RC, TURQ
blue, nhưng chỉ sàng lọc được một chủng vi khuẩn khử màu
thuốc nhuộm Red FN2BL là thuốc nhuộm được sử dụng
trong thí nghiệm này. Ogugbue và Sawidis (2011) [1] đã
tuyển chọn được 5 chủng vi khuẩn có khả năng khử màu
thuốc nhuộm Basic violet 3. Trong thí nghiệm của mình,
Ken Meerbergen và cs (2018) [2] đã tuyển chọn được các
chủng vi khuẩn thuộc chi Acinetobacter và Klebsiella biểu
hiện tiềm năng khử màu thuốc nhuôm azo. Từ các mẫu nước
thải thu thập tại vùng bị nhiễm thuốc nhuộm, Maulin và cs
(2013) [4] cũng đã phân lập được 50 chủng vi khuẩn có
thể loại bỏ thuốc nhuộm. Như vây có thể kết luận rằng, các
chủng vi khuẩn mới được phân lập từ nước thải dệt nhuộm
có thể sống và sinh trưởng trong môi trường có các loại
thuốc nhuộm khác nhau.
5562(6) 6.2020
Khoa học Kỹ thuật và Công nghệ
Sàng lọc lần cuối và đánh giá hiệu quả khử màu thuốc
nhuộm của các chủng vi khuẩn mới phân lập
Chủng vi khuẩn A2, A9 và A14 được nuôi 24h trong môi
trường NB, sau đó chuyển 5% (v/v) của mỗi chủng sang
bình Erlenmeyer (V=250 ml) chứa 50 ml môi trường MS và
100 mg/l thuốc nhuộm Red FN2BL. Các bình này sẽ được
ủ tại 30±2°C, trong thời gian 24-72h, ở điều kiện tĩnh và lắc
(150 vòng/phút). Hiệu quả khử màu (hình 3) của chủng A9
(80,6%)>A14 (67,5%)>A2 (34,6%) trong điều kiện nuôi
tĩnh, còn trong điều kiện nuôi lắc, hiệu quả phân huỷ thuốc
nhuộm của chủng A9 (63,3%)>A14 (34,9%)>A2 (26,9%).
Kết quả sàng lọc cho thấy, hiệu quả loại bỏ thuốc nhuộm của
các chủng vi khuẩn thí nghiệm trong điều kiện tĩnh cao hơn
trong điều kiện lắc. Thí nghiệm của Anamika và cs (2013)
[8] cũng cho thấy, khả năng khử màu thuốc nhuộm của các
chủng vi khuẩn trong điều kiện tĩnh cao hơn trong điều kiện
lắc. Theo công bố của Chen và cs (2003) [10], vi khuẩn
Aeromonas hydrophila khử màu thuốc nhuộm (80%) trong
điều kiện tĩnh (kỵ khí hay hiếu khí). Wang và cs (2009) [11]
cũng ghi nhận hiệu quả khử màu thuốc nhuộm của chủng
vi khuẩn đạt 96% trong điều kiện kỵ khí, và chỉ đạt 13%
trong điều kiện hiếu khí, lắc 150 vòng/phút. Tuy nhiên, một
số kết quả nghiên cứu của Ogugbue và Sawidis (2011) [1],
Saad El-Din Hassan và cs (2015) [5] cho thấy, hiệu quả khử
màu thuốc nhuộm của các chủng vi khuẩn thí nghiệm cao
nhất trong điều kiện hiếu khí (nuôi lắc). Như vậy, hiệu quả
khử màu thuốc nhuộm của các chủng vi khuẩn không chỉ
phụ thuộc vào điều kiện hiếu khí hay kỵ khí, có thể còn phụ
thuộc vào các yếu tố khác như khả năng sinh trưởng, tổng
hợp enzyme phân huỷ thuốc nhuộm của chủng vi khuẩn.
Hình 3. Khả năng khử màu thuốc nhuộm của chủng A2, A9 và A14
sau 72h trong điều kiện tĩnh (T) và lắc (L).
Kết quả thí nghiệm này cho thấy 3 chủng vi khuẩn A2,
A9 và A14 là các chủng vi khuẩn kỵ khí không bắt buộc,
oxy cần thiết cho sinh trưởng của vi khuẩn, nhưng ức chế
hiệu quả khử màu của chúng. Dựa trên hiệu quả khử màu,
chủng A9 được chọn để tiến hành các thí nghiệm tiếp theo
và được nuôi trong điều kiện tĩnh.
