KẾT LUẬN
Qua các kết quả nghiên cứu trên, chúng
tôi bước đầu có một số kết luận sau:
- Tỷ lệ trung bình phân lập được vi khuẩn
S. suis từ các mẫu bệnh phẩm lợn mắc bệnh
đường hô hấp và viêm khớp tại Thái Nguyên
là 52,60%; trong đó cao nhất là ở lợn sau cai
sữa từ 2-3 tháng tuổi (58,91%) và thấp nhất
là ở lợn con dưới 1 tháng tuổi (45,79%).
- Các chủng vi khuẩn S. suis phân lập
được đều có đặc tính sinh vật, hóa học điển
hình giống với mô tả của các tài liệu trong và
ngoài nước.
- Các chủng S. suis phân lập được thuộc
các serotype 2, 7, 9, 21 và 29. Trong đó
serotype 2 chiếm tỷ lệ cao nhất (58,16%),
tiếp sau là serotype 9 (16,33%), serotype
7 (7,18%), thấp nhất là serotype 21 và 29
(tương ứng là 1,96% và 2,61%).
- Độc lực của các chủng vi khuẩn S. suis
thuộc serotype 2 và 9 trên chuột bạch rất
mạnh, gây chết 100% chuột thí nghiệm trong
vòng 12 - 24 giờ sau tiêm.
7 trang |
Chia sẻ: hachi492 | Lượt xem: 3 | Lượt tải: 0
Bạn đang xem nội dung tài liệu Phân lập, xác định serotype và độc lực của các chủng streptococcus suis gây bệnh ở lợn tại tỉnh Thái Nguyên, để tải tài liệu về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
67
KHOA HỌC KỸ THUẬT THÚ Y TẬP XXVI SỐ 2 - 2019
PHAÂN LAÄP, XAÙC ÑÒNH SEROTYPE VAØ ÑOÄC LÖÏC CUÛA CAÙC CHUÛNG
STREPTOCOCCUS SUIS GAÂY BEÄNH ÔÛ LÔÏN TAÏI TÆNH THAÙI NGUYEÂN
Nguyễn Mạnh Cường1, Tô Long Thành2,
Nguyễn Văn Quang1, Nguyễn Quang Tuyên3, Đỗ Hồng Anh1
TÓM TẮT
Kết quả phân lập và xác định serotype, độc lực của các chủng vi khuẩn S. suis gây bệnh ở lợn tại
tỉnh Thái Nguyên cho thấy tỷ lệ mẫu bệnh phẩm phân lập được vi khuẩn S. suis là 52,60%, trong đó tỷ
lệ mẫu bệnh lấy từ lợn con sau cai sữa ở 2-3 tháng tuổi và lợn con dưới 1 tháng tuổi phân lập được S.
suis lần lượt là 58,91% và 45,79%. Các chủng S. suis phân lập được thuộc các serotype 2, 7, 9, 21 và 29,
trong đó serotype 2 chiếm tỷ lệ cao nhất (58,16%), tiếp sau là serotype 9 (16,33%), serotype 7 (7,18%),
thấp nhất là serotype 21 và 29 (tương ứng là 1,96% và 2,61%). Độc lực của các chủng vi khuẩn S. suis
thuộc serotype 2 và 9 là rất mạnh, gây chết 100% chuột bạch thí nghiệm trong vòng 12-24 giờ.
Từ khóa: lợn, vi khuẩn S. suis, serotype, độc lực.
