Phát hiện đột biến mới trên gen NPR2 và ứng dụng trong chẩn đoán tiền làm tổ bệnh AMDM
Ứng dụng thành công phát hiện đột
biến mới trong chẩn đoán tiền làm tổ
Chẩn đoán tiền làm tổ (PGD)
là phương pháp cho phép các cặp
vợ chồng có nguy cơ sinh con
mang bệnh lý di truyền có thể
sinh con không mắc bệnh, dựa
vào việc phát hiện các bất thường
di truyền ở phôi (in-vitro) và chọn
lọc phôi không có bất thường di
truyền trước sinh chuyển phôi.
Nhờ đó, PGD không cần phụ
thuộc vào chẩn đoán trước sinh
khi đã mang thai và giảm khả
năng bỏ thai nếu phát hiện thai
bệnh lý.
Sử dụng kỹ thuật giải trình tự
gen NPR2 đã giúp xác định được
bố và mẹ bệnh nhân có kiểu gen
dị hợp tử về đột biến c.152 T>C.
Vì AMDM là bệnh lý di truyền lặn
trên nhiễm sắc thể thường nên
đối với cặp bố mẹ dị hợp tử, mỗi
lần mang thai, khả năng có con
mắc bệnh là 25%. Một số lựa
chọn sinh sản đối với cặp bố mẹ
bao gồm: mang thai tự nhiên với
xác suất con không bệnh là 75%;
thực hiện thăm dò trước sinh khi
đang mang thai để phát hiện thai
nhi bất thường (chọc dịch ối, sinh
thiết gai rau); hoặc chẩn đoán tiền
làm tổ. Cả hai phương án đầu tiên
đều gây khó khăn cho bà mẹ, do
người mẹ đều phải mang thai rồi
mới kiếm tra khả năng con mắc
bệnh hay không. Nếu con mắc
bệnh, việc đình chỉ thai nghén
(bằng nạo, hút thai) không chỉ ảnh
hưởng đến tinh thần và sức khỏe
sản phụ mà còn có thể làm giảm
khả năng thụ thai tiếp theo. Trong
khi đó, chẩn đoán tiền làm tổ đảm
bảo tỷ lệ cao bà mẹ không mang
thai bệnh lý do kết hợp giữa thụ
tinh nhân tạo và các kỹ thuật xét
nghiệm di truyền sàng lọc phôi
bệnh trước khi bà mẹ mang thai.
Ứng dụng kết quả nghiên cứu
vào chẩn đoán tiền làm tổ đã xác
định được 4 phôi đạt tiêu chuẩn
không mang đột biến nhiễm sắc
thể và đột biến gen NPR2. Sau
khi chọn lựa được phôi và được
sự tư vấn di truyền của các bác
sỹ, gia đình bệnh nhân đã quyết
định sinh tiếp. Tin mừng đã đến
với gia đình bệnh nhân vào cuối
năm 2019, khi người mẹ sinh bé
trai khỏe mạnh và chưa phát hiện
dấu hiệu bệnh lý AMDM
3 trang |
Chia sẻ: hachi492 | Lượt xem: 4 | Lượt tải: 0
Bạn đang xem nội dung tài liệu Phát hiện đột biến mới trên gen NPR2 và ứng dụng trong chẩn đoán tiền làm tổ bệnh AMDM, để tải tài liệu về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
64
Khoa học - Công nghệ và đổi mới sáng tạo
Soá 1+2 naêm 2020
Một vài nét về bệnh AMDM
Acromesomelic Dysplasia
(AMD) là một bệnh di truyền
hiếm gặp (theo Hiệp hội bệnh
hiếm châu Âu, bệnh hiếm là bệnh
với tỷ lệ gặp thấp hơn 1/2000
người) gây ra bởi đột biến gen
lặn trên nhiễm sắc thể thường,
dẫn đến kiểu hình thấp lùn và bất
thường phát triển xương tại các
vị trí cẳng tay, cẳng chân và bàn
tay, bàn chân. Bệnh AMD gồm ba
thể [Maroteaux (AMDM), Grebe
(AMDG), Hunter Thompson
(AMDH)], việc chẩn đoán xác
định dựa vào sự khác biệt trong
biểu hiện lâm sàng, Xquang và
quan trọng nhất là xét nghiệm
gen phát hiện đột biến.