Khảo sát ảnh hưởng của một số chỉ tiêu đến khả năng
khử màu của chủng vi khuẩn A9
Ảnh hưởng của nồng độ thuốc nhuộm Red FN2BL: sau
72h nuôi cấy với các nồng độ thuốc nhuộm khác nhau, hiệu
quả khử màu của chủng A9 đạt 76,7-81,3% phụ thuộc vào
nồng độ thuốc nhuộm (bảng 1). Khi tăng nồng độ thuốc
nhuộm, hiệu quả khử màu của chủng A9 giảm. Hiệu quả
khử màu thuốc nhuộm của các chủng vi khuẩn giảm khi
tăng nồng độ thuốc nhuộm đã được nhiều nhà nghiên cứu
công bố. Saad El-Din Hassan và cs (2015) [5] khi khảo
sát ảnh hưởng của nồng độ thuốc nhuộm tới hiệu quả khử
màu của các chủng vi khuẩn Klebsiela đã ghi nhận kết quả
khi nồng độ thuốc nhuộm tăng, hiệu quả khử màu của các
chủng vi khuẩn giảm rõ rệt. Nồng độ thuốc nhuộm Reactive
Black 5 nhiều hơn 200 mg/l đã giảm hiệu quả khử màu của
chủng vi khuẩn Enterobacter sp. [11]. Hai chủng vi khuẩn
Enterococcus faecalis và Klebsiella variicola đã giảm khả
năng khử màu thuốc nhuộm khi tăng nồng độ thuốc nhuộm
từ 50 đến 100 mg/l [6]. Nồng độ cao các loại thuốc nhuộm
ức chế khả năng loại bỏ màu từ cơ chất của vi khuẩn và ảnh
hưởng tới sinh trưởng, trao đổi chất và tổng hợp enzyme của
tế bào vi khuẩn [1, 5].
Bảng 1. Ảnh hưởng của nồng độ thuốc nhuộm tới khả năng khử
màu của chủng vi khuẩn A9.
Nồng độ thuốc
nhuộm (mg/l)
Giá trị OD
% khử màu
Đối chứng Thí nghiệm
100 0,209 0,039 81,3
200 0,694 0,151 77,6
300 1,439 0,335 76,7
Ảnh hưởng của tỷ lệ tiếp giống: hiệu quả khử màu thuốc
nhuộm của vi sinh vật phụ thuộc vào nhiều quá trình như
phân huỷ sinh học, hấp phụ sinh học, kết tủa [5]. Vì thế, sinh
khối tế bào có vai trò quan trọng trong quá trình khử màu
nước thải. Kết quả thí nghiệm của chúng tôi (bảng 2) cho
thấy, khi mật độ vi khuẩn tăng từ 1 đến 15%, hiệu quả khử
màu tăng tương ứng từ 40,0 đến 88,0%.
Bảng 2. Ảnh hưởng của tỷ lệ tiếp giống tới khả năng khử màu của
chủng vi khuẩn A9.
Tỷ lệ tiếp
giống (%)
Nồng độ
thuốc nhuộm
Giá trị OD
% khử màu
Đối chứng Thí nghiệm
1
100 mg/l 0,209
0,130 40,0
5 0,039 81,3
10 0,035 83,3
15 0,025 88,0
Hiệu quả khử màu cao nhất (88,0%) đạt được khi lượng
giống vi khuẩn ban đầu là 15%. Mohan và cs (2013) [12]
ghi nhận chủng Bacillus sp. và Planococcus sp. đạt hiệu quả
khử màu cao nhất khi nồng độ chủng giống ban đầu là 10%
và thấp hơn ở các nồng độ 1, 2 và 5%. Kết quả tương tự
cũng đã được công bố bởi Kumar và cs (2009) [13].
Ảnh hưởng của pH, nhiệt độ: pH của môi trường nuôi
5662(6) 6.2020
Khoa học Kỹ thuật và Công nghệ
cấy đóng vai trò quan trọng đối với hoạt động sinh lý của
các tế bào vi khuẩn và sự trao đổi của các thành phần dinh
dưỡng khác nhau qua màng. Hiệu quả khử màu của chủng
vi khuẩn A9 đạt cao nhất tại pH=6-7, khi tăng hay giảm giá
trị pH so với 6-7, hiệu quả khử màu đều giảm (bảng 3). Saad
El-Din Hassan và cs (2015) [5] đã kết luận rằng, pH tối ưu
để đạt hiệu quả khử màu cao nhất của 2 chủng vi khuẩn
Klebsiella pneumoniae và Klebsiella variicola là 5-7, nếu
tăng hay giảm pH so với giá trị này, hiệu quả khử màu giảm.
