Khả năng ức chế vi sinh vật gây bệnh
của bacteriocin thô sinh ra từ 3 chủng vi
khuẩn lactic NC7, ND5 và NH10
Bổ sung 500 µl dịch bacteriocin thô thu
được từ dịch lên men 3 chủng vi khuẩn lactic
ND5, NC7 và NH10 vào các lỗ trên đĩa thạch
chứa môi trường MPA đã cấy sẵn vi sinh vật
gây bệnh. Hoạt tính ức chế một số vi khuẩn
gây bệnh (E.coli, Samonella sp., Shigella sp.,
Bacillus cereus) của dịch bacteriocin thô được
thể hiện bằng đường kính vòng vô khuẩn xung
quanh lỗ thạch được thể hiện ở bảng 3.4 và
hình 3.8.
Kết quả thử hoạt tính kháng khuẩn (theo
phương pháp thỏi thạch) của 3 chủng vi khuẩn
lactic đối với Bacillus cereus thể hiện trên
bảng 3.4 và hình 3.8. Từ các kết quả thu được
cho thấy chủng ND5 và NH10 có khả năng ức
chế cả 4 chủng vi sinh vật kiểm định
Samonella sp., Shigella sp., E.coli và Bacillus
cereus. Chủng NC7 chỉ có khả năng ức chế
Bacilus cereus.
8 trang |
Chia sẻ: hachi492 | Lượt xem: 4 | Lượt tải: 0
Bạn đang xem nội dung tài liệu Phân lập và tuyển chọn một số chủng vi khuẩn lactic có khả năng sinh tổng hợp amylase và bacteriocin, để tải tài liệu về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
TẠP CHÍ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ LÂM NGHIỆP SỐ 3 (KỲ I) - 2013 3
PHÂN LẬP VÀ TUYỂN CHỌN MỘT SỐ CHỦNG VI KHUẨN LACTIC
CÓ KHẢ NĂNG SINH TỔNG HỢP AMYLASE VÀ BACTERIOCIN
Nguyễn Thị Minh Hằng1, Nguyễn Minh Thư2
1ThS. Trường Đại học Lâm nghiệp
2SV. Trường Đại học Lâm nghiệp
TÓM TẮT
Hệ vi khuẩn lactic trong các sản phẩm muối chua truyền thống ở Việt Nam có vai trò quan trọng trong chế
biến và bảo quản thực phẩm. Từ 98 chủng vi khuẩn phân lập trong nước muối chua dưa, hành, cà đã tuyển chọn
được 7 chủng có khả năng sinh nhiều axit lactic. Trong số đó có 3 chủng lên men đồng hình: ND5, NC7 và
NH10, chúng có khả năng sinh amylase cao (đường kính vòng thủy phân tinh bột: 18-21 mm) trong môi trường
MRS có 2% tinh bột ở 37oC, pH 7. Hai chủng ND5 và NH10 sinh bacteriocin có khả năng ức chế các vi sinh
vật gây bệnh: E. coli, Salmonella sp., Shigella sp., Bacillus cereus với đường kính vòng vô khuẩn 20-26 mm,
riêng chủng NC7 chỉ ức chế được Bacillus cereus. Ba chủng này ứng dụng tốt trong sản xuất axit lactic,
amylase và bacteriocin phục vụ cho chế biến và bảo quản thực phẩm.