Năm 1971, Maroteaux và
cộng sự phát hiện ca lâm sàng
AMDM đầu tiên với các biểu
hiện bất thường xương đặc
trưng như: các đoạn giữa và xa
của tay và chân (bao gồm cẳng
tay, cẳng chân, bàn tay và bàn
chân) có kích thước không đồng
nhất với cơ thể. Hiện tượng này
thường được nhận thấy ngay từ
khi sinh và trở nên rõ ràng hơn
trong 2 năm đầu đời. Ngoài ra ở
bệnh nhân AMDM, cân nặng và
chiều cao lúc sinh bình thường,
nhưng một số hiện tượng xương
dài ngắn hơn bình thường có thể
phát hiện ngay qua Xquang. Năm
1998, Kant và cộng sự nghiên
cứu 18 gia đình có bệnh nhân
PHáT HiệN ĐộT BiếN Mới TrêN GEN NPR2
Và ứNG DụNG TroNG CHẩN ĐoáN TiềN LàM Tổ BệNH AMDM
Cao Hà My
trường Đại học Y hà Nội
AMDM là bệnh lý di truyền đơn gen hiếm gặp gây ra bởi đột biến gen lặn trên
nhiễm sắc thể thường, dẫn đến kiểu hình thấp lùn và bất thường phát triển
xương tại các vị trí cẳng tay, cẳng chân và bàn tay, bàn chân. Kết quả thực
hiện nghiên cứu “Phát hiện đột biến trên gen NPR2 và ứng dụng trong chẩn
đoán tiền làm tổ bệnh AMDM” của nhóm nhà khoa học thuộc Trường Đại học
Y Hà Nội mới đây đã ghi nhận c.152 T>C là một đột biến mới chưa từng được
công bố trên gen NPR2. Kết quả nghiên cứu đã góp phần quan trọng vào
chẩn đoán tiền làm tổ bệnh AMDM.
Hình 1. Hình ảnh lâm sàng và Xquang bệnh nhân AMDM.
65
khoa học - công nghệ và đổi mới sáng tạo
Soá 1+2 naêm 2020
AMDM và lần đầu tiên xác định
được vị trí gen NPR2 là 9p13-q12
trên nhiễm sắc thể số 9. AMDM
là bệnh lý di truyền đơn gen, do
đó giải trình tự gen NPR2 có vai
trò quan trọng trong chẩn đoán
xác định bệnh. Tuy nhiên, đột
biến gen NPR2 có thể làm giảm
hoặc tăng chức năng của gen dẫn
đến kiểu hình lùn hoặc cao bất
thường.
Quá trình điều trị bệnh AMDM
cần sự đóng góp của một nhóm
các chuyên gia thuộc nhiều lĩnh
vực khác nhau như: nhi, nội cơ
xương khớp, phục hồi chức năng,
di truyền học. Đối với các bất
thường cột sống, dẫn đến bệnh lý
như hẹp lồng ngực, biến dạng đốt
sống thắt lưng có thể được điều
trị bằng sự kết hợp giữa bài tập
chức năng và thể thao, cùng với
các kỹ thuật hỗ trợ, nặng nhất có
thể phải phẫu thuật. Một số can
thiệp sớm khác cũng nên được
thực hiện nhằm giúp các trẻ mắc
AMDM có thể tìm ra năng lực và
phát triển toàn diện bản thân.
Ngoài ra, tư vấn di truyền cũng
là một vấn đề cần chú trọng, đặc
biệt với gia đình đã sinh con được
chẩn đoán AMDM, và các thành
viên họ hàng có mang gen gây
bệnh.
Hiện nay bệnh lý di truyền hiếm
ở Việt Nam và trên thế giới đang
được đi sâu quan tâm nghiên cứu.