Maulin và cs (2013) [4] trong thí nghiệm của mình đã khẳng
định, pH môi trường tăng từ 5 đến 7, hiệu quả khử màu tăng
và đạt hiệu quả cao nhất tại pH=7, nếu tiếp tục tăng pH tới
9, hiệu quả khử màu giảm. Nghiên cứu của Kumar và cs
(2009) [13], Ken Meerbergen và cs (2018) [2] cũng cho kết
quả tương tự, hiệu quả khử màu cao nhất của hỗn hợp vi
sinh vật đạt được khi môi trường có giá trị pH=7-8. pH môi
trường ảnh hưởng tới hiệu quả khử màu của các chủng vi
sinh vật, pH tối ưu để loại bỏ màu nhiều loại thuốc nhuộm
thường trong ngưỡng từ 6 đến 10 [5]. Từ kết quả nghiên
cứu này, có thế kết luận pH=6-7 thích hợp cho hoạt động
khử màu thuốc nhuộm Red FN2BL của chủng vi khuẩn A9.
Bảng 3. Ảnh hưởng của giá trị pH tới khả năng khử màu của
chủng vi khuẩn A9.
pH Nồng độ thuốc nhuộm
Giá trị OD
% khử màu
Đối chứng Thí nghiệm
5
100 mg/l 0,209
0,082 60,8
6 0,030 85,6
7 0,040 81,0
8 0,095 54,5
Hiệu quả khử màu thuốc nhuộm Red FN2BL của chủng
vi khuẩn A9 cao nhất (81,3%) tại nhiệt độ 35oC (bảng 4).
Tại nhiệt độ 25 và 40oC hiệu quả loại bỏ màu thuốc nhuộm
của chủng A9 không khác nhau nhiều. Hiệu quả khử màu
thấp nhất (34,2%) khi nhiệt độ môi trường là 15oC. Khả
năng khử màu của chủng vi khuẩn thí nghiệm giảm tại 45oC
có thể do giảm khả năng sinh trưởng của tế bào hoặc biến
tính enzyme chịu trách nhiệm khử màu tại 45oC. Chủng vi
khuẩn A9 sinh trưởng tốt tại 35oC và tăng cường tổng hợp
enzyme phân huỷ, do đó hiệu quả phân huỷ thuốc nhuộm
tăng. Kết quả này cũng tương tự kết quả nghiên cứu của một
số nhà khoa học khác.
Bảng 4. Ảnh hưởng của nhiệt độ tới khả năng khử màu của
chủng vi khuẩn A9.
Nhiệt độ
(°C)
Nồng độ
thuốc nhuộm
Giá trị OD
% khử màu
Đối chứng Thí nghiệm
15
100 mg/l 0,209
0,138 34,2
25 0,096 54,3
35 0,039 81,3
40 0,095 52,4
Kumar và cs (2009) [13] đã kết luận, hỗn hợp chủng vi
sinh vật loại bỏ màu thuốc nhuộm tốt nhất tại 30 và 35oC,
hiệu quả loại bỏ màu giàm dần khi nhiệt độ tăng lên và bị
giảm đáng kể tại 45oC. Chủng vi khuẩn Planococcus sp. và
Bacillus sp. trong nghiên cứu của Mohan và cs (2013) [12]
đạt hiệu quả khử màu cao nhất tại 37oC, khi tăng nhiệt độ
tới 45oC hay giảm về 27oC hiệu quả khử màu giảm. Trong
thí nghiệm của Hadi Eslami và cs (2019) [6], hai chủng vi
khuẩn Enterococcus faecalis và Klebsiella variicola đạt
hiệu quả khử màu cao nhất tại 37oC, nếu tăng nhiệt độ tới
45oC, hiệu quả khử màu giảm. Ken Meerbergen và cs (2018)
[2] cũng khẳng định các chủng vi khuẩn Acinetobacter
(ST16.16/164) và Klebsiella (ST16.16/034) biểu hiện khả
năng khử màu mạnh nhất trong dải nhiệt độ 20-40oC. Kết
quả nghiên cứu của Maulin và cs (2013) [4] cho thấy, các
chủng vi khuẩn ETL-1 và ETL-2 đạt hiệu quả khử màu
thuốc nhuộm cao nhất tại 35oC và thấp nhất tại 45oC.