Keywords: Amylase, Bacteriocin, chất diệt khuẩn, lên men lactic đồng hình, vi khuẩn lactic
I. ĐẶT VẤN ĐỀ
Trong công nghiệp chế biến và bảo quản
thực phẩm, các loại sản phẩm tươi sống như:
thịt, cá, trứng, sữa, rau, củ, quả rất dễ bị thối
hỏng và bị nhiễm các vi sinh vật gây bệnh (như
Salmonella, shigella, E. coli, Vibro inaba,
streptococcus) nên việc sử dụng các chất bảo
quản thực phẩm là rất cần thiết [2]. Tuy nhiên,
các loại hóa chất bảo quản đang được sử dụng
rộng rãi như hiện nay đã gây ra những hiện
tượng ngộ độc thực phẩm hàng loạt, ảnh hưởng
xấu đến sức khỏe cộng đồng. Việc nghiên cứu
tìm ra các chất bảo quản thực phẩm có nguồn
gốc sinh học là rất cần thiết. Nhiều kết quả
nghiên cứu trong và ngoài nước đã chỉ ra rằng
vi khuẩn lactic có khả năng ức chế vi khuẩn
gây bệnh nhờ hoạt chất Bacteriocin [5]. Ngoài
ra, khả năng sinh amylase thủy phân tinh bột
và một số hoạt tính sinh học quý khác cũng
được nghiên cứu, phát hiện ở các vi khuẩn
lactic. Vì vậy, vi khuẩn lactic là nguồn vi sinh
vật có tiềm năng để nghiên cứu thu nhận
amylase, sản xuất với quy mô lớn dùng trong
công nghiệp do nhóm vi khuẩn này có khả
năng chịu axit, sinh trưởng tốt và đảm bảo chất
lượng sản phẩm lên men ổn định ở các điều
kiện môi trường có các giá trị pH khác nhau
[3]. Trong nghiên cứu này, tác giả trình bày
kết quả phân lập và tuyển chọn một số chủng
vi khuẩn lactic có đồng thời một số đặc tính
sinh học quý: khả năng lên men lactic đồng
hình, khả năng phân giải tinh bột và sinh chất
diệt khuẩn Bacteriocin.
II. VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1. Vật liệu nghiên cứu
- Nguồn vi sinh vật: Nước dưa muối, nước
hành muối, nước cà muối thu thập tại chợ
Xuân Mai và các vùng phụ cận tại Chương
Mỹ, Hà Nội.
- Các vi khuẩn kiểm định: Salmonella sp., E.
coli, Shigella sp., Bacillus cereusdo Viện
Công nghệ sinh học Lâm Nghiệp, Trường Đại
học Lâm Nghiệp cung cấp.
- Môi trường MRS (để phân lập vi khuẩn
lactic) gồm (g/l): thạch 15,0 g/l; glucose 20,0;
CaCO3 5,0; Cao thịt 10,0; Cao nấm men 5,0;
Pepton 10,0; Tween 80 1,0; K2HPO4 2,0;
CH3COONa 5,0; Triamoniumcitrat 2,0;
MgSO4.7H2O 0,58; MnSO2.4H2O 0,28; pH 7,0.
- Các loại môi trường MRS I, MRS II, MRS
III có thành phần giống MRS, bổ sung thêm
C«ng nghÖ sinh häc & Gièng c©y trồng
TẠP CHÍ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ LÂM NGHIỆP SỐ 3 (KỲ I) - 2013 4
glucose 20 g/l cho MRS I; glucose 10 g/l và
tinh bột 10 g/l cho MRS II; tinh bột 20 g/l cho
MRS III.
- Môi trường MPA (để kiểm tra hoạt tính
kháng khuẩn) gồm (g/l): Thạch 15,0; Pepton
5,0; NaCl 1,0; Cao thịt 2,0; nước cất, pH 7,0.
Các môi trường MRS I (bổ sung 2%
glucose), MRSII (bổ sung 1% glucose + 1%
tinh bột), MRSIII (bổ sung 2% tinh bột). Môi
trường thạch thường (g/l) sử dụng để kiểm tra
hoạt tính kháng khuẩn của vi khuẩn lactic
(thành phần gồm: thạch 15,0 g/l + pepton 5,0
g/l + NaCl 1,0 g/l + cao thịt 2,0 g/l + nước cất,
pH = 7.
