Về cơ chế, chính sách
Để các sản phẩm của công
nghệ vi sinh được sản xuất,
thương mại hóa, có chất lượng và
giá thành cạnh tranh được với các
sản phẩm cùng loại trên thế giới,
chúng tôi xin có một số kiến nghị
sau:
Một là, ngoài các công ty có
công nghệ được chuyển giao từ
nước ngoài, thiết bị tiên tiến, hiện
đại được Nhà nước và vốn nước
ngoài đầu tư (các doanh nghiệp
sản xuất vắc xin và sinh phẩm y
tế), 100% vốn nước ngoài (Công
ty TNHH Vedan, Ajimoto sản xuất
mì chính, lizine) và các doanh
nghiệp lớn trong ngành sữa, bia
rượu, chúng ta chưa có các doanh
nghiệp công nghệ sinh học lớn,
được đầu tư các hệ thống thiết bị
lên men (cả lên men chìm và lên
men bề mặt), thu hồi và tạo sản
phẩm hiện đại, đồng bộ. Do vậy
cần có chính sách khuyến khích
doanh nghiệp hoặc xây dựng một
số doanh nghiệp mạnh trong lĩnh
vực này, đặc biệt là các doanh
nghiệp khoa học và công nghệ
cần tăng tỷ lệ nội địa hoá, tiến tới
làm chủ hoàn toàn quy trình công
nghệ sản xuất. Khuyến khích và
hỗ trợ doanh nghiệp tiếp nhận
các công nghệ từ nghiên cứu và
cùng với cơ sở nghiên cứu tích
hợp, tối ưu, đưa công nghệ vào
ứng dụng. Nhà nước nên hỗ trợ
một phần kinh phí cho các doanh
nghiệp trong tiếp nhận công nghệ
của các nhà khoa học để sản
xuất, phát triển sản phẩm và đưa
các sản phẩm ra thị trường, vì ở
đây cần khoản đầu tư lớn, hàm
chứa nhiều rủi ro.
Hai là, sự đầu tư của Nhà
nước về cơ sở vật chất (thiết bị
nghiên cứu, sản xuất ở quy mô
pilot, sản xuất thử nghiệm) còn
hạn chế, chưa đồng bộ từ khâu
chuẩn bị, xử lý nguyên liệu đến
tạo sản phẩm, nên hiện nay các
sản phẩm nghiên cứu khó đi vào
thị trường vì ít hấp dẫn các nhà
đầu tư do chất lượng và giá cả
không cạnh tranh được với các
sản phẩm của nước ngoài. Trong
giai đoạn tới cần phải chú trọng
hơn trong đầu tư, tập trung hỗ trợ
cho các cơ sở nghiên cứu có tiềm
lực tốt về con người để nghiên
cứu, làm chủ các công nghệ cốt
lõi, đồng bộ trong quy trình sản
xuất, tiến tới chuyển giao cho các
doanh nghiệp áp dụng.
Ba là, hiện tại nguồn nhân lực
có trình độ cao (giỏi cả lý thuyết
và thực hành, cả công nghệ và
thiết bị) trong nghiên cứu, sản
xuất và phát triển các sản phẩm
công nghệ sinh học chất lượng
cao còn thiếu và yếu. Vì vậy,
trong đào tạo nguồn nhân lực
cần phải chú trọng đào tạo cả
năng lực nghiên cứu và năng lực
về công nghệ sản xuất, gắn liền
với khả năng kiểm soát được các
thiết bị nghiên cứu, sản xuất
4 trang |
Chia sẻ: hachi492 | Lượt xem: 2 | Lượt tải: 0
Bạn đang xem nội dung tài liệu Phát triển công nghệ vi sinh trong công nghiệp tại Việt Nam, để tải tài liệu về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
30
Khoa học - Công nghệ và đổi mới sáng tạo
Số 5 năm 2020
Ứng dụng và thương mại công nghệ
vi sinh trong công nghiệp ở Việt nam
Các sản phẩm công nghiệp vi
sinh được sản xuất từ các nhóm
vi sinh vật (VSV) như nấm men,
nấm mốc, vi khuẩn trong nhiều
thập kỷ qua đã đóng góp to lớn
vào sự tăng trưởng kinh tế và
phục vụ nhân loại. Đối với nước
ta, hiện nay Nhà nước đang rất
quan tâm đến lĩnh vực này, cụ
thể Thủ tướng Chính phủ đã ban
hành Quyết định số 553/QĐ-TTg
ngày 21/4/2017 phê duyệt Kế
hoạch tổng thể phát triển công
nghiệp sinh học đến năm 2030,
trong đó công nghệ vi sinh và
enzyme là hai lĩnh vực chủ chốt.