Isolation, serotype determination and toxicity test of Streptococcus suis
strains caused disease in pigs at Thai Nguyen province
Nguyen Manh Cuong, To Long Thanh,
Nguyen Van Quang, Nguyen Quang Tuyen, Do Hong Anh
SUMMARY
The result of isolation, serotype determination and toxicity test of S. suis strains caused
the disease in pigs in Thai Nguyen province showed that 52.60% of samples were infected
with S. suis. Of which, the rate of samples collecting from the weaning piglets at 2-3 months
old and under 1 month old, from that S.suis strains were isolated to be 58.91% and 45.79%,
respectively. The isolated S. suis strains belonged to the serotypes: 2, 7, 9, 21 and 29, of which
serotype 2 accounted for the highest proportion (58.16%), followed by serotype 9 (16.33%),
serotype 7 (7.18%), serotype 21 (1.96%) and serotype 29 (2.61%). The virulence of S. suis
strains belonging to serotype 2 and 9 was very strong, killed 100% of the experimental white
mice within 12-24 hours.
Keywords: pigs, S. suis bacteria, serotype, virulence.
I. ĐẶT VẤN ĐỀ
Vi khuẩn Streptococcus suis (S. suis) đóng
vai trò quan trọng trong quá trình gây bệnh liên
cầu khuẩn ở lợn, bệnh thường ở thể bại huyết, ở
đường sinh sản, hô hấp, viêm khớp, viêm não...
Trong những trang trại chăn nuôi lợn tập trung
thì bệnh do vi khuẩn S. suis gây ra là phổ biến
do vi khuẩn S. suis tồn tại và khu trú ở họng,
hạch amidan, đường hô hấp của lợn, những lợn
mang trùng khi nuôi nhốt chung với những lợn
khoẻ mạnh khác sẽ làm lây lan mầm bệnh trong
đàn. Ở Việt Nam, Nguyễn Thị Nội và cs. (1993)
[5] khi nghiên cứu xác định các nhóm vi khuẩn
gây bệnh đường hô hấp của 162 lợn mắc bệnh
ho thở truyền nhiễm cho thấy tỷ lệ nhiễm vi
khuẩn S. suis là 74,0%. Cù Hữu Phú (1998)[6]
đã phân lập được vi khuẩn S. suis từ bệnh phẩm
lợn ốm chết nghi do vi khuẩn S. suis gây ra ở hai
phương thức chăn nuôi là rất cao, trong đó chăn
1. Trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên
2. Trung tâm chẩn đoán thú y trung ương, Cục Thú y
3. Viện Khoa học Sự sống, Đại học Thái Nguyên
68
KHOA HỌC KỸ THUẬT THÚ Y TẬP XXVI SỐ 2 - 2019
nuôi tập trung chiếm 93,9% và chăn nuôi hộ gia
đình chiếm 95,3%. Ngoài ra, vi khuẩn S. suis còn
lây nhiễm và gây bệnh nguy hiểm cho người.
Theo Lun và cs. (2007)[10], năm 2005 đã xảy
ra một vụ dịch lớn trong lịch sử ngành chăn
nuôi lợn tại tỉnh Tứ Xuyên (Trung Quốc) với
6.736 lợn mắc bệnh ở trong 641 ổ dịch, đã gây
chết 644 con và lây nhiễm bệnh cho 208 người,
trong đó có 39 người tử vong. Ở Việt Nam, theo
thống kê của Cục Y tế dự phòng (Bộ Y tế)[1]
năm 2017 cả nước có 171 ca mắc bệnh liên cầu
lợn, trong đó 14 người tử vong. Những người bị
mắc bệnh do tiếp xúc với lợn bệnh trong chăn
nuôi, giết mổ, ăn thịt hoặc tiết canh lợn nhiễm
liên cầu khuẩn.
Trong những năm qua ngành chăn nuôi lợn ở
tỉnh Thái Nguyên phát triển khá nhanh góp phần
giải quyết việc làm và tăng thu nhập cho người
dân trên địa bàn. Tuy nhiên, hiện nay chăn nuôi
vẫn phổ biến là ở hộ gia đình nên dịch bệnh vẫn
thường xảy ra, ngoài dịch bệnh nguy hiểm như
lở mồm long móng, dịch tả, tai xanh thì bệnh
liên cầu khuẩn do vi khuẩn S. suis gây ra cũng
làm tổn thất lớn về kinh tế cho người chăn nuôi.
