Chủng VK2 kháng vi khuẩn gây bệnh S.
marcescens (hình 5) với đường kính vòng kháng
khuẩn trung bình là 6 mm (SD±0,35). Đối với
các chủng kiểm định còn lại chủng VK2 không
thể hiện khả năng kháng khuẩn. Nghiên cứu tìm
kiếm các chủng sinh kháng sinh từ san hô sừng
Elkhorn coral A. palmate chỉ ra Bacillus
megaterium và Exiguobacterium sp. vừa là
những chủng có mối tương quan mật thiết đối
với vật chủ san hô, chúng cũng là những chủng
sinh kháng sinh, Bacillus megaterium kháng lại
Bacillus subtilis, trong khi Exiguobacterium sp.
kháng lại S. marcescens PDL100-chủng gây
bệnh white pox cho vật chủ [32]. Chủng VK2
trong nghiên cứu này là chủng chiếm ưu thế khi
nuôi cấy trên môi trường thạch, tuy nhiên chưa
khẳng định được chủng VK2 có mối quan hệ
mật thiết với vật chủ san hô hay không, để
khẳng định mối quan hệ này thì cần có những
nghiên cứu sâu hơn.
Đã có công trình của Shnit-Orland và
Kushmaro [33] thử nghiệm khả năng kháng
khuẩn của vi khuẩn sống cùng 6 loài san hô
cứng và 2 loài san hô mềm phổ biến ở Biển Đỏ
với vi khuẩn kiểm định Bacillus cereus,
Escherichia coli, Staphylococcus aureus,
Vibrio coralliilyticus và S. marcescens. Vi
khuẩn sống cùng chất nhầy san hô khối và san
hô tạo rạn đặc biệt là các chủng thuộc chi
Vibrio và Pseudoalteromonas thể hiện khả
năng kháng sinh mạnh đối với cả vi khuẩn
Gram âm và Gram dương. Trong khi các chủng
thuộc chi Bacillus và Planomicrobium thể hiện
khả năng kháng sinh tương đối thấp và chủ yếu
kháng lại các vi khuẩn Gram dương. Tính trên
tổng số vi khuẩn được thử khả năng kháng sinh
có 25% đến 70% các chủng có hoạt động kháng
khuẩn. Tuy nhiên không có chủng nào kháng
lại vi khuẩn gây S. marcescens bệnh cho san hô
sừng A. palmata. Hoạt động kháng khuẩn nổi
trội của chủng Pseudoalteromonas và Vibrio
kháng lại cả vi khuẩn Gram dương và Gram âm
đã khiến chúng trở nên được quan tâm và đề
nghị rằng chủng này có thể thích hợp để làm
“Probiotic-là chủng vi khuẩn có lợi” cho san
hô, giúp vật chủ khỏe mạnh bằng cách đưa
chủng này vào “hợp phần” của san hô gồm bản
thân san hô, vi tảo cộng sinh, vi khuẩn virus và
các sinh vật sống cùng khác được gọi là coral
holobiont, để chúng có thể điều hòa tiết chế các
hoạt động của vi sinh vật sống cùng theo hướng
có lợi cho vật chủ, nhất là trong những điều
kiện khó khăn như căng thẳng vì môi trường do
nhiệt độ, độ mặn và các yếu tố khác gây bất lợi
cho san hô [34]. Đáng chú ý là trước đó Reshef
và nnk., [35] đã đưa ra thuyết “Probiotic”- đó là
đưa vi khuẩn có lợi vào san hô, vi khuẩn này sẽ
giúp ích cho san hô chống lại những tác nhân
bất lợi từ bên ngoài, thuyết này có nhiều điểm
phù hợp với tình hình thực tế hiện nay khi tìm
kiếm tác nhân gây bệnh cho san hô. Vibrio là
nhóm vi khuẩn gây bệnh cơ hội phổ biến trong
môi trường nước, chúng cũng là những nhà sản
xuất các chất kháng sinh. Vibrio
parahaemolyticus và Vibrio natriegens phân
lập từ san hô cứng A. digitifera ở vịnh Mannar
có hoạt động kháng khuẩn mạnh chống lại vi
khuẩn kiểm định [25]. Nghiên cứu vi sinh vật
từ san hô đen A. dichotoma công bố chi
Bacillus sp. chiếm ưu thế và cũng là nhóm có
hoạt động kháng khuẩn mạnh nhất [29]. Kết
quả tương đồng với nghiên cứu tìm kiếm các
chất hoạt tính từ vi sinh vật sống cùng san hô
mềm Alcyonium digitatum ở biển Baltic, chi
Bacillus sp. chiếm ưu thế trong các vi khuẩn có
thể nuôi cấy được đồng thời thể hiện khả năng
kháng khuẩn cao [36].