2.2. Phương pháp nghiên cứu
- Phân lập vi khuẩn lactic: Pha loãng mẫu đến
các nồng độ khác nhau: 10-1, 10-2, 10-3, 10-4;
hút 0,05 ml dịch mẫu ở mỗi nồng độ nhỏ lên đĩa
petri chứa môi trường MRS đặc, gạt đều sao
cho dịch mẫu trải đều trên mặt thạch, nuôi ở
37oC trong 48 giờ; chọn những khuẩn lạc mọc
riêng rẽ có những đặc điểm đặc trưng của vi
khuẩn lactic, hình tròn, có màu trắng đục, nhẵn
và có vòng phân giải CaCO3; tiến hành cấy
sang đĩa thạch MRS khác theo đường rích rắc
nhằm làm cho các khuẩn lạc mọc rời nhau để
thuần khiết, tinh sạch khuẩn lạc.
Nuôi 48 giờ trên máy lắc 200 vòng/phút các
chủng phân lập được trong môi trường MRS dịch
thể ở 37oC, bình nào có mầu trắng đục thì bình đó
có vi khuẩn lactic phát triển (theo Therner).
- Phương pháp chuẩn độ Therner: Khả năng
sinh axit lactic mạnh hay yếu của các chủng vi
khuẩn lactic được xác định bằng phương pháp
chuẩn độ Therner. Lấy 10 ml dịch nuôi lắc đã
li tâm cho vào ống nghiệm, bổ sung 20 ml
nước cất và 1-2 giọt Phenolphtalein (nồng độ
1% trong cồn 90o). Chuẩn độ bằng NaOH 0,1N
đến khi xuất hiện màu hồng nhạt bền trong 30
giây thì dừng lại. Ghi lại thể tích NaOH đã
dùng để chuẩn độ.
Độ axit được tính theo độ Therner:
oT = VNaOH tiêu tốn x 10
% axit lactic = oT x 0,009
Trong đó: oT là độ Therner, 1oT tương ứng với
9 mg axit lactic.
- Xác định hoạt tính amylase bằng phương
pháp khuếch tán trên đĩa thạch: Lên men các
chủng vi khuẩn lactic trong môi trường MRS
lỏng, nuôi lắc ở 37oC, tốc độ lắc 200
vòng/phút, trong 24-48 giờ. Li tâm dịch nuôi ở
7000 vòng/phút, loại bỏ sinh khối, thu dịch
trong. Dùng khoan nút chai khoan các lỗ thạch
trên đĩa petri chứa môi trường thạch có bố
sung 1% tinh bột. Nhỏ 0,1 ml dịch enzym thô
đã li tâm vào lỗ thạch, để vào tủ ấm 5-6 giờ
cho lượng dịch trong lỗ thạch thủy phân tinh
bột. Nhuộm màu bằng dung dịch Lugol 5%.
Hoạt tính amylase được đo bằng đường kính
vòng phân giải tinh bột xung quanh lỗ thạch,
tức là D – d, mm. Trong đó: D là đường kính
vòng phân giải (mm), d là đường kính lỗ thạch
(mm).
- Phương pháp xác định hoạt tính catalase:
Nhỏ trực tiếp vài giọt H2O2 3% lên bề mặt
khuẩn lạc vi khuẩn lactic đã được nuôi 48 giờ
trong môi trường MRS ở 37oC. Quan sát sự
xuất hiện bọt khí bằng mắt thường. Nếu thấy
có xuất hiện bọt khí thì phản ứng là dương
tính, ngược lại không xuất hiện bọt khí là phản
ứng catalase âm tính (James G.C).
- Phương pháp xác định khả năng di động
của vi khuẩn: Chủng vi khuẩn được cấy vào
các ống nghiệm chứa môi trường MRS đặc
theo phương thẳng đứng, nuôi ở 37oC trong 48
giờ. Nếu vi khuẩn mọc lan ra xung quanh
đường cấy chứng tỏ vi khuẩn có khả năng di
động. Nếu vi khuẩn chỉ mọc thẳng đứng theo
đường cấy chứng tỏ vi khuẩn không có khả
năng di động (James G.C).