Để có cơ sở cho việc nghiên cứu và xây dựng
các biện pháp phòng và trị bệnh liên cầu khuẩn
cho lợn có hiệu quả cao, chúng tôi đã tiến hành
phân lập, xác định serotype và kiểm tra độc lực
của vi khuẩn S. suis gây bệnh ở lợn trên địa bàn
tỉnh Thái Nguyên.
II. NỘI DUNG, NGUYÊN VẬT
LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN
CỨU
2.1. Nội dung
Phân lập, xác định serotype và độc lực của
các chủng vi khuẩn S. suis gây bệnh trên đàn
lợn tại tỉnh Thái Nguyên làm cơ sở cho việc tuyển
chọn các chủng S. suis phục vụ cho nghiên cứu chế
tạo vacxin phòng bệnh.
2.2. Nguyên vật liệu
- Mẫu bệnh phẩm là phổi, dịch cuống họng,
dịch ổ khớp của lợn ốm, chết có biểu hiện bệnh
lý của bệnh đường hô hấp và viêm khớp.
- Các loại môi trường dùng cho nuôi cấy,
phân lập và giám định một số đặc tính sinh vật
học của vi khuẩn S. suis.
- Hoá chất, dụng cụ, máy móc phòng thí
nghiệm nghiên cứu vi sinh vật.
2.3. Phương pháp nghiên cứu
- Các phương pháp phân lập, giám định một
số đặc tính sinh vật học và xác định serotype,
độc lực của các chủng vi khuẩn S. suis thực hiện
theo quy trình của Bộ môn Vi trùng, Viện Thú y.
Các loại bệnh phẩm trên được tiến hành
ria cấy ngay vào các môi trường thông thường
như thạch máu, thạch MacConkey, nước thịt
thường và thạch máu Columbia, bồi dưỡng ở
tủ ấm 37oC trong 24 giờ. Căn cứ vào hình thái
khuẩn lạc để chọn ra những khuẩn lạc nghi là
của vi khuẩn Streptococcus, cấy chuyển sang
thạch máu thường và thạch máu Columbia và
thực hiện giám định các chủng S. suis bằng các
phản ứng sinh hóa. Các chủng S. suis sau khi
xác định các đặc tính sinh vật, hóa học, tiếp tục
được tiến hành xác định các serotype 1, 2, 7 và 9
là các serotype thường gặp nhất gây bệnh ở lợn
bằng phản ứng MP-CPR, nếu không thuộc các
serotype trên thì được xác định bằng phản ứng
ngưng kết nhanh trên phiến kính. Kiểm tra độc
lực của một số chủng S. suis bằng phương pháp
tiêm chuột bạch.
- Số liệu được xử lý theo toán học thông
dụng.
III. KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN
3.1. Kết quả phân lập vi khuẩn S. suis từ lợn
mắc bệnh đường hô hấp và viêm khớp
Chúng tôi đã tiến hành phân lập vi khuẩn S.
suis từ 403 mẫu bệnh phẩm là dịch cuống họng,
phổi, dịch ổ khớp của lợn ở các lứa tuổi khác
nhau bị mắc bệnh đường hô hấp và viêm khớp
tại các huyện, thành thuộc tỉnh Thái Nguyên. Kết
quả được trình bày ở bảng 1.
Kết quả ở bảng 1 cho thấy trong 403 mẫu bệnh
phẩm từ lợn mắc bệnh đường hô hấp và viêm khớp
ở các lứa tuổi, đã có 212 mẫu phân lập được vi
69
KHOA HỌC KỸ THUẬT THÚ Y TẬP XXVI SỐ 2 - 2019
khuẩn S. suis với tỷ lệ là 52,60%; trong đó cao nhất
là ở lợn sau cai sữa từ 2-3 tháng tuổi (58,91%) và
thấp nhất là ở lợn con dưới 1 tháng tuổi (45,79%).