8 trang |
Chia sẻ: hachi492 | Lượt xem: 2 | Lượt tải: 0
Bạn đang xem nội dung tài liệu Phát hiện bacillus sp VK2 phân lập từ acropora hyacinthus ở ninh thuận kháng vi khuẩn gây bệnh “white pox” cho san hô acropora palmata, để tải tài liệu về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
197
Tạp chí Khoa học và Công nghệ Biển; Tập 18, Số 2; 2018: 197-204
DOI: 10.15625/1859-3097/18/2/8766
PHÁT HIỆN Bacillus sp. VK2 PHÂN LẬP TỪ Acropora hyacinthus
Ở NINH THUẬN KHÁNG VI KHUẨN GÂY BỆNH “WHITE POX”
CHO SAN HÔ Acropora palmata
Phạm Thị Miền*, Nguyễn Ngọc Thắng, Nguyễn Kim Hạnh
Viện Hải dương học, Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam
*E-mail: mien.pham@gmail.com
Ngày nhận bài: 6-10-2016 / Ngày chấp nhận đăng: 25-5-2017
TÓM TẮT: Vi khuẩn sống cùng san hô và vai trò của chúng đối với vật chủ hiện đang là một
trong những hướng nghiên cứu mới và thu hút các nhà khoa học toàn thế giới. Trong nghiên cứu vi
sinh vật sống cùng một số loài san hô cứng ở Hang Rái, Ninh Thuận, vi khuẩn sống cùng san hô
Acropora hyacinthus chủng VK2 được phát hiện là chiếm ưu thế trong tổng số vi khuẩn dị dưỡng
hiếu khí. Vi khuẩn này được xác định đến giống, tách chiết chất thô và thử nghiệm khả năng kháng
khuẩn với 4 chủng vi khuẩn chuẩn Bacillus subtilis ATCC6633, Salmonella typhimurium ATCC6994,
Escherichia coli O157 và Serratia marcescens PDL100 trên môi trường Mueller Hinton Agar bằng
phương pháp khuếch tán thạch. Vi khuẩn VK2 được xác định là Bacillus sp. VK2. Kết quả khả năng
kháng sinh cho thấy chủng này kháng lại vi khuẩn Serratia marcescens PDL100 là vi khuẩn gây đại
dịch bệnh “white pox” ở san hô Acropora palmata thành phần đặc trưng của đảo san hô Florida
Keys, Hoa Kỳ. Tuy nhiên Bacillus sp.VK2 không kháng lại các vi khuẩn kiểm định khác.
Từ khóa: Hoạt động kháng khuẩn, Bacillus sp. VK2, Acropora hyacinthus, Ninh Thuận.
MỞ ĐẦU
Trên thế giới đã có một số nghiên cứu chỉ
ra các tác nhân gây bệnh cho san hô, ví dụ bệnh
tẩy trắng ở san hô Oculina patagonica là do vi
khuẩn gây bệnh cơ hội Vibrio shiloi [1], còn
Vibrio coralliilyticus gây bệnh tẩy trắng cho
san hô Pocillopora damicornis [2]. Những
nghiên cứu này cũng chỉ ra rằng, hai vi khuẩn
gây bệnh kể trên là những vi khuẩn gây bệnh
cơ hội chịu tác động lớn bởi sự biến thiên nhiệt
độ [3]. Trong khi bệnh dải đen (back band)
xuất hiện ở nhiều loài san hô được xác định là
do một hợp phần gồm nhiều vi sinh vật gây ra
bao gồm Cyanobacteria sp., Cytophaga sp.,
Beggiatoa sp., Desulfovibrio sp. [4]. Bệnh
mảng trắng (white plague II) ở san hô
Montastraea là do vi khuẩn Gram-âm
Aurantimonas coralicida gây ra [5].
San hô Acropora palmata là một trong
những thành phần chủ yếu tạo nên rạn san hô
vùng nước cạn ở đảo san hô Florida Keys nằm
ngoài khơi bờ biển Florida, Hoa Kỳ đã ghi
nhận bị bệnh xuất hiện những đốm trắng hoặc
mảng trắng trên thân lần đầu tiên vào năm 1996
trên rạn san hô Eastern Dry Rocks Reef, thuộc
đảo san hô Key West, Florida Keys [6]. Sự sụt
giảm nghiêm trọng về tỷ lệ mô san hô với trung
bình 2,5 cm3 mỗi ngày và đặc biệt gia tăng khi
nhiệt độ lên cao đã dẫn đến hơn 70% diện tích
rạn san hô bị tàn phá vào cuối năm 1999 đầu
năm 2000. Nguyên nhân gây bệnh cho san hô
tạo rạn A. palmata ở Florida Keys và các nơi
khác thuộc vùng biển Caribe lân cận đã được
xác định là do vi khuẩn S. marcescens chủng
PDL100 gây ra [7, 8]. Patterson, người đã tìm
ra S. marcescens từ mô tổn thương của san hô
Phạm Thị Miền, Nguyễn Ngọc Thắng,...
198
A. palmata đề nghị gọi bệnh do vi khuẩn này
gây ra là serratiosis acroporid hay bệnh đốm
trắng (white pox diseases-WPD). Biểu hiện của
bệnh này là những đốm trắng hoặc vết trắng bất
thường và dẫn đến mất mô san hô nhằm phân
biệt với các bệnh khác, vì đa số các bệnh trên
san hô đều có những dấu hiệu tương đối giống
nhau khi quan sát bằng mắt thường ví dụ xuất
hiện màu trắng, có thể là một dải, một đốm
hoặc một mảng trắng nhưng không do S.
marcescens gây ra [8]. Vi khuẩn S. marcescens
PDR60 đã được cho là nguyên nhân gây ra đại
dịch bệnh đốm trắng bùng phát vào năm 2002
và 2003, khi chủng này được đồng thời tìm
thấy ở các mẫu nước thu trong rạn san hô và
trong nước thải của con người từ các đảo gần
quần đảo Florida Keys và ở san hô A. palmata
bệnh [9, 10]. Tuy nhiên, cũng ở Florida Keys
và các nơi khác trong vùng biển Caribe, các
nhà nghiên cứu đã báo cáo rằng S. marcescens
không phải lúc nào cũng được phân lập từ các
mẫu san hô có những biểu hiện bệnh đốm trắng
[11, 12]. Bệnh đốm trắng đã được ghi nhận ở
bốn trong sáu rạn san hô ở Florida Keys vào
các đợt khảo sát từ năm 2011 và 2013, S.