- Phương pháp xác định kiểu lên men:
Phương pháp xác định kiểu lên men lactic
đồng hình và dị hình dựa vào khả năng sinh
C«ng nghÖ sinh häc & Gièng c©y trồng
TẠP CHÍ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ LÂM NGHIỆP SỐ 3 (KỲ I) - 2013 5
khí CO2 trong quá trình lên men glucose của vi
khuẩn lactic. Cho ống Durham vào ống nghiệm
chứa 5 ml môi trường MRS, hấp khử trùng ở
12oC trong 15 phút; cấy chủng vi khuẩn lactic
cần thử vào ống nghiệm, nuôi ở 37oC trong 48
giờ. Nếu ống Durham nổi lên trên bề mặt môi
trường thì chứng tỏ chủng vi khuẩn sinh khí
CO2 (lên men lactic dị hình); nếu ống Durham
chìm chứng tỏ chủng vi khuẩn không sinh khí
CO2 (lên men lactic đồng hình).
- Xác định hoạt tính kháng khuẩn bằng
phương pháp đục lỗ thạch: Lên men các chủng
vi khuẩn lactic có hoạt tính amylase đã được
tuyển chọn trong môi trường MRS dịch thể, lắc
200 vòng/phút trong 48 giờ ở nhiệt độ 37oC .
Ly tâm dịch nuôi 12000 vòng/phút, loại sinh
khối, thu dịch Bacteriocin thô. Nhỏ 0,5 ml dịch
bateriocin thô vào các lỗ thạch trên đĩa đã cấy
sẵn vi khuẩn kiểm định, nuôi ở 37oC, 24 giờ.
Khả năng ức chế vi khuẩn kiểm định được xác
định bằng đường kính vòng vô khuẩn xung
quanh lỗ thạch: D – d, mm. Trong đó: D là
đường kính vòng vô khuẩn (mm), d là đường
kính lỗ thạch (mm).
- Xác định hoạt tính kháng khuẩn bằng
phương pháp thỏi thạch: 3 chủng vi khuẩn
lactic nuôi trên môi trường thạch MRS. Dùng
khoan nút chai khoan các thỏi thạch có chứa
các chủng này và đặt lên môi trường MPA đã
cấy sẵn vi sinh vật kiểm định. Để lạnh 4oC
khoảng 2-4 giờ cho Bacteriocin khuếch tán vào
thạch, rồi nuôi tiếp trong tủ ấm cho vi sinh vật
kiểm định phát triển.
Vi khuẩn được chọn lọc để thử hoạt tính
nuôi trên môi trường LB đặc. Dùng khoan nút
chai khoan các thỏi thạch có chứa vi sinh vật
đối kháng đã nuôi trên đĩa peptri sau 48 giờ.
Đặt thỏi thạch lên bề mặt môi trường đã cấy
sẵn vi sinh vật kiểm định. Sau 48 giờ nuôi
trong tủ ấm và đưa ra quan sát vòng kháng
khuẩn xung quanh thỏi thạch: D – d, mm.
Trong đó, D là đường kính vòng vô khuẩn
(mm), d là đường kính thỏi thạch (mm).
- Xác định ảnh hưởng của một số yếu tố đến
khả năng sinh amylase của các chủng vi khuẩn
lactic:
+ Xác định ảnh hưởng của nguồn carbon:
Các chủng vi khuẩn lactic có hoạt tính amylase
cao được nuôi lắc 200 vòng/phút, ở 37oC, thời
gian 48 giờ trong các môi trường MRS lỏng có
sự khác nhau về nguồn carbon: Môi trường
MRS I có 2% glucose, môi trường MRS II có
1% glucose và 1% tinh bột tan, môi trường
MRS III có 2% tinh bột tan. Xác định khả năng
sinh amylase bằng phương pháp đục lỗ thạch.
+ Xác định ảnh hưởng của pH ban đầu:
Các chủng vi khuẩn được lên men trong môi
trường MRS dịch thể có các giá trị pH ban đầu
khác nhau (pH = 5; 6; 7 và 8), lắc với tốc độ
200 vòng/phút, ở 37oC, trong 48 giờ. Li tâm
dịch lên men và xác định hoạt tính amylase
qua đường kính vòng phân giải tinh bột.
III. KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN
3.1. Phân lập và thuần khiết giống
Từ một số sản phẩm lên men: nước dưa,
nước hành, nước cà muối chua, tiến hành phân
lập theo phương pháp đã nêu ở trên. Sau 36-48
giờ nuôi trong tủ ấm cho thấy trên mặt thạch
xuất hiện nhiều loại khuẩn lạc với kích thước,
hình dạng khác nhau nhưng chủ yếu là những
khuẩn lạc có màu trắng sữa, tròn nhẵn và có
vòng trong suốt xung quanh do CaCO3 bị phân
giải bởi axit lactic. Sau khi tiến hành tinh sạch,
thu nhận các chủng thuần khiết bằng phương
pháp cấy ria trên đĩa thạch MRS, mật độ tế bào
giảm dần theo vết cấy, xuất hiện các khuẩn lạc
rời mọc riêng rẽ, đã phân lập được 98 chủng vi
khuẩn lactic dựa trên quan sát hình thái khuẩn
lạc bằng mắt thường. Các chủng vi khuẩn này
tiếp tục được nghiên cứu các đặc điểm hình
thái, sinh lý và sinh hóa (hình 3.1).
C«ng nghÖ sinh häc & Gièng c©y trồng
TẠP CHÍ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ LÂM NGHIỆP SỐ 3 (KỲ I) - 2013 6
A - ở nồng độ 10-4; B – vòng trong suốt do sự phân giải CaCO3 có trong môi trường;
C – khuẩn lạc chủng NH10
3.2. Xác định hàm lượng axit lactic
Sau khi tinh sạch được 98 chủng được đánh
giá là vi khuẩn lactic theo hình thái khuẩn lạc,
tiến hành nuôi lắc để chọn lọc vi khuẩn lactic
trong môi trường MRS dịch thể. Kết quả có 90
chủng là vi khuẩn lactic, 8 chủng còn lại không
sống trên môi trường MRS nên bị loại. Tiến hành
chuẩn độ axit bằng phương pháp chuẩn độ
Thener để chọn ra các chủng có khả năng sinh
axit lactic mạnh. Kết quả đã chọn được 7 chủng
có khả năng sinh axit lactic nhiều nhất (bảng 3.2)
với hàm lượng axit từ 1,93-2,18 mg/ml.
Bảng 3.1. Khả năng sinh axit lactic của 7 chủng lactic
Ký hiệu chủng
Hàm lượng axit lactic
(mg/ml)
NH4 1,93
NH9 1,92
NH10 2,06
NH11 1,94
ND5 1,99
NC6 1,94
NC7 2,18
3.3. Sàng lọc các chủng vi khuẩn lactic có
hoạt tính amylase
Từ 7 chủng có khả năng sinh nhiều axit
lactic xác định khả năng sinh amylase của
chúng. Kết quả xác định hoạt tính amylase
được trình bày ở bảng 3.2 và hình 3.2. Trong 7
chủng vi khuẩn lactic, lựa chọn được 3 chủng
có hoạt tính amylase cao và ổn định nhất đó là:
ND5, NC7 và NH10 với đường kính vòng
phân giải tinh bột 18-21 mm.
Bảng 3.2. Hoạt tính amylase của 7 chủng vi khuẩn lactic
STT Ký hiệu chủng Nguồn mẫu phân lập
Đường kính vòng thủy phân
tinh bột, D – d, mm
1 NH4 Nước hành muối 15
2 NH9 Nước hành muối 15
C«ng nghÖ sinh häc & Gièng c©y trồng
Hình 3.1. Khuẩn lạc vi khuẩn lactic trên môi trường MRS
TẠP CHÍ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ LÂM NGHIỆP SỐ 3 (KỲ I) - 2013 7
3 NH10 Nước hành muối 20
4 NH11 Nước hành muối 8
5 ND5 Nước dưa muối 18
6 NC6 Nước cà muối 17
7 NC7 Nước cà muối 21
3.4. Xác đinh kiểu lên men của 7 chủng vi
khuẩn latic có hoạt tính amylase
Kết quả xác định kiểu lên men của 7 chủng
vi khuẩn lactic được thể hiện trên hình 3.3.