Kết quả của chúng tôi cũng tương đồng với kết
quả phân lập S. suis từ mẫu bệnh phẩm của lợn
mắc PRRS tại Bắc Giang của Trương Quang Hải
và cs. (2012)[3] là 51,67%, của Lê Văn Dương và
cs. (2013)[2] là 55,10%, cao hơn so với kết quả
nghiên cứu của Vecht và cs. (1985)[12] cho thấy
tại Hà Lan, tỷ lệ nhiễm vi khuẩn S. suis trên lợn
là 42,0%. Tuy nhiên, tỷ lệ này lại thấp hơn so với
kết quả của Cù Hữu Phú (1998) phân lập được vi
khuẩn S. suis từ phổi và hạch phổi của lợn mắc
bệnh đường hô hấp là 72,0%; Trịnh Phú Ngọc
(2002) phân lập được vi khuẩn S. suis từ hạch
phổi của lợn ốm, chết tại một số cơ sở chăn nuôi là
95,45%. Với tỷ lệ phân lập được vi khuẩn S. suis
ở lợn khá cao như trên tại tỉnh Thái Nguyên cho
thấy vi khuẩn này đã có vai trò quan trọng trong
gây bệnh đường hô hấp và viêm khớp ở lợn những
năm qua trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên.
3.2. Kết quả xác định một số đặc tính sinh
vật, hóa học của các chủng S. suis phân lập
được
Từ các mẫu bệnh phẩm của lợn ở các lứa tuổi
mắc bệnh và chết do bệnh đường hô hấp và viêm
khớp trên địa bàn nghiên cứu, chúng tôi đã phân lập
được 212 chủng vi khuẩn S. suis và lựa chọn 168
chủng để tiến hành thực hiện các nghiên cứu tiếp
theo. Kết quả giám định một số đặc tính sinh vật,
hóa học của chúng được trình bày ở bảng 2.
Kết quả ở trên cho thấy tất cả các chủng S. suis
được kiểm tra đều có hình cầu hoặc bầu dục, xếp
thành chuỗi dài, ngắn khác nhau và bắt màu Gram
dương. Trên môi trường thạch máu, vi khuẩn S. suis
hình thành các khuẩn lạc nhỏ, màu trắng trong, hơi
lồi và gây dung huyết kiểu α, β, γ. Trên môi trường
MacConkey, vi khuẩn mọc tốt và tạo thành các khuẩn
lạc màu trắng trong, lồi, nhỏ như đầu đinh ghim. Đặc
biệt, các chủng vi khuẩn S. suis không mọc trong
môi trường canh thang NaCl 6,5%. Có 100% các
chủng S. suis cho kết quả âm tính với các phản ứng
Indol, Catalase, Oxidase và 100% các chủng lên
men đường glucose, galactose, lactose, maltose và
95,65% lên men đường trehalose; với đường mannit,
mannitol, sorbitol thì không có chủng nào lên men.
Qua kết quả nghiên cứu như trên, chúng tôi thấy các
chủng vi khuẩn phân lập được kiểm tra đều mang các
đặc tính sinh học đặc trưng của vi khuẩn S. suis như
các tài liệu trong và ngoài nước đã mô tả.