marcescens đã được phát hiện ở các thương tổn
có biểu hiện bệnh đốm trắng trong dịch nhầy
(mucus) san hô khỏe mạnh thu mẫu ở khu vực
đang diễn ra bệnh và khu vực lân cận không có
bệnh. S. marcescens đã được phát hiện trong
san hô A. palmata với tần suất lớn hơn trong
nước gần tập đoàn. Tuy nhiên, không giống
như những lần đại dịch đã xảy ra, không xuất
hiện san hô chết cả tập đoàn cho dù tổn thương
do bệnh đốm trắng đã được quan sát thường
xuyên trên các rạn san hô. S. marcescens không
được phân lập từ A. palmata nhưng được phân
lập từ các tập đoàn lành mạnh của các loài san
hô khác và được xác định là chủng gây bệnh S.
marcescens PDR60 [13].
Khả năng kháng khuẩn của san hô cứng đã
được nghiên cứu trong một số công trình của
Koh [15], Geffe và Rosenberg [16]. Tuy nhiên
cả hai công trình này đều nghiên cứu khả năng
kháng khuẩn từ chất chiết của san hô, không
nghiên cứu khả năng kháng khuẩn của vi sinh
vật sống cùng san hô.
Chủng VK2 xuất hiện với tần xuất cao
trong tất cả các mẫu san hô Acropora
hyacinthus bằng phương pháp nuôi cấy truyền
thống, do đó vi khuẩn này được nghiên cứu sâu
hơn về khả năng kháng khuẩn. Đây là công bố
đầu tiên được thực hiện tại Việt Nam về vi
khuẩn sống cùng san hô cứng biển Việt Nam có
khả năng kháng vi khuẩn gây bệnh đốm trắng
cho san hô A. palmata.
PHƢƠNG PHÁP
Địa điểm và thời gian thu mẫu, xử lý mẫu
Hình 1. Bản đồ vị trí lấy mẫu
Mẫu san hô sống được thu một cành dài từ
3 - 7 cm qua thợ lặn có khí tài (SCUBA) ở độ
sâu 7 m tại vị trí có tọa độ 109o18’28,1”E,
11o67’71,7”N, tại Hang Rái, Ninh Thuận
(hình 1) ngày 4/8/2016. Nhiệt độ nước biển tại
thời điểm thu mẫu là 27,95 ± 0,05oC, độ mặn
nước biển là 34,6‰. San hô được thu vào túi
nilon vô trùng, bảo quản trong tối và đặt vào
thùng đá lạnh vận chuyển về phòng thí nghiệm
trong thời gian nhanh nhất có thể, ngay sau đó
được thực hiện các thí nghiệm.
Phƣơng pháp nuôi cấy và phân tích mẫu.
Mẫu san hô sau khi lấy về, cân 2 g mẫu đồng
nhất trong 18 ml nước biển lọc vô trùng (lọc
qua màng lọc Anodisc 0,02 µm (Whatman) để
được nồng độ 10-1. Mẫu san hô (n=3) dùng để
đếm tổng số vi khuẩn bằng kính hiển vi huỳnh
quang được cố định với formaldehyde đến
nồng độ cuối cùng 3%, làm lạnh nhanh trong
nitơ lỏng và bảo quản ở -80oC cho đến khi phân
tích. Các mẫu san hô cố định trong
formaldehyde được xử lý với dung dịch
potassium citrate 1%, sau đó được lọc qua
màng lọc Anodisc 0,02 µm và nhuộm với
SYBR Gold (Invitrogen) [17]. Tổng số vi
Phát hiện Bacillus sp. VK2 phân lập từ...
199
khuẩn, hình dạng vi khuẩn (hình cầu, que,...) sẽ
được đọc với kính hiển vi huỳnh quang
Olympus Provis AX70 và xử lý hình ảnh với
phần mềm chụp ảnh kỹ thuật số (Olympus-
DP71). Đếm vi khuẩn bằng phương pháp pha
loãng tới hạn (n=3): Vi khuẩn được cấy truyền
liên tiếp đến nồng độ 10-8 vào môi trường SWB
(peptone 5 g/l, yeast extract 2,5 g/l, glucose
1 g/l, MgSO4.7H2O 0,1 g/l, K2HPO4 0,1 g/l,
NaCl 30 g/l). Từ 2 nồng độ pha loãng liên tiếp
có vi khuẩn mọc, cấy trang lên môi trường
Nutrient agar (NA-Himedia, Ấn Độ) có bổ
sung NaCl đến nồng độ cuối cùng 3% và tính
theo công thức: A(CFU/g)=N/(n1Vf1 ++
niVfi). A: Đơn vị hình thành khuẩn lạc (CFU/g)
mẫu. N: Tổng số khuẩn lạc đếm được trên các
đĩa đã chọn; n1, ni: Số lượng đĩa cấy lần lượt ở
nồng độ pha loãng thứ 1 và thứ I; V: Thể tích
dịch mẫu (ml) cấy vào mỗi đĩa; fi: Nồng độ pha
loãng tương ứng.
