Thứ ba, triển khai áp dụng các tiến bộ
kỹ thuật trong sản xuất để nâng cao chất
lượng sản phẩm, giảm lượng chất thải. Tổ
chức các lớp đào tạo, trình diễn thử nghiệm
áp dụng sản xuất sạch hơn cho các chủ cơ
sở sản xuất tại làng nghề. Đối với các lò
đúc, cán, ủ kim loại, cần xây dựng hệ thống
xử lý bụi và khí SO2 bằng tháp rửa, dùng
dung dịch nước vôi, quy định các bãi tập kết
xỉ than, xỉ kim loại để sử dụng làm vật liệu
san nền. Đối với những xưởng mạ kẽm cần
xây dựng hệ thống bể xử lý nước thải đơn
giản, các thùng chứa a-xít, hóa chất mạ phải
được bảo quản đúng quy định, xử lý nước
thải mạ theo phương pháp kết tủa, huyền
phù sau đó lắng và lọc bùn.
Thứ tư, khuyến khích các doanh nghiệp
áp dụng các giải pháp sản xuất sạch hơn để
vừa giảm lượng phát thải vừa mang lại hiệu
quả kinh tế cho doanh nghiệp. Cho vay ưu
đãi với lãi suất thấp đối với các chủ doanh
nghiệp áp dụng công nghệ và thiết bị tiên
tiến tạo ít chất thải. Khuyến khích các cơ sở
sản xuất xử lý nước thải, khí thải, quản lý
môi trường bằng cho vay ưu đãi hoặc giảm
thuế. Đa dạng hóa các nguồn đầu tư và
khuyến khích sự tham gia của cộng đồng
trong bảo vệ môi trường làng nghề.
Thứ năm,tăng cường tuyên truyền, giáo
dục nâng cao ý thức và trách nhiệm bảo vệ
môi trường và sức khỏe cộng đồng cho các
chủ doanh nghiệp, người lao động và cộng
đồng dân cư, kết hợp với thanh tra xử phạt
thích đáng đối với những trường hợp vi phạm
các quy định về môi trường. Nâng cao chất
lượng nguồn nhân lực trong làng nghề với
việc chú trọng mô hình dạy nghề gắn với giải
quyết việc làm và tiêu thụ sản phẩm làng
nghề./.
7 trang |
Chia sẻ: hachi492 | Lượt xem: 6 | Lượt tải: 0
Bạn đang xem nội dung tài liệu Phát triển làng nghề tái chế kim loại đa hội theo hướng phát triển bền vững, để tải tài liệu về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
Nghiªn cøu, trao ®æi Khoa häc Lao ®éng vµ X· héi - Sè 39/Quý II- 2014
89
- Tuyên truyền về lợi ích của chuyển
đổi các mô hình sản xuất để người dân hiểu
rõ và tự nguyện chuyển đổi.
- Đào tạo nâng cao trình độ quản lý
của các cán bộ địa phương và trình độ học
vấn cho người nông dân.
Kết luận
Nhận thức được tính chất tiềm tàng, tác
động lâu dài và trên diện rộng của biến đổi
khí hậu, Trà Vinh cũng đã xây dựng “Kế
hoạch hành động ứng phó với BĐKH” và
đang hướng tới các chính sách dài hạn trong
việc giảm nhẹ biến đổi khí hậu, chú trọng
lồng ghép các giải pháp ứng phó với biến
đổi khí hậu vào chiến lược, kế hoạch và các
chính sách phát triển kinh tế - xã hội của
ngành và địa phương. Nếu mỗi địa phương
đều hoàn thành tốt mục tiêu thích ứng với
BĐKH của mình, hình thành mạng lưới liên
kết rộng lớn, chặt chẽ hỗ trợ lẫn nhau cùng
ứng phó với Biến đổi khí hậu, những nguy
cơ tiềm ẩn của Biến đổi khí hậu tới ảnh
hưởng tới sinh mạng của người dân sẽ được
giảm thiểu, môi trường sống và sinh kế của
con người sẽ được đảm bảo.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Ngô Thị Phương Lan, sinh kế, biến
đổi sinh thái và sự thích nghi của con người
ở vùng ĐBSCL trong quá trình chuyển dịch
từ trồng lúa sang nuôi tôm thương mại.
2. Viện Xã hội học Việt Nam, Báo cáo
đánh giá tác động xã hội (SIA) cho Dự án
quản lý thủy lợi phục vụ phát triển nông thôn
vùng ĐBSCL.
3. travinh.gov.vn
4. Huỳnh Văn Hiền và Lê Xuân Sinh,
Phân phối lợi ích và chi phí trong chuỗi giá
trị nghêu trắng ở tỉnh Trà Vinh.