Bảng 1. Kết quả phân lập vi khuẩn S. suis từ lợn mắc bệnh đường hô hấp và viêm khớp
TT
Lứa tuổi lợn
(tháng tuổi)
Mẫu
bệnh phẩm
Số kiểm tra
(mẫu)
Số mẫu
(+)
Tỷ lệ
(%)
Tính chung
(%)
1
Lợn con
( ≤ 1 tháng)
Dịch họng 37 16 43,24
45,79Phổi 35 18 51,42
Dịch ổ khớp 35 15 42,85
2
Lợn sau cai sữa
(2 - 3 tháng)
Dịch họng 44 25 56,81
58,91Phổi 43 31 72,09
Dịch ổ khớp 42 20 47,61
3
Lợn thịt
(4 - 6 tháng)
Dịch họng 37 18 48,64
52,77Phổi 36 25 69,44
Dịch ổ khớp 35 14 40,00
4
Lợn hậu bị,
lợn nái
(≥ 7 tháng)
Dịch họng 23 11 47,82
50,84Phổi 20 13 65,00
Dịch ổ khớp 16 6 37,50
Tính chung 403 212 52,60
70
KHOA HỌC KỸ THUẬT THÚ Y TẬP XXVI SỐ 2 - 2019
3.3. Kết quả xác định serotype của các chủng
S. suis phân lập được
Các chủng S. suis sau khi được xác định các
đặc tính sinh vật học, chúng tôi tiến hành xác định
1 trong 4 serotype (serotype 1, 2, 7 và 9) thường
gặp nhất gây bệnh ở lợn bằng phản ứng MP-CPR.
Trong trường hợp các chủng S. suis không thuộc
một trong các serotype trên thì lại được tiếp tục
xác định type với 30 loại kháng huyết thanh còn
lại bằng phản ứng ngưng kết nhanh trên phiến
kính. Kết quả được trình bày ở bảng 3.
Bảng 2. Kết quả xác định một số đặc tính sinh vật, hóa học
của các chủng S. suis phân lập được
TT Đặc tính Tiêu chuẩn sinh học của S. suis
Số chủng
kiểm tra
Số chủng
dương tính
Tỷ lệ
(%)
1 Gram + 168 168 100
2 Dung huyết + 168 168 100
3 MacConkey + 168 168 100
4 NaCl 6,5% - 168 0 0
5 Indol - 168 0 0
6 Catalase - 168 0 0
7 Oxydase - 168 0 0
8 Glucose + 168 168 100
9 Galactose + 168 168 100
10 Lactose + 168 168 100
11 Maltose + 168 168 100
12 Mannit - 168 0 0
13 Mannitol - 168 0 0
14 Sorbitol - 168 0 0
15 Trehalose + 168 160 95,23
Bảng 3. Kết quả xác định serotype của các chủng vi khuẩn S. suis phân lập được
Loại lợn
lấy mẫu
Số
chủng
VK
Kết quả xác định serotype
1 2 7 9 15 21 22, 27a 25 29 30
29,
33b
30,
31,
32c
31,
33d 34 KXĐ
Lợn con
( ≤ 1 tháng tuổi) 39 23 2 6 1 7
Lợn sau cai sữa
(2- 3 tháng tuổi) 50 32 3 7 1 1 6
Lợn thịt
(4- 6 tháng tuổi) 41 21 3 9 1 1 6
Lợn hậu bị, nái
( ≥ 7 tháng tuổi) 23 13 3 3 1 1 2
Cộng 153 0 89 11 25 0 3 0 0 4 0 0 0 0 0 21
Ghi chú : a, b, c, d: có hiện tượng ngưng kết chéo giữa các nhóm huyết thanh
VK: Vi khuẩn, KXĐ: Không xác định
71
KHOA HỌC KỸ THUẬT THÚ Y TẬP XXVI SỐ 2 - 2019
Kết quả ở bảng 3 cho thấy số chủng vi
khuẩn S. suis thuộc serotype 2 là 89/153
chiếm tỷ lệ cao nhất (58,16%), tiếp đến là
serotype 9 (25/153, tỷ lệ 16,33%), serotype
7 (11/153, tỷ lệ 7,18%) và thấp nhất là
serotype 21; 29 (tỷ lệ tương ứng là 1,96%
và 2,61%); còn lại 21 chủng chưa xác định
được serotype (tỷ lệ 13,72%). Kết quả này
của chúng tôi cũng tương đồng với kết quả
nghiên cứu của một số tác giả như Cù Hữu
Phú (2011)[7] xác định được các chủng vi
khuẩn S. suis thuộc serotype 2 ở lợn mắc
PRRS với tỷ lệ là 58,33% và Lê Văn Dương
(2013)[2] khi xác định serotype của các
chủng vi khuẩn S. suis phân lập từ các mẫu
bệnh phẩm của lợn mắc hội chứng PRRS tại
Bắc Giang cho kết quả serotype 2 chiếm tỷ lệ
cao nhất (56,29%), tiếp đến là serotype 9 và
7 (tỷ lệ tương ứng là 17,03 và 5,18%).