Vi khuẩn VK2 được phân lập đến thuần
trên môi trường NA có bổ sung NaCl 3%. Hình
dạng khuẩn lạc và các đặc điểm hình thái được
ghi chú, xác định Gram dựa trên kết quả phản
ứng KOH [18]. Nhuộm đơn tế bào vi khuẩn,
soi dưới kính hiển, hình ảnh tế bào được chụp
và xử lý bằng phần mềm chụp ảnh kỹ thuật số
(Olympus-DP71). Vi khuẩn được kiểm tra khả
năng di động, phản ứng catalase, phản ứng sinh
Indol, sinh H2S, khử Nitrat, V-P, sử dụng
glucose, citrate, maltose, sac, lac, arabinose,
thủy phân tinh bột và đối chiếu kết quả với
bảng phân loại của Bergey [19]. Khả năng
kháng khuẩn của chủng VK2 được kiểm tra
dựa theo nguyên lý khuếch tán thạch của Bauer
và nnk., [20]. Vi khuẩn kiểm định dùng trong
nghiên cứu này gồm Bacillus subtilis ATCC6633,
Salmonella typhimurium ATCC6994,
Escherichia coli O157, Serratia
marcescens PDL100 trong đó có chủng vi khuẩn
S. marcescens PDL100 gây bệnh cho san hô
cứng A. palmata. Vi khuẩn kiểm định được
chuẩn bị trong môi trường SWB nuôi lắc
120 rpm ở 37oC trong 24 giờ, riêng S.
marcescens nuôi ở 25oC, dùng 0,1 ml dịch nuôi
cấy trang lên các đĩa thạch có chứa môi trường
Mueller Hinton Agar (MHA-Himedia, Ấn Độ).
Chủng VK2 được nuôi thu sinh khối trong bình
tam giác chứa 100 ml môi trường SWB, nuôi
lắc 120 rpm, ở 30oC trong 72 giờ. Chất thô có
trong sinh khối được tách chiết bằng ethyl
acetate (Trung Quốc) với tỉ lệ 1/1 (v/v), lắc
120 prm ở nhiệt độ 30oC cho đến khi khô, thu
hồi chất chiết thô với 1 ml methanol (Merck).
Mỗi 30 µl dịch chiết chất thô được nhỏ vào 4
giếng đã chuẩn bị sẵn trên MHA có cấy 0,1 ml
dịch nuôi các vi khuẩn kiểm định. Đường kính
vòng vô khuẩn sẽ được tính bằng giá trị trung
bình đo được của 4 giếng không bao gồm
đường kính giếng. Methanol được dùng làm đối
chứng âm cho tất cả các chủng.
Toàn bộ số liệu được xử lý trên phần mềm
thống kê R -R Development Core Team [21],
bản đồ trạm vị thu mẫu được xây dựng trên
phần mềm Surfer và MapInfo.
KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN
Tổng số vi khuẩn trong san hô qua nuôi cấy
và đếm trực tiếp bằng kính hiển vi quang
học huỳnh quang. Tổng vi khuẩn dị dưỡng
qua phương pháp đếm huỳnh quang (EFM) và
tính toán qua phương pháp pha loãng tới hạn
(NA) được trình bày trong hình 2 biểu diễn giá
trị trung bình và độ lệch chuẩn.
Hình 2. Tổng vi khuẩn dị dưỡng qua EFM và NA
Tổng số vi sinh vật hiếu khí trong 1 g san
hô là 1,32 ± 0,98 × 106 CFU/g trong khi tổng số
vi khuẩn dị dưỡng đếm trực tiếp từ phương
pháp nhuộm và đếm huỳnh quang là 2,07 ±
0,58 × 108 tế bào/g. Qua hình 2 cho thấy vi
khuẩn có mặt thực sự trong san hô lớn hơn 200
lần so với vi khuẩn có thể nuôi cấy. Trong
nghiên cứu này vi khuẩn được đồng nhất trong
nước biển lọc qua màng lọc 0,02 µm đã hạn
Phạm Thị Miền, Nguyễn Ngọc Thắng,...
200
chế tối đa vi khuẩn bên ngoài xâm nhiễm và
cấy truyền trực tiếp vào môi trường dinh dưỡng
không qua pha loãng với muối sinh lý nhằm
khắc phục hạn chế của nuôi cấy truyền thống.
Do dó có thể thấy số lượng vi sinh vật tổng số
trong san hô cứng A. hyacinthus cao hơn so với
nghiên cứu vi sinh vật trong 4 loài san hô mềm
tại vịnh Nha Trang [22]. Số lượng về vi khuẩn
sống cùng A. hyacinthus đếm dưới kính hiển vi
huỳnh quang trong nghiên cứu này cũng tương
đồng với nghiên cứu khác [23, 24] khi thực
hiện trên đối tượng san hô cứng khác ở vịnh
Nha Trang.
Thành phần vi khuẩn qua đếm trực tiếp
dưới kính hiển vi huỳnh quang, được biểu diễn
bởi phần trăm trong tổng số 100% vi khuẩn
đếm được trên 1 g mẫu san hô tươi (hình 3).