5. Trần Tiến Khai và Nguyễn Ngọc
Danh, Quan hệ giữa sinh kế và tình trạng
nghèo ở nông thôn Việt Nam.
6. Viện Kinh tế Việt Nam, Sự tham gia
của cộng đồng ngư dân nghèo trong xác định
nguồn lực và nhu cầu đầu tư phát triển thủy
sản.
PHÁT TRIỂN LÀNG NGHỀ TÁI CHẾ KIM LOẠI ĐA HỘI9THEO
HƯỚNG PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG
ThS. Cao Thị Minh Hữu
Viện Khoa học Lao động và Xã hội
9 Thuộc Phường Châu Khê, tỉnh Bắc Ninh
Nghiªn cøu, trao ®æi Khoa häc Lao ®éng vµ X· héi - Sè 39/Quý II- 2014
90
Tóm tắt: Sự phát triển của làng nghề tái chế kim loại Đa Hội, phường Châu Khê, tỉnh Bắc
Ninh trong những năm gần đây đã góp phần quan trọng vào tăng trưởng kinh tế, giải quyết công
ăn việc làm cho người lao động, xóa đói giảm nghèo, bảo đảm an sinh xã hội của địa phương.
Cùng với những thành tựu, kết quả về kinh tế và xã hội đã đạt được thì môi trường làng nghề bị ô
nhiễm nặng nghề, ảnh hưởng đến sức khỏe của người lao động và cộng đồng dân cư. Phát triển là
cần thiết, tuy nhiên phát triển bền vững cũng là quan điểm cơ bản của Đảng đối với mọi sự phát
triển ở nước ta, trong đó có làng nghề. Do vậy để làng nghề tái chế kim loại Đa Hội phát triển theo
hướng bền vững cần thực hiện một số các biện pháp quản lý và kỹ thuật phù hợp để bảo vệ và cải
thiện môi trường, giảm thiểu tác động môi trường trong khu vực làng nghề một cách có hiệu quả.
Từ khóa: Phát triển bền vững, làng nghề, Đa Hội, ô nhiễm môi trường.
Từ viết tắt: Người lao động (NLĐ), kinh tế xã hội (KTXH), môi trường (MT), làng nghề (LN).
Abstract: In recent years, the development of Da Hoi metal recycling village in Chau Khe
ward, Bac Ninh province has significantly contributed to economic growth, employment creation,
poverty reduction, ensuring local social security. Along with the achievements in social –
economic, environment in the traditional occupation village has been heavily polluted, affecting
worker’s health and community. Development is necessary, but sustainable development is also
basic point of the Party to every kind of developments in our country. Hence, some reasonable
managements and technical measures that protect and improve environment, limit effectively the
impact of environment are needed to be done in order to lead Da Hoi metal recycling village
towards sustainable development.
Keywords: Sustainable development, traditional occupation village, Da Hoi, environmental
pollution
Trong những năm gần đây, sự khôi
phục và phát triển của các làng nghề sản
xuất, tái chế kim loại đã tạo nên những
chuyển biến tích cực trong sự phát triển
kinh tế xã hội (KTXH) của các địa phương,
giải quyết việc làm cho hàng vạn lao động
phổ thông, góp phần nâng cao chất lượng
cuộc sống của cộng đồng. Phát triển làng
nghề góp phần quan trọng vào tăng trưởng
kinh tế và chuyển dịch cơ cấu kinh tế ở
nông thôn, nhất là cơ cấu lao động. Phát
triển làng nghề là một hướng đi phù hợp
nhằm giảm căng thẳng về tình trạng di cư ồ
ạt vào các thành phố lớn tìm việc làm, giải
quyết lao động dôi dư trong nông nghiệp,
trên cơ sở thực hiện: “Rời ruộng - không rời
làng”.
Nằm trên địa bàn phường Châu Khê,
thị xã Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh, Đa Hội là một
trong những làng nghề có tiếng trên cả nước
về sản xuất sắt thép với gần 1.000 doanh
nghiệp hoạt động, chủ yếu ở quy mô nhỏ và
siêu nhỏ. Các sản phẩm của làng nghề rất
đa dạng: phôi đúc 200.000 tấn/năm, sắt thép
cán 170.000 tấn/năm, đinh các loại 1.300
tấn/năm, lưới và dây thép các loại 1.100
Nghiªn cøu, trao ®æi Khoa häc Lao ®éng vµ X· héi - Sè 39/Quý II- 2014
91
tấn/năm10. Nguyên liệu đầu vào của làng
nghề chủ yếu là sắt phế liệu được thu gom
từ nhiều nguồn khác nhau trên toàn quốc,
một số nhập từ Nhật Bản qua cảng Hải
Phòng. Để làm ra các sản phẩm trên cần
lượng nước khoảng 18.000 m3/ngày; lượng
than, củi khoảng 40.000 tấn.