Trong lĩnh vực công nghiệp,
hầu hết các loại thực phẩm (rượu,
bia, nước giải khát, enzyme các
loại), mỹ phẩm và các sản
phẩm lên men truyền thống đều
trực tiếp hoặc gián tiếp liên quan
đến VSV. Từ nhiều thập kỷ trước,
nhiều cơ sở trong nước đã sử
Khoa họC - Công nghệ Và Đổi mới sáng tạo
PháT TRiển cônG nGhệ Vi Sinh
TRonG cônG nGhiệP Tại ViệT nam
Quản Lê Hà1, Ngô Đình Bính2, Nguyễn Đức Hoàng3, Lê Trọng Tài3, Tạ Việt Dũng3
1Viện công nghệ sinh học và công nghệ thực phẩm, Trường đại học Bách khoa hà nội
2Viện công nghệ sinh học, VaST
3cục Ứng dụng và Phát triển công nghệ, Bộ Kh&cn
Tiềm năng thị trường trong lĩnh vực vi sinh công nghiệp ở nước ta tương đối lớn và có sự khuyến
khích từ Nhà nước. Tuy nhiên công nghệ nội địa chưa đáp ứng được kỳ vọng về nguồn cầu trong
nước, mức độ sẵn sàng công nghệ của Việt Nam cho sản xuất và thương mại các sản phẩm vi sinh
công nghiệp còn rất hạn chế; trình độ, năng lực của các công nghệ thành phần còn yếu ở một số
công nghệ đóng vai trò quan trọng Do vậy, để phát triển công nghệ vi sinh trong công nghiệp tại
Việt Nam, bên cạnh những định hướng trước mắt và lâu dài, cần có những điều chỉnh về cơ chế,
chính sách.
Hình 1. Ứng dụng của công nghệ vi sinh trong công nghiệp tại Việt Nam. màu
xanh là ứng dụng/sản phẩm được sản xuất đại trà và thương mại tại Việt nam; màu
vàng là ứng dụng/sản phẩm ở giai đoạn thử nghiệm hoặc sản xuất nhỏ lẻ tại Việt
nam; màu đỏ là ứng dụng/sản phẩm đang ở giai đoạn nghiên cứu hoặc chưa có
tại Việt nam.
31
khoa học - công nghệ và đổi mới sáng tạo
Số 5 năm 2020
dụng các chủng VSV trong sản
xuất mì chính, axit citric, chao,
tương, xì dầu, nước chấm...
đáp ứng một phần đáng kể nhu
cầu sản xuất, tiêu dùng. Nhiều
chế phẩm enzyme (α-amylase,
glucoamylase, glucoizomerase,
protease...), các axit amin
(glutamin, lizin) cũng đã và đang
được nghiên cứu, ứng dụng trong
các ngành công nghiệp thực
phẩm và mỹ phẩm. Bên cạnh đó,
các chế phẩm VSV hay hoạt chất
từ VSV khác đã và đang được
ứng dụng trong các ngành công
nghiệp như dầu khí (làm tăng hiệu
suất khai thác dầu ở giếng khoan,
ức chế VSV gây ăn mòn thiết bị,
đường ống khai thác dầu), dệt,
sản xuất giấy Công nghệ vi sinh
là một lĩnh vực đang làm thay đổi
việc sản xuất theo công nghệ
truyền thống sang công nghệ
thân thiện với môi trường trong
nhiều ngành công nghiệp.