Qua hình 3 cho thấy vi khuẩn có hình phẩy
khuẩn (comma) chiếm ưu thế (54%), tiếp theo
là trực khuẩn (36%) và cầu khuẩn chiếm 10%,
không xuất hiện sợi khuẩn. Song song với đếm
vi khuẩn dị dưỡng qua nhuộm đếm trực tiếp,
nghiên cứu này cũng thực hiện nuôi cấy phân
lập vi sinh vật ưu thế trên môi trường thạch,
đặc biệt nhóm vi khuẩn gây bệnh cơ hội Vibrio
với hình dạng phẩy khuẩn đặc trưng cũng đã
được chú trọng nghiên cứu nuôi cấy trên môi
trường đặc hiệu TCBS. Kết quả là Vibrio có
xuất hiện trên TCBS (không đính kèm dữ liệu),
tuy nhiên đã không phát triển khi được cấy
truyền tiếp theo sang môi trường mới. Do đó
không thể phân lập và định danh đến loài. Tuy
nhiên cũng bằng nuôi cấy thông thường cho
thấy nhóm phẩy khuẩn Vibrio sp. là vi khuẩn
chiếm ưu thế trong cả chất nhầy và mô ở san hô
Acropora digitifera vịnh Mannar [25], trong
san hô cứng Mussismilia hispida ở biển Brazil
[26] và san hô cứng Acropora hyacinthus,
Stylophora pistillata ở Great Barrier Reef,
Australia [27]. Trong nghiên cứu này không có
vi khuẩn Vibrio nào được phân lập và định
danh mặc dù có một vài khuẩn lạc có thể là
Vibrio hoặc cũng có thể là nhóm khác đã xuất
hiện trên môi trường TCBS. Có thể Vibrio
trong san hô A. hyacinthus cần một chất dinh
dưỡng hay điều kiện nuôi cấy đặc biệt nào đó
mà nghiên cứu không đáp ứng được. Sự thật là
sự hiểu biết của chúng ta về vi sinh vật biển có
thể chỉ là 0,01% về sinh thái, di truyền và đặc
tính sinh học, trong khi vi sinh vật có thể nuôi
cấy ước tính chỉ khoảng 0,1% trong số các loài
được phát hiện [28].
Thành phần vi khuẩn
cầu khuẩn phẩy khuẩn
trực khuẩn sợi khuẩn
Hình 3. Thành phần vi sinh vật qua đếm trực tiếp với kính hiển vi huỳnh quan
Hình 3. Thành phần vi sinh vật qua đếm
trực tiếp với kính hiển vi huỳnh quang
Hình dạng khuẩn lạc và tế bào VK2. Vi
khuẩn VK2 với khuẩn lạc có màu trắng xốp,
đường kính khuẩn lạc 0,3 - 0,5 mm có xuất
hiện vòng tròn đồng tâm, tâm khuẩn lạc nhầy
và có màu đục sau 24 giờ nuôi cấy. Kiểm tra
phản ứng KOH, và các phản ứng sinh hóa đặc
trưng cho biết chủng VK2 vi khuẩn Gram
dương hiếu khí, có khả năng di động, khuẩn lạc
có màu trắng, mép loang ra xung quanh, bề mặt
khuẩn lạc phẳng trơn láng, tế bào hình que,
kích thước tế bào khoảng 0,6 × 2,0 µm, có bào
tử trung tâm (hình 4). Theo hệ thống phân loại
hình thái của Bergey (1984) thì chủng VK2
được xác định là Bacillus sp. và được đặt tên là
Bacillus sp. VK2.
Hình 4. Hình dạng, kích thước tế bào
và khuẩn lạc
Phát hiện Bacillus sp. VK2 phân lập từ...
201
Trong nghiên cứu này chủng VK2 chiếm
ưu thế và được lựa chọn để nghiên cứu tiếp
theo, quan sát qua kính hiển vi huỳnh quang
trực khuẩn cũng chiếm tỷ lệ cao trong số 4
nhóm quan sát được. Vi khuẩn sống cùng san
hô Antipathes dichotoma ở Biển Đông được
khám phá khả năng kháng sinh, bên cạnh
những nhà sản xuất chính như Actinobacteria,
những thành viên thuộc chi Bacillus cũng được
công bố là nguồn của các chất kháng sinh. Bên
cạnh đó không có một thành viên nào thuộc
Gammaproteobacteria được công bố [29]. Chi
Bacillus là vi sinh vật ưu thế nhất trong số vi
sinh vật phân lập từ 4 loài san hô quạt
Dichotella gemmacea, Melitodes squamata,
Muricella flexuosa và Subergorgia suberosa ở
Biển Đông [30]. Tuy nhiên, nghiên cứu trên
san hô nấm Fungia scutaria ở Biển Đỏ, không
có chủng nào thuộc chi này được phân lập [31].
Khả năng kháng khuẩn của VK2
Hình 5. VK2 kháng S. marcescens (trái)
và S. typhimurium (phải)
Chủng VK2 kháng vi khuẩn gây bệnh S.
marcescens (hình 5) với đường kính vòng kháng
khuẩn trung bình là 6 mm (SD±0,35). Đối với
các chủng kiểm định còn lại chủng VK2 không
thể hiện khả năng kháng khuẩn. Nghiên cứu tìm
kiếm các chủng sinh kháng sinh từ san hô sừng
Elkhorn coral A. palmate chỉ ra Bacillus
megaterium và Exiguobacterium sp. vừa là
những chủng có mối tương quan mật thiết đối
với vật chủ san hô, chúng cũng là những chủng
sinh kháng sinh, Bacillus megaterium kháng lại
Bacillus subtilis, trong khi Exiguobacterium sp.
kháng lại S. marcescens PDL100-chủng gây
bệnh white pox cho vật chủ [32]. Chủng VK2
trong nghiên cứu này là chủng chiếm ưu thế khi
nuôi cấy trên môi trường thạch, tuy nhiên chưa
khẳng định được chủng VK2 có mối quan hệ
mật thiết với vật chủ san hô hay không, để
khẳng định mối quan hệ này thì cần có những
nghiên cứu sâu hơn.