Trong 7 chủng thì có 4 chủng lên men lactic
đồng hình, không sinh khí CO2 là ND5, NC7,
NH10 và NC6. Tuy nhiên, 3 chủng ND5, NC7
và NH10 có hoạt tính amylase cao đồng thời
có khả năng lên men latic đồng hình được tiếp
tục sử dụng để xác định ảnh hưởng của một số
yếu tố nuôi cấy đến hoạt tính amylase.
3.5. Ảnh hưởng của nguồn cacbon và pH
ban đầu đến hoạt tính amylase của 3 chủng
vi khuẩn lactic
Kết quả được thể hiện trên hình 3.4 và 3.5.
Từ kết quả thu được cho thấy hoạt tính
amylase của 3 chủng đều đạt cao nhất (đường
kình vòng thủy phân từ 18-21 mm) khi nuôi
trong môi trường MRS có tinh bột 2% và điều
kiện pH ban đầu là 7 ở nhiệt độ 37oC. Điều này
cũng cho thấy, tinh bột là nguồn cacbon phù
hợp được xem như cơ chất cảm ứng tốt có
trong môi trường nuôi cấy để kích thích các
chủng sản sinh nhiều amylase. Ngoài ra, để các
điều kiện nuôi cấy như nhiệt độ, pH, tốc độ
khuấy, hàm lượng oxycũng ảnh hưởng nhiều
đến khả năng sinh amylase ở vi sinh vật. Trong
nghiên cứu này, để khảo sát ảnh hưởng của các
giá trị pH ban đầu của môi trường nuôi cấy đến
khả năng sinh amylase của các chủng vi khuẩn
lactic, các giá trị pH được khảo sát là 5, 6, 7 và
8. Kết quả thu được trên hình 3.5 cho thấy ở
giá trị pH 7, hoạt tính amylase của các chủng
vi khuẩn lactic cao nhất. Ở pH 5, pH 6 hoặc
pH8 đường kính vòng thủy phân tinh bột của
các chủng trên đĩa thạch giảm. Điều đó cho
thấy khi pH giảm hoặc tăng lên khả năng tổng
hợp amylase giảm đi rõ rệt. Chính vì vậy, việc
lựa chọn các giá trị pH ban đầu để phù hợp cho
quá trình sinh tổng hợp amylase ở các chủng
cũng cần quan tâm khi nuôi cấy thu nhận
amylase từ vi khuẩn lactic.
Hình 3.2. Hoạt tính amylase của 3 chủng vi
khuẩn lactic: 1-NH10; 2-ND5; 3-NC7;
DC- Đối chứng
Hình 3.3. Khả năng lên men lactic đồng
hình của chủng vi khuẩn lactic ND5
và NH10
TẠP CHÍ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ LÂM NGHIỆP SỐ 3 (KỲ I) - 2013 8
3.6. Khả năng di động và một số đặc điểm
sinh học của 3 chủng vi khuẩn lactic có hoạt
tính amylase cao nhất
Khi cấy trong môi trường MRS đặc theo
phương thẳng đứng, cả 3 chủng này đều mọc
thẳng theo đường cấy, chứng tỏ các chủng đều
không có khả năng di động. Kết quả nhuộm
Gram cho thấy cả 3 chủng vi khuẩn lactic
ND5, NC7 và NH10 đều bắt màu tím (vi khuẩn
Gram dương). Hình thái khuẩn lạc, hình dạng
tế bào và một số đặc điểm sinh lý, sinh hóa
khác của 3 chủng được thể hiện trên hình 3.6
và bảng 3.3.