Một số nhánh ứng dụng quan
trọng của công nghệ vi sinh trong
công nghiệp bao gồm: sản xuất
thực phẩm, sản xuất enzyme và
protein, nhiên liệu sinh học, vật
liệu sinh học, axit và dung môi
hữu cơ, dược phẩm sinh học
(hình 1).
Có thể thấy, mức độ sẵn sàng
công nghệ trong nước cho sản
xuất và thương mại các sản phẩm
vi sinh trong công nghiệp ở Việt
Nam còn rất hạn chế. Các sản
phẩm chủ yếu ở lĩnh vực thực
phẩm và đồ uống, tuy nhiên ở
nhánh ứng dụng này công nghệ
trong nước chỉ làm chủ được
khoảng 60%. Các doanh nghiệp
nội địa tham gia vào lĩnh vực
này ở khâu sản xuất và thương
mại chưa có chủng giống công
nghiệp cũng như các công nghệ
liên quan đến chủng giống.
Hiện tại trong nước đang có
hơn 1.000 công ty hoạt động
trong lĩnh vực vi sinh công nghiệp
thuộc các nhóm ứng dụng: công
nghiệp dược, thực phẩm và đồ
uống, thực phẩm chức năng, axit
và dung môi hữu cơ, vật liệu sinh
học. Trong đó, chiếm tỷ trọng lớn
là các doanh nghiệp sản xuất
thực phẩm và đồ uống (chủ yếu là
đồ uống có cồn), hai lĩnh vực này
chiếm gần 50% số lượng doanh
nghiệp trong nước (hình 2). Các
doanh nghiệp trong nước hiện
nay chủ yếu tập trung vào sản
xuất dựa trên công nghệ ngoại
nhập và gia công, thương mại.
Tiềm năng thị trường trong lĩnh
vực vi sinh công nghiệp tương đối
lớn và có sự khuyến khích từ Nhà
nước, tuy nhiên công nghệ nội
địa chưa đáp ứng được kỳ vọng
về nguồn cầu trong nước.
năng lực công nghệ vi sinh trong
công nghiệp
Trong công nghệ vi sinh, các
công nghệ thành phần được chia
thành 4 công đoạn chính bao
gồm: bảo quản chủng giống; tạo
giống; lên men; thu hồi và tạo sản
phẩm. Hiện trạng năng lực công
nghệ của công nghệ vi sinh trong
lĩnh vực công nghiệp của nước ta
như sau:
Trong công nghệ bảo quản
chủng giống, hầu hết các công
nghệ thành phần Việt Nam đã
làm chủ. Trình độ công nghệ bảo
quản được đánh giá tiệm cận so
với thế giới (đạt 76,8%). Công
nghệ thành phần có vai trò quan
trọng nhất là bảo quản đông khô,
bảo quản trên thạch, bảo quản
lạnh sâu. Đây là 3 công nghệ
được sử dụng phổ biến và hiệu
quả trong nghiên cứu và sản xuất.
Đối với công nghệ tạo giống,
nhìn chung Việt Nam có năng lực
trung bình yếu so với thế giới (đạt
52%). Chủng giống tốt là yếu tố
đầu tiên và quyết định lớn đến
năng suất, chất lượng, khả năng
cạnh tranh của sản phẩm, nhưng
chủng giống tại Việt Nam chưa
đáp ứng được yêu cầu sản phẩm
chất lượng cao, chủ yếu được sử
dụng để sản xuất ở quy mô nhỏ
lẻ. Các chủng giống này thường
có nguồn gốc từ các đề tài nghiên
cứu, được tạo ra bởi công nghệ
tạo giống truyền thống bằng cách
phân lập và tuyển chọn - đây
cũng là phương pháp chọn tạo
giống phổ biến nhất trong nước
Hình 2. Số lượng các doanh nghiệp công nghệ vi sinh trong công nghiệp.
32
Khoa học - Công nghệ và đổi mới sáng tạo
Số 5 năm 2020
hiện nay. Do vậy, các doanh
nghiệp sản xuất thường sẽ mua
trực tiếp chủng giống ở nước
ngoài để sản xuất quy mô công
nghiệp (đa phần các chủng giống
công nghiệp tại Việt Nam là nhập
ngoại).