Mạng lưới bệnh hiếm và ngày
bệnh hiếm trên thế giới đã được
thành lập với mục đích giúp cho
các bác sỹ cũng như người dân
nâng cao nhận thức về tầm quan
trọng của bệnh hiếm. Nghiên
cứu “Phát hiện đột biến trên gen
NPR2 và ứng dụng trong chẩn
đoán tiền làm tổ bệnh AMDM”
của chúng tôi nhằm góp phần vào
tình hình nghiên cứu chung của
bệnh hiếm tại Việt Nam cũng như
làm tiền đề cho những nghiên cứu
tiếp theo về lĩnh vực bệnh này ở
nước ta.
Phát hiện đột biến mới gây bệnh
AMDM
Nghiên cứu được thực hiện
trên 2 bệnh nhân (8,4 và 4,9 tuổi)
là chị em gái đã được chẩn đoán
xác định bệnh AMDM và thành
viên gia đình bệnh nhân (bố, mẹ,
ông, bà). Phương pháp nghiên
cứu được thực hiện như sau: 2
bệnh nhân được thăm khám và
thực hiện xét nghiệm thường
quy để loại trừ bệnh lý gây lùn
hay gặp như lùn tuyến yên; thu
thập mẫu bệnh phẩm của 2 bệnh
nhân, thực hiện khuếch đại gen
NPR2 bằng PCR và giải trình tự
gen bằng Sanger Sequencing
để phát hiện đột biến chỉ điểm
trên gen NPR2; thu mẫu bệnh
phẩm của gia đình bệnh nhân,
thực hiện giải trình tự gen NPR2
và phát hiện đột biến gen; thực
hiện chẩn đoán tiền làm tổ bằng
cách sử dụng kỹ thuật sàng lọc
di truyền tiền làm tổ để phát hiện
đột biến nhiễm sắc thể và giải
trình tự gen NPR2 phát hiện đột
biến chỉ điểm, từ đó chọn lựa phôi
phù hợp.
Kết quả khám lâm sàng chị gái
phát hiện chiều dài tay và chân
đều ngắn bất thường, trong đó
các ngón tay và ngón chân ngắn,
rộng, vuông. Hai ngón chân cái to
hơn các ngón chân còn lại. Khuỷu
tay có biến dạng vẹo ra ngoài.
Khám đầu mặt cổ, tim mạch, hô
hấp, tiêu hóa, tiết niệu, thần kinh
của trẻ hoàn toàn bình thường.
Chưa ghi nhận hạn chế vận động
của trẻ. Với kết quả Xquang chị
gái cho thấy, chiều dài của xương
quay và xương trụ ngang nhau và
không có di lệch đầu xương quay,
tuy nhiên xương quay ở cả hai tay
đều cong. Các xương đốt bàn và
đốt ngón tay đều ngắn, rộng, với
đầu xương hình nón, đặc biệt là
đốt ngón xa. Các đốt bàn và ngón
chân cũng có đặc điểm tương
tự, đặc biệt là xương ngón cái to
hơn hẳn các ngón chân còn lại.
Không phát hiện hiện tượng liền
xương hoặc khuyết xương, xương
sọ, cột sống, chậu hông chưa
phát hiện bất thường.
Kết quả khám lâm sàng và
Xquang của em gái cũng phát
hiện nhiều đặc điểm tương tự
như chị gái. Bố và mẹ của hai trẻ
đều cao 158 cm (-1SD với nam,
+1SD với nữ).
Kết quả nghiên cứu đột biến
gen NPR2 bằng kỹ thuật PCR
và giải trình tự gen bằng Sanger
Sequencing cho thấy, hai bệnh
nhân mang đột biến đồng hợp tử
T>C tại vị trí nucleotide thứ 152
(c.152 T>C) thuộc exon 1 của gen
NPR2. Đây là đột biến sai nghĩa,
dẫn đến sự thay thế amino acid
thứ 51 từ Leucine thành Proline
(p.L51P). Bố, mẹ, bác (bên nội)
và bà nội mang đột biến dị hợp tử
Hình ảnh bàn chân, bàn tay bệnh nhân tham gia nghiên cứu.
66
Khoa học - Công nghệ và đổi mới sáng tạo
Soá 1+2 naêm 2020
về đột biến trên.