Đã có công trình của Shnit-Orland và
Kushmaro [33] thử nghiệm khả năng kháng
khuẩn của vi khuẩn sống cùng 6 loài san hô
cứng và 2 loài san hô mềm phổ biến ở Biển Đỏ
với vi khuẩn kiểm định Bacillus cereus,
Escherichia coli, Staphylococcus aureus,
Vibrio coralliilyticus và S. marcescens. Vi
khuẩn sống cùng chất nhầy san hô khối và san
hô tạo rạn đặc biệt là các chủng thuộc chi
Vibrio và Pseudoalteromonas thể hiện khả
năng kháng sinh mạnh đối với cả vi khuẩn
Gram âm và Gram dương. Trong khi các chủng
thuộc chi Bacillus và Planomicrobium thể hiện
khả năng kháng sinh tương đối thấp và chủ yếu
kháng lại các vi khuẩn Gram dương. Tính trên
tổng số vi khuẩn được thử khả năng kháng sinh
có 25% đến 70% các chủng có hoạt động kháng
khuẩn. Tuy nhiên không có chủng nào kháng
lại vi khuẩn gây S. marcescens bệnh cho san hô
sừng A. palmata. Hoạt động kháng khuẩn nổi
trội của chủng Pseudoalteromonas và Vibrio
kháng lại cả vi khuẩn Gram dương và Gram âm
đã khiến chúng trở nên được quan tâm và đề
nghị rằng chủng này có thể thích hợp để làm
“Probiotic-là chủng vi khuẩn có lợi” cho san
hô, giúp vật chủ khỏe mạnh bằng cách đưa
chủng này vào “hợp phần” của san hô gồm bản
thân san hô, vi tảo cộng sinh, vi khuẩn virus và
các sinh vật sống cùng khác được gọi là coral
holobiont, để chúng có thể điều hòa tiết chế các
hoạt động của vi sinh vật sống cùng theo hướng
có lợi cho vật chủ, nhất là trong những điều
kiện khó khăn như căng thẳng vì môi trường do
nhiệt độ, độ mặn và các yếu tố khác gây bất lợi
cho san hô [34]. Đáng chú ý là trước đó Reshef
và nnk., [35] đã đưa ra thuyết “Probiotic”- đó là
đưa vi khuẩn có lợi vào san hô, vi khuẩn này sẽ
giúp ích cho san hô chống lại những tác nhân
bất lợi từ bên ngoài, thuyết này có nhiều điểm
phù hợp với tình hình thực tế hiện nay khi tìm
kiếm tác nhân gây bệnh cho san hô. Vibrio là
nhóm vi khuẩn gây bệnh cơ hội phổ biến trong
môi trường nước, chúng cũng là những nhà sản
xuất các chất kháng sinh. Vibrio
parahaemolyticus và Vibrio natriegens phân
lập từ san hô cứng A. digitifera ở vịnh Mannar
Phạm Thị Miền, Nguyễn Ngọc Thắng,...
202
có hoạt động kháng khuẩn mạnh chống lại vi
khuẩn kiểm định [25]. Nghiên cứu vi sinh vật
từ san hô đen A. dichotoma công bố chi
Bacillus sp. chiếm ưu thế và cũng là nhóm có
hoạt động kháng khuẩn mạnh nhất [29]. Kết
quả tương đồng với nghiên cứu tìm kiếm các
chất hoạt tính từ vi sinh vật sống cùng san hô
mềm Alcyonium digitatum ở biển Baltic, chi
Bacillus sp. chiếm ưu thế trong các vi khuẩn có
thể nuôi cấy được đồng thời thể hiện khả năng
kháng khuẩn cao [36].
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ
Đây là kết quả bước đầu ghi nhận vi khuẩn
sống cùng san hô cứng A. hyacinthus tại Hang
Rái, Ninh Thuận có khả năng kháng lại vi
khuẩn gây bệnh S. marcescens nguyên nhân
gây bệnh đốm trắng cho A. palmata san hô tạo
rạn của Florida Keys, Hoa Kỳ. Vi khuẩn này
được xác định là Bacillus sp. chủng VK2. Để
tìm hiểu sâu hơn về khả năng kháng sinh cũng
như khả năng sử dụng chủng VK2 cho những
nghiên cứu sinh thái san hô, cần thử nghiệm
khả năng kháng khuẩn đối với các chủng vi
khuẩn gây bệnh cơ hội sống cùng A. hyacinthus
ở Hang Rái. Xa hơn nữa, vi khuẩn sống cùng
san hô đang là xu hướng nghiên cứu trên thế
giới hiện nay, mối tương tác giữa vi sinh vật và
vật chủ san hô cũng như vai trò của vi khuẩn
đối với sinh thái rạn san hô vẫn là những vấn
đề cần tìm hiểu và thảo luận.
Lời cảm ơn: Nghiên cứu được thực hiện bằng
nguồn kinh phí cấp cho đề tài cơ sở năm 2016
của phòng Sinh thái biển và nhận được một phần
hỗ trợ vật tư hóa chất từ đề tài trẻ 2016 của tiến
sỹ Nguyễn Kim Hạnh phòng Sinh thái biển,
Viện Hải dương học. Chúng tôi xin được gửi lời
cảm ơn chân thành đến anh Phan Kim Hoàng
phòng Nguồn lợi thủy sinh, Viện Hải dương học
đã thực hiện thu mẫu và phân loại san hô cứng
A. hyacinthus. Chúng tôi xin bày tỏ lòng biết ơn
sâu sắc đến tiến sỹ Michael Tedengren Trường
Đại học Stockholm Thụy Điển đã cung cấp các
chủng vi khuẩn chuẩn, dùng làm vi khuẩn kiểm
định trong nghiên cứu này.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Kushmaro, A., Rosenberg, E., Fine, M., and
Loya, Y., 1997. Bleaching of the coral
Oculina patagonica by Vibrio AK-1. Marine
Ecology Progress Series, 147, 159-165.