Ảnh hưởng của nguồn carbon và nitơ: carbon là nguồn
năng lượng cần thiết cho sinh trưởng và phát triển của vi
sinh vật và tác động như chất nhường điện tử cần thiết để
bẻ gãy các cầu nối trong phân tử thuốc nhuộm. Chủng A9
biểu hiện khả năng khử màu tốt nhất khi nguồn carbon là
tinh bột (bảng 5), tiếp theo là saccarose và lactose. Khi
sử dụng nguồn carbon là xylose, hiệu quả khử màu của
chủng A9 thấp nhất (41,6%). Nguồn carbon khác nhau đã
ảnh hưởng tới hiệu quả khử màu. Kết quả này tương tự với
kết quả được công bố bởi Palanivelan và cs (2014) [14].
Các chủng vi khuẩn Bacillus sp. (ESL-52), Micrococcus
sp. (TSL-7) và Lactobacillus sp. (TS-5) trong nghiên cứu
của Palanivelan biểu hiện khả năng khử màu cao nhất khi
trong môi trường nuôi vi khuẩn có tinh bột, các chủng vi
khuẩn Staphylococcus sp. (ES-37), Pseudomonas sp. (M-
1) và Bacillus sp. (TSL-9) biểu hiện tối đa khả năng khử
màu khi nguồn carbon là lactose. Chủng Bacillus sp. trong
thí nghiệm của Pushpa và cs (2017) [15] khử màu tốt nhất
khi môi trường nuôi có chứa tinh bột, ngược lại maltose và
saccarose cho hiệu quả khử màu thấp.
Bảng 5. Ảnh hưởng của nguồn carbon tới khả năng khử màu của
chủng vi khuẩn A9.
Nguồn
carbon
Nồng độ thuốc
nhuộm
Giá trị OD
% khử màu
Đối chứng Thí nghiệm
Saccarose
100 mg/l 0,625
0,097 84,5
Tinh bột 0,080 87,2
Lactose 0,151 75,8
Maltose 0,239 61,8
Fructose 0,213 65,9
Xylose 0,365 41,6
Đề đánh giá ảnh hưởng của nguồn nitơ đến khả năng làm
mất màu thuốc nhuộm của chủng A9, các nguồn nitơ vô cơ
và hữu cơ đã được sử dụng (bảng 6). Kết quả thí nghiệm cho
5762(6) 6.2020
Khoa học Kỹ thuật và Công nghệ
thấy, nguồn nitơ vô cơ NH4Cl và cao nấm men giúp chủng
A9 khử màu tốt hơn các nguồn nitơ khác, tuy nhiên không
bằng nguồn (NH4)2SO4. Saad El-Din Hassan và cs (2015) [5]
kết luận cao nấm men và NaNO3 đã làm tăng khả năng khử
màu thuốc nhuộm disperse yellow (D4) của chủng vi khuẩn
Klebsiella pneumoniae và Klebsiella variicola. Mohan và
cs (2013) [12] đã ghi nhận peptone là nguồn nitơ thích hợp
nhất để chủng Planococcus sp. khử màu của thuốc nhuộm
Coractive Blue P-3R, nhưng cao nấm men lại là nguồn nitơ
ưa thích để khử màu của chủng Bacillus sp.
Bảng 6. Ảnh hưởng của nguồn nitơ tới khả năng khử màu của
chủng vi khuẩn A9.
Nguồn nitơ
Nồng độ
thuốc
nhuộm
Giá trị OD
% khử
màuĐối
chứng
Thí
nghiệm
Nitơ vô
cơ
NH4Cl
100 mg/l 0,624
0,185 70,3
(NH4)2SO4 0,117 81,25
NaNO3 0,434 30,4
KNO3 0,499 20,0
Nitơ
hữu cơ
Cao thịt 0,603 3,3
Cao nấm men 0,302 51,6
Peptone 0,522 16,3
Kết luận
Ba chủng vi khuẩn A2, A9 và A14 có khả năng khử màu
đã được phân lập từ mẫu nước thải dêt nhuộm, hiệu quả khử
màu của chủng A9 cao nhất.