1. Vai trò của sự phát triển làng nghề
Làng nghề Đa Hội phát triển đã góp
phần phát triển kinh tế xã hôi ở địa phương,
thể hiện trên các mặt sau:
Thứ nhất, làm tăng giá trị sản xuât và
tăng thu ngân sách.
Đa Hội là một trong những làng nghề
đóng góp cao vào ngân sách địa phương,
góp phần không nhỏ vào tổng giá trị sản
xuất và tốc độ tăng trưởng kinh tế của Bắc
Ninh. Giá trị sản xuất của làng nghề Đa
Hội, Châu Khê liên tục tăng qua các năm,
với tốc độ tăng trưởng bình quân 5 năm từ
2005-2010 là 32,5%. Năm 2012, tổng gía
trị sản xuất của làng nghề là 441.273 triệu
đồng. Đóng góp ngân sách cũng tăng theo
mức tăng của giá trị sản xuất. Năm 2005,
làng nghề Đa Hội có tổng số thuế nộp ngân
sách là 5.892 triệu đồng, đến năm 2012 đã
lên đến 7.325 triệu đồng11.
Thứ hai,góp phần đẩy mạnh chuyển
dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp
hóa, hiện đại hóa đất nước.
Theo quá trình vận động và phát triển,
làng nghề đã có vai trò tích cực trong việc
10 Báo cáo phát triển kinh tế xã hội năm 2012, UBND
phường Châu Khê
góp phần tăng tỷ trọng công nghiệp, tiểu thủ
công nghiệp và dịch vụ, thu hẹp tỷ trọng của
nông nghiệp, chuyển lao động từ sản xuất
nông nghiệp có thu nhập thấp sang ngành
phi nông nghiệp có thu nhập cao hơn. Tỷ
trọng công nghiệp và dịch vụ của địa
phương chiếm 70-80% và xu hướng này
ngày một gia tăng khi làng nghề ngày càng
phát triển.
Thứ ba, góp phần tạo công ăn việc làm
và tăng thu nhập cho người lao động (NLĐ)
ở nông thôn.
Khả năng giải quyết việc làm của các
doanh nghiệp làng nghề cho lao động nông
thôn là rất lớn. Hiện nay, tại doanh nghiệp
hộ gia đình làng nghề Đa hội có 4 -5 lao
động thường xuyên và 1-2 lao động thời vụ,
các doanh nghiệp hoạt động theo luật doanh
nghiệp có quy mô lớn với số lao động bình
quân 10 -12 thường xuyên và 3-4 lao động
thời vụ. Làng nghề không chỉ thu hút lao
động trong làng mà có khả năng thu hút lao
động ở các làng lân cận. Số lao động thường
xuyên trong khu vực này khoảng 5.000 đến
7.000 người, trong đó lao động ở các nơi
khác đến làm thuê chiếm trên 80%.
Từ chỗ có việc làm ổn định thì thu nhập
của NLĐ cũng được cải thiện rõ rệt. Nơi
nào có làng nghề phát triển thì nơi đó NLĐ
có thu nhập cao và mức sống cao hơn ở
những vùng khác. Nếu so sánh mức thu
nhập thì lao động làng nghề cao hơn 4-5 lần
lao động thuần nông. Thu nhập bình quân
11 Báo cáo phát triển kinh tế xã hội hàng năm của
UBND phường Châu Khê, Từ Sơn, Bắc Ninh.
Nghiªn cøu, trao ®æi Khoa häc Lao ®éng vµ X· héi - Sè 39/Quý II- 2014
92
của người lao động trong làng nghề khoảng
4,0 - 7,0 triệu đồng/tháng, các ông chủ
doanh nghiệp thì có khi lên đến vài trăm
triệu/tháng
Thứ tư, góp phần xây dựng cuộc sống
nông thôn mới và giải quyết các vấn đề xã
hội phức tạp.