Vi khuẩn S. suis là căn nguyên quan trọng
gây bệnh ở lợn, trong đó serotype 2 là một
trong những nguyên nhân gây tử vong ở lợn
trước và sau cai sữa, từ 5 đến 10 tuần tuổi.
Chúng cũng là nguyên nhân truyền bệnh từ
động vật sang người nên S. suis được các nhà
khoa học chú ý nghiên cứu trong nhiều năm
qua (Gottschalk và cs., 2012)[8]. Trong số
các type huyết thanh được mô tả, thì S. suis
type 2 là nguy hiểm nhất và thường được
phân lập từ lợn bệnh cũng như ở người, còn
serotype 9 thì được phân lập từ lợn bệnh ở
các nước châu Âu (Goyette và cs., 2014)[9].
3.4. Kết quả xác định độc lực của một số
chủng S. suis phân lập được
Dựa vào kết quả xác định serotype của
các chủng vi khuẩn S. suis phân lập, chúng
tôi chọn 15 chủng S. suis đại diện cho 5
serotype là: serotype 2, 7, 9, 21, 29 và 3
chủng thuộc nhóm chưa xác định serotype để
kiểm tra độc lực trên chuột bạch. Mỗi chuột
thí nghiệm được tiêm 0,5ml canh trùng nuôi
cấy ở 37°C/24 giờ vào phúc xoang. Chuột thí
nghiệm được theo dõi thời gian chết trong
vòng 7 ngày. Tất cả các chuột chết được mổ
khám, kiểm tra triệu chứng, bệnh tích và
phân lập lại vi khuẩn từ máu tim. Kết quả
được trình bày ở bảng 4.
Qua bảng 4 cho thấy các chủng vi khuẩn
S. suis thuộc serotype 2 đều gây chết 100% số
chuột thí nghiệm trong thời gian sau tiêm 24
giờ, trong đó có 2/3 (66,67%) chủng gây chết
chuột từ 12-24 giờ và 1/3 (33,33%) chủng
gây chết chuột từ 18-24 giờ. Các chủng S.
suis serotype 9 cũng gây chết 100% số chuột
thí nghiệm trong khoảng thời từ 12-24 giờ,
trong đó có 1/3 (33,33%) chủng gây chết
chuột từ 12-24 giờ và 2/3 (66,67%) chủng
gây chết chuột từ 18-24 giờ. Trong khi đó,
chỉ có 1/3 (33,33%) chủng thuộc serotype
7 được kiểm tra gây chết 100% số chuột
thí nghiệm sau tiêm từ 24-36 giờ, và 2/3
(66,67%) chủng gây chết 50% chuột trong
vòng trước 36 đến 48 giờ sau khi tiêm. Các
chủng S. suis thuộc serotype 29, 21 và chủng
chưa xác định serotype đều không gây chết
chuột. Qua kết quả trên, chúng tôi thấy các
chủng S. suis serotype 2 và 9 có độc lực cao,
đều gây chết chuột bạch thí nghiệm trong
thời gian ngắn.