Đối với công nghệ lên men,
hầu hết các công nghệ thành
phần thường sẽ đi kèm với một
hệ thống thiết bị lên men chuyên
biệt cho từng loại đối tượng VSV,
sản phẩm. Năng lực công nghệ
lên men ở Việt Nam chỉ đạt 62,1%
so với thế giới. Doanh nghiệp
trong nước, đặc biệt là các doanh
nghiệp sản xuất đồ uống có cồn
đang làm rất tốt ở công đoạn này,
tuy nhiên công nghệ, dây chuyền
thiết bị được nhập ngoại hoàn
toàn.
Thu hồi và tạo sản phẩm là
công đoạn cuối cùng trước khi
đưa sản phẩm ra thương mại.
Trình độ năng lực công nghệ
trong nước ở công đoạn này bằng
74,6% so với thế giới. Tuy nhiên,
do hoạt động sản xuất trong nước
còn hạn chế, nên con số trên
không phản ánh mặt bằng chung
cho tất cả các nhóm ứng dụng,
mà chủ yếu thể hiện ở các ứng
dụng trong sản xuất thực phẩm
và đồ uống.
Qua các số liệu phân tích
về mức độ quan trọng và trình
độ năng lực của các công nghệ
thành phần, có thể thấy công
nghệ vi sinh trong công nghiệp ở
nước ta đang yếu ở một số công
nghệ đóng vai trò quan trọng.
Trong số các công nghệ thành
phần, 5 công nghệ có vai trò
quan trọng nhất theo thứ tự giảm
dần gồm: tạo chủng tái tổ hợp;
phân lập, phân loại VSV; lên men
chìm theo mẻ hiếu khí; bảo quản
lạnh sâu; kết tủa. Trong 5 công
nghệ này có 2 công nghệ có vai
trò quan trọng nhất thuộc về công
đoạn tạo chủng giống. Điều này
cho thấy, Việt Nam đang rất thiếu
các chủng giống công nghiệp.
Về tổng thể, trình độ công
nghệ vi sinh của Việt Nam không
quá thấp so với thế giới, tuy nhiên
do chưa tập trung nguồn lực,
chưa được đầu tư đồng bộ, dung
lượng thị trường chưa đủ lớn và
tính chuyên môn hóa trong cộng
đồng doanh nghiệp chưa cao,
nên hiện nay có tình trạng là các
doanh nghiệp hoặc không đủ kinh
phí đầu tư, hoặc sợ rủi ro trong
thu hồi vốn vì không đủ số lượng
đơn đặt hàng thường xuyên.
xu hướng công nghệ, ứng dụng VsV
trong lĩnh vực công nghiệp
Xu hướng công nghệ
Các công nghệ bảo quản
giống VSV hiện nay và trong
tương lai vẫn phải dùng chủ yếu
4 công nghệ, gồm đông khô, lạnh
sâu, Nitơ lỏng và trên thạch (cấy
truyền). Bảo quản giống bằng
Nitơ lỏng là xu hướng phát triển
trong tương lai vì có ưu điểm bảo
quản được tất cả các loài VSV,
hiệu quả bảo quản cao, phục hồi
và sử dụng chủng giống trong
bảo quản dễ dàng.
Công nghệ tạo giống ngày
càng trở nên quan trọng. Sự phát
triển của sinh học phân tử sẽ giúp
tạo ra các giống có năng suất
cao. Đặc biệt, việc ứng dụng công
nghệ chọn giống và tối ưu điều
kiện lên men với kỹ thuật thông
lượng cao (high - throughput
techniques) sẽ giúp rút ngắn
thời gian chọn chủng và nuôi cấy
tăng năng suất. Hiện nay, người
ta đang quan tâm sử dụng các kỹ
thuật mới (công nghệ tạo giống
tái tổ hợp, chỉnh sửa gen, đột
biến điểm...) nhằm tạo các chủng
giống VSV phục vụ sản xuất cho
chất lượng tốt, năng suất cao.