Bảng 3.3. Một số đặc điểm sinh học, sinh lý và sinh hóa của 3 chủng vi khuẩn lactic
Đặc điểm
Chủng vi khuẩn lactic
NC7 ND5 NH10
Hình dạng tế bào Hình cầu Hình que ngắn Hình elip
Sắp xếp tế bào Đơn, đôi, đám Đơn, đôi, đám Đơn, đôi, đám
Nhuộm màu Gram Gram dương (+) Gram dương (+) Gram dương (+)
Hình dạng khuẩn lạc Tròn, trơn, nhẵn,
màu trắng ngà
Tròn, trơn, nhẵn,
trắng sữa
Tròn, trơn, nhẵn,
màu trắng sữa
Khả năng di động - - -
Hoạt tính catalase - - -
Khả năng sinh axit lactic + + +
Kiểu lên men lactic Lên men lactic
đồng hình
Lên men lactic
đồng hình
Lên men lactic đồng
hình
Theo kết quả hình thái khuẩn lạc, hình dạng tế bào và một số đặc điểm sinh lý, sinh hóa của
C«ng nghÖ sinh häc & Gièng c©y trồng
C«ng nghÖ sinh häc & Gièng c©y trồng
Hình 3.4. Ảnh hưởng của nguồn cacbon đến
hoạt tính amylase của 3 chủng ND5,
NC7 và NH10
Hình 3.5. Ảnh hưởng của pH ban đầu đến hoạt tính
amylase của 3 chủng ND5, NC7 và NH10
Hình 3.6. Hình dạng tế bào của các chủng vi khuẩn lactic: A-ND5; B-NC7; C-NH10
TẠP CHÍ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ LÂM NGHIỆP SỐ 3 (KỲ I) - 2013 9
các chủng vi khuẩn lactic phân lập được, tham
chiếu với khóa phân loại của Bergey (1986)
bước đầu nhận định các chủng vi khuẩn này
thuộc họ Lactobacillus. Tuy nhiên, cần tiếp tục
phân tích trình tự rRNA 16S của các chủng vi
khuẩn này để định danh đến tên loài của chúng.
3.7. Khả năng ức chế vi sinh vật gây bệnh
của bacteriocin thô sinh ra từ 3 chủng vi
khuẩn lactic NC7, ND5 và NH10
Bổ sung 500 µl dịch bacteriocin thô thu
được từ dịch lên men 3 chủng vi khuẩn lactic
ND5, NC7 và NH10 vào các lỗ trên đĩa thạch
chứa môi trường MPA đã cấy sẵn vi sinh vật
gây bệnh. Hoạt tính ức chế một số vi khuẩn
gây bệnh (E.coli, Samonella sp., Shigella sp.,
Bacillus cereus) của dịch bacteriocin thô được
thể hiện bằng đường kính vòng vô khuẩn xung
quanh lỗ thạch được thể hiện ở bảng 3.4 và
hình 3.8.
Kết quả thử hoạt tính kháng khuẩn (theo
phương pháp thỏi thạch) của 3 chủng vi khuẩn
lactic đối với Bacillus cereus thể hiện trên
bảng 3.4 và hình 3.8. Từ các kết quả thu được
cho thấy chủng ND5 và NH10 có khả năng ức
chế cả 4 chủng vi sinh vật kiểm định
Samonella sp., Shigella sp., E.coli và Bacillus
cereus. Chủng NC7 chỉ có khả năng ức chế
Bacilus cereus.
Bảng 3.4. Hoạt tính kháng khuẩn của dịch Bacteriocin thô
của 3 chủng vi khuẩn lactic
Ký
hiệu
chủng
Hoạt tính kháng khuẩn (D – d, mm)
E. Coli Samonella sp. Shigella sp.
ND5 24 26 22
NC7 0 0 0
NH10 22 20 24
Bảng 3.5. Khả năng kháng Bacillus cereus
của 3 chủng ND5, NC7, NH10
Ký hiệu chủng
Hoạt tính kháng
Bacillus cereus
(D – d, mm)
.
ND5 8
NC7 12
NH10 10
IV. KẾT LUẬN
Từ 98 chủng vi khuẩn phân lập được trong
nước dưa, nước cà, nước hành muối chua đã
chọn ra được 7 chủng có khả năng sinh nhiều
axit lactic (hàm lượng axit 1,92-2,18 mg/ml).
Trong đó, 3 chủng lên men lactic đồng hình
ND5, NC7 và NH10 có khả năng sinh amylase
cao (đường kính vòng thủy phân 18-21 mm)
trong môi trường MRS có 2% tinh bột ở 37oC
và pH 7.