Tất cả các chuột thí nghiệm chết được mổ
khám để kiểm tra triệu chứng, bệnh tích đều
cho thấy có bệnh tích tương đối giống nhau
như chỗ tiêm đôi khi có hiện tượng áp xe,
phổi viêm và sung huyết; tim sưng, mềm,
tích nước ở xoang bao tim. Khi tiến hành
phân lập lại vi khuẩn thì đều thu được S. suis
thuần khiết từ máu tim. Kết quả của chúng
tôi cũng tương đồng với nghiên cứu của một
số tác giả trong và ngoài nước như Roberts
và cs. (1968)[11] kiểm tra độc lực của các
chủng Streptococcus phân lập được bằng
tiêm vào tĩnh mạch cho chuột bạch, sau tiêm
24-48 giờ đã gây nhiễm trùng huyết, chuột
ủ rũ, bỏ ăn và chết. Nguyễn Ngọc Nhiên và
Khương Thị Bích Ngọc (1994)[4] khi tiêm
0,2ml vi khuẩn Streptococcus vào dưới da
cho chuột bạch thấy chuột chết sau 24-36
giờ, chỗ tiêm bị áp xe có mủ và phân lập lại
được vi khuẩn thuần khiết từ máu tim.
72
KHOA HỌC KỸ THUẬT THÚ Y TẬP XXVI SỐ 2 - 2019
IV. KẾT LUẬN
Qua các kết quả nghiên cứu trên, chúng
tôi bước đầu có một số kết luận sau:
- Tỷ lệ trung bình phân lập được vi khuẩn
S. suis từ các mẫu bệnh phẩm lợn mắc bệnh
đường hô hấp và viêm khớp tại Thái Nguyên
là 52,60%; trong đó cao nhất là ở lợn sau cai
sữa từ 2-3 tháng tuổi (58,91%) và thấp nhất
là ở lợn con dưới 1 tháng tuổi (45,79%).
- Các chủng vi khuẩn S. suis phân lập
được đều có đặc tính sinh vật, hóa học điển
hình giống với mô tả của các tài liệu trong và
ngoài nước.
- Các chủng S. suis phân lập được thuộc
các serotype 2, 7, 9, 21 và 29. Trong đó
serotype 2 chiếm tỷ lệ cao nhất (58,16%),
tiếp sau là serotype 9 (16,33%), serotype
7 (7,18%), thấp nhất là serotype 21 và 29
(tương ứng là 1,96% và 2,61%).
- Độc lực của các chủng vi khuẩn S. suis
thuộc serotype 2 và 9 trên chuột bạch rất
mạnh, gây chết 100% chuột thí nghiệm trong
vòng 12 - 24 giờ sau tiêm.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Bộ Y tế (2018), Thống kê giám sát bệnh
truyền nhiễm.
trong-nuoc/2307/dung-de-mat-tet-vi-benh-
lien-cau-lon.htm. Ngày 07/02/2018.
2. Lê Văn Dương, Nguyễn Quang Tuyên,
Hoàng Minh Tân, Cù Hữu Phú và Hoàng
Đăng Huyến (2013), Kết quả phân lập và
xác định một số đặc tính sinh học của các
Bảng 4. Kết quả kiểm tra độc lực của một số chủng S. suis trên chuột bạch
TT Ký hiệu chủng Serotype
Liều
lượng
(ml/con)
Kết quả
Số chết/
Số tiêm
(con)
Thời gian
chuột chết
(giờ)
Tỷ lệ
chuột chết
(%)
Ghi chú
1 S-TN2-1 2 0,5 2/2 18 - 24 100,0
Tất cả chuột tiêm
được mổ khám để
kiểm tra bệnh tích và
đều phân lập lại được
vi khuẩn thuần khiết
từ máu tim.