Sau khi đối chiếu với các ngân
hàng đột biến gen quốc tế như
Human Gene Mutation Database
(
LOVD - Human Variome Project
(https://www.lovd.nl/), ClinVar
- NCBI (https://www.ncbi.nlm.
nih.gov/clinvar/), chúng tôi nhận
thấy, c.152 T>C là một đột biến
mới, chưa từng được công bố.
Các công cụ phân tích đột biến
in silico đều xác nhận mức
độ gây bệnh cao của đột biến
c.152 T>C: Mutation Taster cho
kết quả “disease causing” (gây
bệnh) (
org/); Polyphen 2 đánh giá thang
điểm gây bệnh 0,975/1 (http://
genetics.bwh.harvard.edu/pph2);
kết quả đánh giá của công cụ
CADD là 23,8/40 (https://cadd.
gs.washington.edu/),2DANN
là20,9984/12(Varsome2the
Human Genomics Community).
Ứng dụng thành công phát hiện đột
biến mới trong chẩn đoán tiền làm tổ
Chẩn đoán tiền làm tổ (PGD)
là phương pháp cho phép các cặp
vợ chồng có nguy cơ sinh con
mang bệnh lý di truyền có thể
sinh con không mắc bệnh, dựa
vào việc phát hiện các bất thường
di truyền ở phôi (in-vitro) và chọn
lọc phôi không có bất thường di
truyền trước sinh chuyển phôi.
Nhờ đó, PGD không cần phụ
thuộc vào chẩn đoán trước sinh
khi đã mang thai và giảm khả
năng bỏ thai nếu phát hiện thai
bệnh lý.
Sử dụng kỹ thuật giải trình tự
gen NPR2 đã giúp xác định được
bố và mẹ bệnh nhân có kiểu gen
dị hợp tử về đột biến c.152 T>C.
Vì AMDM là bệnh lý di truyền lặn
trên nhiễm sắc thể thường nên
đối với cặp bố mẹ dị hợp tử, mỗi
lần mang thai, khả năng có con
mắc bệnh là 25%. Một số lựa
chọn sinh sản đối với cặp bố mẹ
bao gồm: mang thai tự nhiên với
xác suất con không bệnh là 75%;
thực hiện thăm dò trước sinh khi
đang mang thai để phát hiện thai
nhi bất thường (chọc dịch ối, sinh
thiết gai rau); hoặc chẩn đoán tiền
làm tổ. Cả hai phương án đầu tiên
đều gây khó khăn cho bà mẹ, do
người mẹ đều phải mang thai rồi
mới kiếm tra khả năng con mắc
bệnh hay không. Nếu con mắc
bệnh, việc đình chỉ thai nghén
(bằng nạo, hút thai) không chỉ ảnh
hưởng đến tinh thần và sức khỏe
sản phụ mà còn có thể làm giảm
khả năng thụ thai tiếp theo. Trong
khi đó, chẩn đoán tiền làm tổ đảm
bảo tỷ lệ cao bà mẹ không mang
thai bệnh lý do kết hợp giữa thụ
tinh nhân tạo và các kỹ thuật xét
nghiệm di truyền sàng lọc phôi
bệnh trước khi bà mẹ mang thai.
Ứng dụng kết quả nghiên cứu
vào chẩn đoán tiền làm tổ đã xác
định được 4 phôi đạt tiêu chuẩn
không mang đột biến nhiễm sắc
thể và đột biến gen NPR2. Sau
khi chọn lựa được phôi và được
sự tư vấn di truyền của các bác
sỹ, gia đình bệnh nhân đã quyết
định sinh tiếp. Tin mừng đã đến
với gia đình bệnh nhân vào cuối
năm 2019, khi người mẹ sinh bé
trai khỏe mạnh và chưa phát hiện
dấu hiệu bệnh lý AMDM ?
Hình 2. Kết quả giải trình tự gen NPR2. (A) của người bình thường, (B) của chị
gái, (C) của em gái.
Các file đính kèm theo tài liệu này:
phat_hien_dot_bien_moi_tren_gen_npr2_va_ung_dung_trong_chan.pdf