Cùng với sự phát triển kinh tế của làng
nghề là sự thay đổi chóng mặt của bộ mặt
nông thôn ngày nay. Hạ tầng cơ sở kỹ thuật
của làng nghề như đường xá, cầu cống đã
được bê tông hóa. 100% các hộ gia đình tại
làng nghề đã có nước sạch để sử dụng, các
phương tiện truyền thông đã được phủ sóng
với nhà cửa khang trang, đời sống của người
dân ngày càng văn minh, hiện đại, chất lượng
cuộc sống được cải thiện rõ rệt. Bên cạnh đó,
do có công việc ổn định với mức thu nhập khá
nên các tệ nạn xã hội như trộm cắp, cờ bạc,
rượu chè, nghiện hút,.. đã giảm đáng kể.
2. Làng nghề trước vấn đề ô nhiễm
môi trường và sức khỏe cộng đồng
Ngoài những đóng góp cho sự phát triển
kinh tế xã hội thì sự phát triển của làng nghề
cũng gây ô nhiễm môi trường và ảnh hưởng
đến sức khỏe của người lao động và cộng
đồng dân cư nghiêm trọng.
Tại làng nghề Đa Hội, lượng chất thải
rắn bao gồm xỉ than, kim loại vụn và phế
liệu từ công đoạn phân loại chiếm khoảng
11 tấn/ ngày với hàm lượng kim loại rất cao
(từ 3-5g/kg nguyên liệu). Bên cạnh đó, chất
thải rắn còn chứa dầu mỡ, các chất khoáng
với hàm lượng dao động từ 1-6mg/kg
nguyên liệu. Lượng chất độc này dễ ngấm
vào đất, tích tụ lâu dần sẽ làm suy thoái môi
trường đất.
Nước thải ở đây có nhiệt độ cao, đặc
biệt là tại xưởng cán, kéo, nhiệt độ lên tới
500độC, vượt tiêu chuẩn cho phép (TCCP)
120độC. Nước thải của phân xưởng mạ có
nhiều thành phần gây ô nhiễm nhất. Giá trị
PH thấp hơn TCCP, còn các thông số khác
như COD, SS, hàm lượng các kim loại như
Fe, Zn, Ni... lớn hơn TCCP nhiều lần. Nước
thải từ các phân xưởng cán kéo và phân
xưởng đúc có độ màu lớn, chứa nhiều chất
lơ lửng, nồng độ Fe cao vượt tiêu chuẩn từ
1,6 đến 11,1 lần. Tại cống nước thải của
cụm công nghiệp sản xuất thép Châu Khê
nước thải cũng bị ô nhiễm chính bởi các
thông số như độ màu vượt tiêu chuẩn 3,3
lần, SS vượt tiêu chuẩn 1,06 lần, COD vượt
tiêu chuẩn 5,57 lần, Fe vượt tiêu chuẩn 2,36
lần.
Nước mặt và nước sông Ngũ Huyện
Khê tại khu vực làng nghề có hàm lượng
chất rắn lơ lửng cao, SS vượt tiêu chuẩn 1
– 3,4 lần. Hàm lượng oxy hòa tan trong nước
tại cống thải chung của làng nghề thấp, thấp
hơn 5 lần TCCP. Dầu mỡ trong nước sông
khá cao, vượt tiêu chuẩn 1,3 – 2,2 lần. Ngoài
ra, hàm lượng các ion kim loại như Fe, Zn,
Cu... theo dòng thải lắng xuống trầm tích đáy
sông vượt tiêu chuẩn cho phép nhiều lần.
Nước ngầm tại khu vực làng nghề có
độ màu vượt tiêu chuẩn 2,8 lần, nồng độ Fe
vượt tiêu chuẩn 1,92 lần. Môi trường không
khí, tại khu vực ít có hoạt động sản xuất và
khu vực sinh hoạt như chợ, trạm y tế vượt
tiêu chuẩn trung bình 1 giờ từ 1,1 – 1,2 lần;
Nghiªn cøu, trao ®æi Khoa häc Lao ®éng vµ X· héi - Sè 39/Quý II- 2014
93
tại khu vực dân cư có tác động của hoạt động
sản xuất hàm lượng bụi vượt tiêu chuẩn
trung bình 1 giờ từ 1,6 – 2,3 lần; trong khu
vực dân cư sinh sống, nồng độ CO2, SO2
vượt tiêu chuẩn trung bình 1 giờ từ 1,05 –
1,68 lần.
An toàn và sức khoẻ của nguời lao
động trong làng nghề không được đảm bảo.
