Phân lập và xác định đặc tính sinh học của một số chủng Porcine circovirus type 2 từ heo nuôi tại khu vực phía Nam Việt Nam
Kết quả đường cong sinh trưởng các chủng NAVET-DongNai2/2009, NAVET- LongAn2/2012 và NAVET-vietnam3/2004 được biểu diễn qua Hình 5. Trung bình hiệu giá vi-rút (thể hiện dưới dạng loglO TCIDõo/mL) qua các thời điểm thu hoạch khác nhau của chủng NAVET-vietnam3/2004 cao nhất (5.20 ± 0,31 loglOTCIDso/mL), kế đến là chủng NAVET- LongAn2/2012 (4,75 ± 0.60 logi0TCID50/mL) và thấp nhất là chủng NAVET-DongNai2/2009 (4,30 ± 0,62 logioTCIDso/mL) (P < 0,01). Ngoài ra, có sự khác biệt về trung bình hiệu giá vi-rút ở các thời điểm thu hoạch khác nhau (P < 0,01). Phân tích đường cong sinh trưởng cho thấy, thời điểm thu hoạch để đạt hiệu giá vi-rút cao nhất khác nhau tùy theo chủng PCV2. Cụ thể, đối với chủng NAVET-vietnam3/2004 là 72 giờ, chủng NAVET-DongNai2/2009 là 84 giờ và chủng NAVET-LongAn2/2012 là 108 giờ sau nhiễm. Từ kết quả nghiên cứu này giúp chọn lựa được thời gian thu hoạch thích hợp cho từng chủng để đạt hiệu giá vi-rút tối líu trong chế tạo vắc-xin. được trình bày qua Bảng 2. Trung bình chung qua 15 lần tiếp đời hiệu giá vi-rút của chủng NAVET-LongAn2/2012 cao nhất (5,59 ± 0,43 logioTCIDso/mL) kế đến là chủng NAVET- vietnam3/2004 (5,21 ± 0,52 logioTCIDso/mL) và thấp nhất là chủng NAVET-DongNai2/2009 (5,15 ± 0,38 logio’TCIDso/mL), không có sự khác biệt về trung bình hiệu giá giữa 3 chủng này qua 15 lần tiếp đời (P > 0,05). Diều này cho thấy 3 chủng này phát triển ổn định trên tế bào PK15A với hiệu giá > 5,0 logioTCIDso/mL.
Các file đính kèm theo tài liệu này:
phan_lap_va_xac_dinh_dac_tinh_sinh_hoc_cua_mot_so_chung_porc.pdf