Các công nghệ và thiết bị
trong lên men đã và đang ở mức
kỹ thuật cao, hiện đại. Công nghệ
lên men phát triển mạnh vào
những năm 80. Hiện nay công
nghệ này chủ yếu tập trung vào
lên men các chủng tái tổ hợp và
nuôi cấy nồng độ tế bào cao hoặc
tối ưu lên men nhằm tạo ra các
hợp chất thứ cấp ở nồng độ cao,
từ đó tăng năng suất.
Công nghệ tinh sạch năng
suất cao được phát triển thông
qua việc sử dụng chất mang mới
trong sắc ký hấp phụ hay màng
có khả năng hấp phụ tốt hơn,
cho tốc độ dòng cao hơn. Công
nghệ thu hồi sản phẩm liên tục
đang ngày càng được sử dụng
phổ biến thay cho công nghệ thu
hồi theo mẻ nhằm rút ngắn thời
gian, tiết kiệm nhiên liệu, cho
hiệu quả thu hồi cao. Với các sản
phẩm sinh khối, các công nghệ
sấy thăng hoa, sấy phun, đặc biệt
là sấy phun tạo vi nang giúp tăng
thời gian bảo quản, giữ được các
đặc tính của sản phẩm trong quá
trình bảo quản và sử dụng.
Xu hướng sản phẩm
Trong sản xuất dược phẩm
sinh học, việc tìm ra các chất mới,
thuốc mới luôn được quan tâm,
hoặc sản xuất các dược chất có
nguồn gốc từ động vật, thực vật
nhằm chủ động nguồn nguyên
liệu sản xuất thuốc.
Năng lượng đang là một vấn
đề lớn của nhân loại, việc sử dụng
các nguồn năng lượng xanh, bền
vững, trong đó có năng lượng
sinh học đang ngày càng được
quan tâm. Trong sản xuất nhiên
liệu sinh học, hướng tiếp theo là
33
khoa học - công nghệ và đổi mới sáng tạo
Số 5 năm 2020
tiến tới sản xuất các loại nhiên
liệu thế hệ 2 (từ nguyên liệu là
phế phụ phẩm nông nghiệp), thế
hệ 3 (từ tảo, vi tảo).
Trong lĩnh vực thực phẩm và
đồ uống, xu thế sẽ tập trung vào
sản xuất các sản phẩm tốt cho
sức khỏe con người nhưng vẫn
giữ nguyên các tính chất mùi, vị
phù hợp thị hiếu ẩm thực (thực
phẩm và đồ uống chức năng) và
xu hướng chung. Ví dụ: sữa chua
có bổ sung probiotics, tăng sức
đề kháng, bia không cồn, nước
gạo lên men
Một số đề xuất
Phát triển công nghệ
Trong thời gian tới, chúng ta
nên chú trọng vào công nghệ di
truyền và chọn giống nhằm tạo
ra các chủng giống công nghiệp
ứng dụng vào sản xuất các chủng
VSV khác nhau để tăng hiệu suất
quá trình lên men và tạo hương vị
đặc trưng cho từng sản phẩm thực
phẩm hợp khẩu vị người tiêu dùng
hay tăng giá trị cảm quan cho sản
phẩm; công nghệ tạo chất màu,
chất béo và phụ gia thực phẩm
bằng lên men từ chủng VSV
tuyển chọn được và tác động di
truyền; công nghệ tạo chiết xuất
nấm men và tảo để có hỗn hợp
các chất dinh dưỡng phong phú
thay thế nguồn động, thực vật để
bổ sung vào các sản phẩm thực
phẩm cần đủ các thành phần như
protein, vitamin, khoáng chất và
chất kích thích sinh học.
Phát triển sản phẩm
Công nghệ vi sinh là công
nghệ tương đối lâu đời trong công
nghệ sinh học, những ứng dụng
của nó trong đời sống là không
thể phủ nhận (đồ uống, sữa chua,
sản xuất mì chính, các sản phẩm
thực phẩm truyền thống sử dụng
lên men). Tuy nhiên, xu hướng
phát triển mới trên thế giới hiện
nay chủ yếu tập trung tạo những
sản phẩm ứng dụng trong y dược,
chăm sóc sức khỏe con người và
vật nuôi, bên cạnh đó vấn đề an
toàn môi trường sinh thái cũng
được quan tâm. Một số hướng
cần ưu tiên phát triển là: sản xuất
kháng sinh, hoạt chất sinh học,
sản xuất các axit hữu cơ ứng dụng
nhiều như citric, lactic, acetic...