2. Ben-Haim, Y., and Rosenberg, E., 2002. A
novel Vibrio sp. pathogen of the coral
Pocillopora damicornis. Marine Biology,
141(1), 47-55.
3. Ben-Haim, Y., Zicherman-Keren, M., and
Rosenberg, E., 2003. Temperature-regulated
bleaching and lysis of the coral Pocillopora
damicornis by the novel pathogen Vibrio
coralliilyticus. Applied and Environmental
Microbiology, 69(7), 4236-4242.
4. Frias-Lopez, J., Zerkle, A. L., Bonheyo, G.
T., and Fouke, B. W., 2002. Partitioning of
bacterial communities between seawater
and healthy, black band diseased, and dead
coral surfaces. Applied and environmental
microbiology, 68(5), 2214-2228.
5. Denner, E. B., Smith, G. W., Busse, H. J.,
Schumann, P., Narzt, T., Polson, S. W., ...
and Richardson, L. L., 2003. Aurantimonas
coralicida gen. nov., sp. nov., the causative
agent of white plague type II on Caribbean
scleractinian corals. International Journal
of Systematic and Evolutionary
Microbiology, 53(4), 1115-1122.
6. Holden, C., 1996. Coral disease hot spot in
Florida Keys. Science, 274(5295), 2017.
7. Miller, S., Chiappone, M., Rutten, L. M., and
Swanson, D. W., 2008. Population status of
Acropora corals in the Florida Keys.
8. Patterson, K. L., Porter, J. W., Ritchie, K.
B., Polson, S. W., Mueller, E., Peters, E. C.,
Santavy, D. L., and Smith, G. W., 2002.
The etiology of white pox, a lethal disease
of the Caribbean elkhorn coral, Acropora
palmata. Proceedings of the National
Academy of Sciences, 99(13), 8725-8730.
9. Sutherland, K. P., Porter, J. W., Turner, J.
W., Thomas, B. J., Looney, E. E., Luna, T.
P., Meyers, M. K., Futch, J. C., and Lipp,
E. K., 2010. Human sewage identified as
likely source of white pox disease of the
threatened Caribbean elkhorn coral,
Acropora palmata. Environmental
Microbiology, 12(5), 1122-1131.
10. Sutherland, K. P., Shaban, S., Joyner, J. L.,
Porter, J. W., and Lipp, E. K., 2011. Human
pathogen shown to cause disease in the
threatened eklhorn coral Acropora palmata.
PloS One, 6(8), e23468.
Phát hiện Bacillus sp. VK2 phân lập từ...
203
11. Polson, S. W., Higgins, J. L., and Woodley,
C. M., 2008. PCR-based assay for detection
of four coral pathogens. Proc. 11th Int. Coral
Reef Symp., Ft Lauderdale, FL, 251-255.
12. Lesser, M. P., and Jarett, J. K., 2014. Culture-
dependent and culture-independent analyses
reveal no prokaryotic community shifts or
recovery of Serratia marcescens in Acropora
palmata with white pox disease. FEMS
Microbiology Ecology, 88(3), 457-467.
13. Joyner, J. L., Sutherland, K. P., Kemp, D.,
Berry, B., Griffin, A., Porter, J., Amador,
M. H. B., Noren, H. K. G., and Lipp, E. K.,
2015. Systematic analysis of white pox
disease in Acropora palmata of the Florida
Keys and the role of Serratia marcescens.
Applied and Environmental Microbiology,
AEM-00116.
14. 15. Koh, E. G., 1997. Do scleractinian
corals engage in chemical warfare against
microbes?. Journal of Chemical Ecology,
23(2), 379-398.
16. Geffen, Y., and Rosenberg, E., 2005. Stress-
induced rapid release of antibacterials by
scleractinian corals. Marine Biology, 146(5),
931-935.
17. Leruste, A., Bouvier, T., and Bettarel, Y.,
2012. Enumerating Viruses in Coral
Mucus. Applied and Environmental
Microbiology, 78(17), 6377-6379.
18. Halebian, S., Harris, B., Finegold, S. M.,
and Rolfe, R. D., 1981. Rapid method that
aids in distinguishing Gram-positive from
Gram-negative anaerobic bacteria. Journal
of Clinical Microbiology, 13(3), 444-448.
19. Holt, J. G., and Sneath, P. H., 1984.
Bergey’s Manual of Systematic
Bacteriology. Baltimore, London. Vol 2.
20. Bauer, A. W., Kirby, W. M. M., Sherris, J.
C., and Turck, M., 1966. Antibiotic
susceptibility testing by a standardized
single disk method. American journal of
clinical pathology, 45(4_ts), 493-496.
21. Team, R. C., 2012. R: A language and
environment for statistical computing.
R-project. org.
22. Phạm Thị Miền, Võ Hải Thi, Lê Hoài
Hương và Hoàng Xuân Bền, 2010. Phân
lập vi khuẩn từ san hô mềm Sinularia spp.
và thử nghiệm hoạt tính kháng
Tetracycline, Gentamicin, Cefazolin của
chúng. Tuyển Tập nghiên cứu biển, Tập
XVII, 183-195.