Hai chủng ND5 và NH10 sinh bacteriocin
có khả năng ức chế cả 4 chủng vi khuẩn gây
C«ng nghÖ sinh häc & Gièng c©y trồng
Hình 3.7. Khả năng ức chế vi khuẩn gây bệnh của dịch Bacteriocin thô thu được
từ sự lên men 3 chủng vi khuẩn lactic: 5-ND5; 7-NC7; 10-NH10
TẠP CHÍ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ LÂM NGHIỆP SỐ 3 (KỲ I) - 2013 10
bệnh E.coli, Samonella sp., Shigella sp.,
Bacillus cereus với đường kính vòng vô khuẩn
là 20-26 mm, riêng chủng NC7 chỉ ức chế
được Bacillus cereus. Ba chủng vi khuẩn này
ứng dụng được trong sản xuất axit lactic,
amylase và bacteriocin phục vụ cho chế biến
và bảo quản thực phẩm.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Nguyễn Lân Dũng, Phạm Thị Trân Châu, Nguyễn
Thanh Hiền, Lê Đình Lương, Đoàn Xuân Mượu, Phạm
Văn Ty (1978), Một số phương pháp nghiên cứu vi sinh
vật học tập 3. Nxb KH&KT, Hà Nội.
2. Lương Đức Phẩm (2005), Vi sinh vật học và an
toàn vệ sinh thực phẩm, Nxb Nông nghiệp.
3. Lương Đức Phẩm (2009), Công nghệ sinh học
trong bảo quản và chế biến thực phẩm, Nxb KH&KT,
Hà Nội.
4. Eyal AM, Starr JN, Fisher R, Hazen B, Canari R,
Witzge DR, Gruber PR and Kolstad JJ (2001), Lactic
acid processing, metods, arrangements, and product, U.S
Patent, No.6320077, USA.
5. Garvie LI, Ed. Sneath A.H.O., Mair S.H, Sharp
M.E, Holt GR, Williams and Wilkins Baltimore (1986),
Pediococcus, In Bergey’s manual of Systematic
Bacteriology., USA, p: 1043-1080.
6. Klaenhammer TR (1993), Genetics of bacteriocin
produced by lactic acid bacteria, FEMS Microbiol Rev,
12 p: 38 - 86.
7. James GC, Natalie S (2002), Microbiology – A
Labaratory Manual, Nineth Edition.
8. Rajiv Vaidya, Pranav Vyas, Chhatpar HS, (2003),
Statistical optimization of medium component for the
production of chitinaze by Alcaligenes xylosoxydans,
Enzym and Microbial Technology, 33, p: 92 – 96.
ISOLATION AND SELECTION OF AMYLASE AND BACTERIOCIN –
PRODUCING LACTIC ACID BACTERIA
Nguyen Thi Minh Hang, Nguyen Minh Thu
SUMMARY
Lactic acid bacteria play important roles in processing and food preservation of Vietnamese fermented food.
From 98 lactic acid bacteria isolated from fermented vegetable, 7 strains show the highest lactic acid
production. However, there are only 3 strains ND5, NC7 and NH10 determined higher amylase activity on 2%
starch containing MRS medium pH 7 at 37oC. These strains were also identified as bacteriocin producing lactic
acid bacteria. Two amylase producing lactic bacteria, ND5 and NH10 were found strongly inhibit the
pathogenic microorganism as: E. coli, Salmonella sp., Shigella sp., Bacillus cereus with clear zone from 20-26
mm. But strain NC7 could only inhibit Bacillus cereus. Three strains were promising for research of
antimicrobial and amylase activity of lactic acid producing bacteria.
Keywords: amylase, antibacterial activity, bacteriocin, lactic fermentation, lactobacteria, starch
Người phản biện: TS. Hồ Tuyên
Ngày nhận bài: 22/8/2013
Ngày phản biện: 03/9/2013
Ngày quyết định đăng: 20/9/2013
Các file đính kèm theo tài liệu này:
phan_lap_va_tuyen_chon_mot_so_chung_vi_khuan_lactic_co_kha_n.pdf