2 S-TN2-2 2 0,5 2/2 12 - 24 100,0
3 S-TN2-3 2 0,5 2/2 12 - 24 100,0
4 S-TN7-4 7 0,5 1/2 < 48 50,0
5 S-TN7-5 7 0,5 2/2 24 - 36 100,0
6 S-TN7-6 7 0,5 1/2 < 36 50,0
7 S-TN9-7 9 0,5 2/2 12 - 24 100,0
8 S-TN9-8 9 0,5 2/2 18 - 24 100,0
9 S-TN9-9 9 0,5 2/2 18 - 24 100,0
10 S-TN21-10 21 0,5 0/2 - 0
11 S-TN21-11 21 0,5 0/2 - 0
12 S-TN21-12 21 0,5 0/2 - 0
13 S-TN29-13 29 0,5 0/2 - 0
14 S-TN29-14 29 0,5 0/2 - 0
15 S-TN29-15 29 0,5 0/2 - 0
16 S-TN k-16 - 0,5 0/2 - 0
17 S-TN k-17 - 0,5 0/2 - 0
18 S-TN k-18 - 0,5 0/2 - 0
73
KHOA HỌC KỸ THUẬT THÚ Y TẬP XXVI SỐ 2 - 2019
chủng Streptococcus suis ở lợn dương tính
với virut hội chứng rối loạn sinh sản và hô
hấp tại tỉnh Bắc Giang, Tạp chí Khoa học
Kỹ thuật thú y, Tập XX, số 1, tr. 36-42.
3. Trương Quang Hải, Nguyễn Quang Tính,
Nguyễn Quang Tuyên, Cù Hữu Phú, Lê
Văn Dương (2012): Kết quả phân lập và
xác định một số đặc tính sinh học của các
chủng Streptococcus suis và Pasteurella
multocida ở lợn mắc viêm phổi tại tỉnh Bắc
Giang, Tạp chí Khoa học Kỹ thuật thú y,
Tập XIX, số 7, tr. 71-76.
4. Nguyễn Ngọc Nhiên và Khương Thị Bích
Ngọc (1994), Bệnh đường hô hấp trong chăn
nuôi lợn công nghiệp. Tạp chí Khoa học Kỹ
thuật thú y, số 4, tr. 42-46.
5. Nguyễn Thị Nội, Nguyễn Ngọc Nhiên
(1993), Một số vi khuẩn thường gặp trong
bệnh ho thở truyền nhiễm ở lợn. Công trình
nghiên cứu khoa học kỹ thuật 1990-1991.
Viện Thú y, tr. 70-76.
6. Cù Hữu Phú (1998), Kết quả phân lập và xác
định một số tính chất vi khuẩn học của S.
suis gây bệnh ở lợn một số tỉnh phía Bắc.
Báo cáo khoa học Viện thú y.
7. Cù Hữu Phú (2011), Nghiên cứu mối liên
quan giữa hội chúng rối loạn sinh sản và hô
hấp ở lợn với vi khuẩn gây bệnh kế phát và
xác định biện pháp phòng, trị bệnh. Báo cáo
khoa học Viện thú y.
8. Gottschalk M., Straw B.E., Zimmerman
J.J., D’Allaire S. and Taylor D.J. (2012),
Streptococcosis in diseases of swine.
Blackwell Publishing, Amer. IA, USA, pp.
841–855.
9. Goyette D.G., Xu J., Segura M. and
Gottschalk M. (2014), Streptococcus suis
- an important pig pathogen and emerging
zoonotic agent, an update on the worldwide
distribution based on serotyping and
sequence typing. Emerg. Micro. Infect. No.
3, pag 45-51.
10. Lun Z.R., Wang Q.P., Chen X.L., Li A.X.,
Zhu X.Q. (2007), S. suis - an emerging
zoonotic pathogen. Lancet Infect Dis. 7(3),
pag. 201-209.
11. Robert E.D., Ransey F.K., Switzer W.P. and
Layton J.M (1968), Pathologic changes
of porcine superative arthritis produced
Streptococcus equisimilis, Am. Jour. Vet.
Res. No. 29, pag. 253- 262.
12. Vecht U., Van Leengoed L.A.M., Verheijen
E.R.M. (1985), S. suis infections in pigs in
the Netherlands (part I). Vet. Quart. , No. 7,
pag. 315-321.
Ngày nhận 20-10-2018
Ngày phản biện 25-12-2018
Ngày đăng 1-3-2019
Các file đính kèm theo tài liệu này:
phan_lap_xac_dinh_serotype_va_doc_luc_cua_cac_chung_streptoc.pdf