23. Hanh, N. K., Bettarel, Y., Bouvier, T.,
Bouvier, C., Hai, D. N., Lam, N. N., Thuy
N. T., Huy T. Q., and Brune, J., 2015. Coral
mucus is a hot spot for viral infections.
Applied and Environmental Microbiology,
81(17), 5773-5783.
24. Nguyen‐Kim, H., Bouvier, T., Bouvier, C.,
Doan‐Nhu, H., Nguyen‐Ngoc, L.,
Rochelle‐Newall, E., Baudoux, C. A.,
Desnues, C., Reynaud, S., Ferrier‐Pages, S.,
and Bettarel, Y., 2014. High occurrence of
viruses in the mucus layer of scleractinian
corals. Environmental Microbiology
Reports, 6(6), 675-682.
25. Nithyanand, P., and Pandian, S. K., 2009.
Phylogenetic characterization of culturable
bacterial diversity associated with the
mucus and tissue of the coral Acropora
digitifera from the Gulf of Mannar. FEMS
Microbiology Ecology, 69(3), 384-394.
26. De Castro, A. P., Araújo, S. D., Reis, A.
M., Moura, R. L., Francini-Filho, R. B.,
Pappas, G., Rodrigues, T. G., Thompson, F.
L., and Krüger, R. H., 2010. Bacterial
community associated with healthy and
diseased reef coral Mussismilia hispida
from eastern Brazil. Microbial Ecology,
59(4), 658-667.
27. Kvennefors, E. C. E., Sampayo, E., Kerr, C.,
Vieira, G., Roff, G., and Barnes, A. C., 2012.
Regulation of bacterial communities through
antimicrobial activity by the coral holobiont.
Microbial Ecology, 63(3), 605-618.
28. Simon, C., and Daniel, R., 2011.
Metagenomic analyses: past and future
trends. Applied and Environmental
Microbiology, 77(4), 1153-1161.
29 Zhang, X., Sun, Y., Bao, J., He, F., Xu, X.,
and Qi, S., 2012. Phylogenetic survey and
antimicrobial activity of culturable
microorganisms associated with the South
China Sea black coral Antipathes
dichotoma. FEMS Microbiology Letters,
336(2), 122-130.
30. Peng, J., Zhang, X., Xu, X., He, F., and Qi,
S., 2013. Diversity and chemical defense
role of culturable non-actinobacterial
bacteria isolated from the South China Sea
Phạm Thị Miền, Nguyễn Ngọc Thắng,...
204
(Bien Dong Sea) gorgonians. J. Microbiol
Biotechnol, 23(4), 437-43.
31. Lampert, Y., Kelman, D., Dubinsky, Z.,
Nitzan, Y., and Hill, R. T., 2006. Diversity
of culturable bacteria in the mucus of the
Red Sea coral Fungia scutaria. FEMS
microbiology ecology, 58(1), 99-108.
32. Ritchie, K. B., 2006. Regulation of
microbial populations by coral surface
mucus and mucus-associated bacteria.
Marine Ecology Progress Series, 322, 1-14.
33. Shnit-Orland, M., and Kushmaro, A., 2009.
Coral mucus-associated bacteria: a possible
first line of defense. FEMS Microbiology
Ecology, 67(3), 371-380.
34. Shnit-Orland, M., Sivan, A., and Kushmaro,
A., 2012. Antibacterial activity of
Pseudoalteromonas in the coral holobiont.
Microbial Ecology, 64(4), 851-859.
35. Reshef, L., Koren, O., Loya, Y.,
Zilber‐Rosenberg, I., and Rosenberg, E.,
2006. The coral probiotic hypothesis.
Environmental Microbiology, 8(12),
2068-2073.
36. Pham, T. M., Wiese, J., Wenzel-Storjohann,
A., and Imhoff, J. F., 2016. Diversity and
antimicrobial potential of bacterial isolates
associated with the soft coral Alcyonium
digitatum from the Baltic Sea. Antonie Van
Leeuwenhoek, 109(1), 105-119.
Bacillus sp. VK2 ISOLATED FROM Acropora hyacinthus FROM NINH
THUAN AND ITS ANTIMICROBIAL ACTIVITIES AGAINST CAUSE
OF WHITE POX DISEASE IN Acropora palmate
Pham Thi Mien, Nguyen Ngoc Thang, Nguyen Kim Hanh
Institute of Oceanography, VAST
ABSTRACT: Coral associated bacteria and their role for the host are currently one of the
interested issues for research and scientists worldwide. Search of associated bacteria with some
species of hard coral in Hang Rai, Ninh Thuan found that the strain VK2 was the most abundant
culture from Acropora hyacinthus. This bacterium was implicated to further study for antimicrobial
tests with Bacillus subtilis ATCC6633, Salmonella typhimurium ATCC6994, Escherichia coli
O157, and Serratia marcescens PDL100 by agar diffusion method on MHA. The bacterium was
identified as Bacillus sp. VK2. This strain showed inhibition of Serratia marcescens strain PDL100-
as pandemic white pox disease for elkhorn coral Acropora palmata in Florida Keys, USA. However
Bacillus sp. strain VK2 showed no inhibition against other indicators.
Keywords: Antimicrobial activity, Bacillus sp. VK2, Acropora hyacinthus, Ninh Thuan.
Các file đính kèm theo tài liệu này:
phat_hien_bacillus_sp_vk2_phan_lap_tu_acropora_hyacinthus_o.pdf