Hiệu quả khử màu thuốc nhuộm Red FN2BL của chủng
A9 cao nhất khi sử dụng nguồn carbon là tinh bột, nguồn
nitơ là (NH4)2SO4, NH4Cl và cao nấm men, nhiệt độ 35
oC
và pH thích hợp trong khoảng 6-7. Chủng A9 có tiềm năng
loại bỏ màu của nước thải chứa thuốc nhuộm Red FN2BL
từ các cơ sở dệt nhuộm.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
[1] C.J. Ogugbue, T. Sawidis (2011), “Bioremediation and
detoxification of synthetic wastewater containing triarylmethane
dyes by Aeromonas hydrophila isolated from industrial effluent”,
Biotechnology Research International, 967925, p.11, DOI:
10.4061/2011/967925.
[2] Ken Meerbergen, et al. (2018), “Isolation and screening of
bacterial isolates from wastewater treatment plants to decolorize azo
dyes”, Journal of Bioscience and Bioengineering, 125(4), pp.448-
456.
[3] H.S. Lade, et al. (2012), “Enhanced biodegradation and
detoxification of disperse azo dye Rubine GFL and textile industry
effluent by defined fungal-bacterial consortium”, Int. Biodeterior.
Biodegradation, 72, pp.94-107.
[4] Maulin P. Shah, et al. (2013), “Selection of bacterial strains
efficient in decolorization of Remazol Black-B”, Romanian Archives
of Microbiology and Immunology, 72(4), pp.234-241.
[5] Saad El-Din Hassan, et al. (2015), “Biological decolorization
of different azo dyes using two bacterial strains of Klebsiella spp. and
their consortium”, International Journal of Environmental Biology,
5(4), pp.104-114.
[6] Hadi Eslami, et al. (2019), “Decolorization and biodegradation
of reactive Red 198 Azo dye by a new Enterococcus faecalis - Klebsiella
variicola bacterial consortium isolated from textile wastewater
sludge”, World Journal of Microbiology and Biotechnology, 35(3),
p.38, DOI: 10.1007/s11274-019-2608-y.
[7] J.G. Cappuccino, et al. (2014), Microbiology: A Laboratory
Manual, Spiral Bound.
[8] Anamika Pokharia, Sarabjeet Singh Ahluwalia (2013),
“Isolation and screening of dye decolorizing Bacterial Isolates
from contaminated sites”, Textiles and Light Industrial Science and
Technology, 2(2), pp.54-61.
[9] Rashid Mahmood, et al. (2014), “Biodegradation of textile dye
by indigenously isolated bacteria Bacillus and Pseudomonas sp. and
their discard after bio-treatment”, Asian Journal of Chemistry, 26(10),
pp.2945-2948.
[10] K.C. Chen, J.Y. Wu, D.J. Liou (2003), “Decolorization
of the textile dyes by newly isolated bacterial strains”, Journal of
Biotechnology, 101, pp.57-68.
[11] H. Wang, et al. (2009), “Bacterial decolorization and
degradation of the reactive dye reactive red 180 by Citrobacter sp.
CK3q”, Int. Biodeterioration Biodegradation, 63, pp.395-399.
[12] V. Mohan, et al. (2013), “Isolation and screening of potential
dye decolorizing bacteria from textile dye effluents in Tamil Nadu,
India”, Journal of Academia and Industrial Research (JAIR), 2(2),
pp.74-79.
[13] Kumar Kapil, et al. (2009), “Effect of process parameters
on aerobic decolourization of reactive azo dye using mixed culture”,
International Journal of Biomedical and Biological Engineering,
3(10), pp.525-528.
[14] R. Palanivelan, S. Rajakumar, P.M. Ayyasamy (2014),
“Effect of various carbon and nitrogen sources on decolorization of
textile dye remazol golden yellow using bacterial species”, Journal of
Environmental Biology, 35, pp.781-787.
[15] V. Pushpa, et al. (2017), “Effect of carbon and nitrogen
sources for the degradation of red 2G by Bacillus sp.”, Int. J. Pharm.
Sci. Rev. Res., 47(1), pp.108-113.
Các file đính kèm theo tài liệu này:
phan_lap_va_tuyen_chon_chung_vi_khuan_co_kha_nang_khu_mau_nu.pdf