Về cơ chế, chính sách
Để các sản phẩm của công
nghệ vi sinh được sản xuất,
thương mại hóa, có chất lượng và
giá thành cạnh tranh được với các
sản phẩm cùng loại trên thế giới,
chúng tôi xin có một số kiến nghị
sau:
Một là, ngoài các công ty có
công nghệ được chuyển giao từ
nước ngoài, thiết bị tiên tiến, hiện
đại được Nhà nước và vốn nước
ngoài đầu tư (các doanh nghiệp
sản xuất vắc xin và sinh phẩm y
tế), 100% vốn nước ngoài (Công
ty TNHH Vedan, Ajimoto sản xuất
mì chính, lizine) và các doanh
nghiệp lớn trong ngành sữa, bia
rượu, chúng ta chưa có các doanh
nghiệp công nghệ sinh học lớn,
được đầu tư các hệ thống thiết bị
lên men (cả lên men chìm và lên
men bề mặt), thu hồi và tạo sản
phẩm hiện đại, đồng bộ. Do vậy
cần có chính sách khuyến khích
doanh nghiệp hoặc xây dựng một
số doanh nghiệp mạnh trong lĩnh
vực này, đặc biệt là các doanh
nghiệp khoa học và công nghệ
cần tăng tỷ lệ nội địa hoá, tiến tới
làm chủ hoàn toàn quy trình công
nghệ sản xuất. Khuyến khích và
hỗ trợ doanh nghiệp tiếp nhận
các công nghệ từ nghiên cứu và
cùng với cơ sở nghiên cứu tích
hợp, tối ưu, đưa công nghệ vào
ứng dụng. Nhà nước nên hỗ trợ
một phần kinh phí cho các doanh
nghiệp trong tiếp nhận công nghệ
của các nhà khoa học để sản
xuất, phát triển sản phẩm và đưa
các sản phẩm ra thị trường, vì ở
đây cần khoản đầu tư lớn, hàm
chứa nhiều rủi ro.
Hai là, sự đầu tư của Nhà
nước về cơ sở vật chất (thiết bị
nghiên cứu, sản xuất ở quy mô
pilot, sản xuất thử nghiệm) còn
hạn chế, chưa đồng bộ từ khâu
chuẩn bị, xử lý nguyên liệu đến
tạo sản phẩm, nên hiện nay các
sản phẩm nghiên cứu khó đi vào
thị trường vì ít hấp dẫn các nhà
đầu tư do chất lượng và giá cả
không cạnh tranh được với các
sản phẩm của nước ngoài. Trong
giai đoạn tới cần phải chú trọng
hơn trong đầu tư, tập trung hỗ trợ
cho các cơ sở nghiên cứu có tiềm
lực tốt về con người để nghiên
cứu, làm chủ các công nghệ cốt
lõi, đồng bộ trong quy trình sản
xuất, tiến tới chuyển giao cho các
doanh nghiệp áp dụng.
Ba là, hiện tại nguồn nhân lực
có trình độ cao (giỏi cả lý thuyết
và thực hành, cả công nghệ và
thiết bị) trong nghiên cứu, sản
xuất và phát triển các sản phẩm
công nghệ sinh học chất lượng
cao còn thiếu và yếu. Vì vậy,
trong đào tạo nguồn nhân lực
cần phải chú trọng đào tạo cả
năng lực nghiên cứu và năng lực
về công nghệ sản xuất, gắn liền
với khả năng kiểm soát được các
thiết bị nghiên cứu, sản xuất ?
Các file đính kèm theo tài liệu này:
phat_trien_cong_nghe_vi_sinh_trong_cong_nghiep_tai_viet_nam.pdf