Số giờ làm việc liên tục trung bình mỗi
ngày 8 - 10 giờ trong điều kiện diện tích làm
việc chật hẹp, ít sử dụng phương tiện bảo
vệ cá nhân, môi trường lao động bị ô nhiễm
cao. Có đến 81,7% NLĐ phải làm việc
trong môi trường ồn quá mức; 71,9% NLĐ
phải làm việc trong môi trường quá nhiều
bụi. 84,1% NLĐ thường xuyên tiếp xúc với
các chất độc hại, cao nhất ở nghề cán
(91,4%), nghề đúc (90,5%). Trong các nhà
xưởng không có sự chuẩn bị nào cho an
toàn cháy nổ, mặc dù ở khắp làng đều tiềm
tàng những nguy cơ gây cháy nổ do điện,
lò, hoá chất, xăng, dầu v.v.... Trong các nhà
mạ kẽm, các loại hoá chất độc hại (axit,
muối synanua,...) không được bảo quản
đúng quy định.
Tất cả các yếu tố trên tác động trực tiếp
và thường xuyên tới NLĐ và dân cư trong
làng nghề. Các loại bệnh thần kinh, đường
hô hấp, ngoài da, khô mắt, điếc,... có tỷ lệ
mắc bệnh cao, trên 60% tổng số dân cư
trong khu vực làng nghề bị mắc phải. Trong
số các bệnh mắc phải, khoảng 35% mắc các
bệnh về hô hấp và da, các bệnh về mắt, về
thính giác và bệnh xoang cũng chiếm tỷ lệ
cao, khoảng 25%, và tỷ lệ phụ nữ mang thai
lần đầu bị xảy thai cao nhất trên 40%. Tai
nạn lao động xảy ra hàng ngày (nổ lò, điện
giật, bị thương, có trường hợp chết người).
Ở các lò nấu thép, xưởng mạ, sau thời gian
làm việc lâu nhất là 15 năm, NLĐ buộc phải
bỏ việc vì không đủ sức khoẻ để lao động.
3. Giải pháp phát triển làng nghề
bền vững
“Phát triển bền vững là sự phát
triển có thể đáp ứng được những nhu cầu
hiện tại mà không ảnh hưởng, tổn hại
đến những khả năng đáp ứng nhu cầu của
các thế hệ tương lai”. Đó là sự kết hợp hài
hoà giữa các yếu tố kinh tế, xã hội và môi
trường. Đây là chiến lược phát triển của
mọi quốc gia trên thế giới hiện nay. Đại
hội Đảng toàn quốc lần thứ XI (1/2011)
đã xác định chiến lược phát triển kinh tế
- xã hội 2011 – 2020, theo đó quan điểm:
“Phát triển nhanh gắn liền với phát triển
bền vững, phát triển bền vững là yêu
cầu xuyên suốt trong chiến lược”. Phát
triển bền vững là quan điểm cơ bản của
Đảng đối với mọi sự phát triển ở nước ta,
trong đó có làng nghề. Làng nghề cần thực
hiện nhiệm vụ bảo vệ môi trường theo
hướng phát triển bền vững, đóng góp vào
sự phát triển kinh tế, tạo công ăn việc làm,
góp phần xóa đói, giảm nghèo, bảo đảm an
sinh xã hội. Để thực hiện được mục tiêu đó,
cần áp dụng một số giải pháp sau:
Thứ nhất, chú trọng các chính sách
phát triển bền vững làng nghề. Sản xuất
kinh doanh phải chú ý cải thiện và bảo vệ
môi trường, không hy sinh lợi ích môi
trường cho lợi ích kinh tế trước mắt.
Nghiªn cøu, trao ®æi Khoa häc Lao ®éng vµ X· héi - Sè 39/Quý II- 2014
94
- Xây dựng các quy định về bảo vệ môi
trường đối với làng nghề, trong đó có yêu cầu
bảo đảm môi trường không bị ô nhiễm dưới
dạng các quy định, cam kết BVMT. Giám sát
chặt chẽ việc thực hiện các quy định về
BVMT trong cam kết BVMT của các doanh
nghiệp trong làng nghề.
- Tăng cường giám sát các khu/cụm
công nghiệp làng nghề hiện có và mới thành
lập, yêu cầu các khu/cụm công nghiệp phải
có hệ thống xử lý chất thải tập trung, hệ
thống quản lý môi trường của khu/cụm
công nghiệp làng nghề.
- Tăng cường giám sát môi trường lao
động đối với doanh nghiệp mở rộng sản
xuất, yêu cầu các doanh nghiệp này thực
hện cam kết BVMT để đảm bảo các đầu tư
này theo hướng công nghệ thân thiện với
môi trường.
Thứ hai, quy hoạch không gian làng
nghề gắn với bảo vệ môi trường. Quy họach
lại cụm Công nghiệp làng nghề Đa hội với
việc xử lý chất thải tập trung và tiếp tục xây
dựng cụm công nghiệp mới tại làng nghề
Đa Hội để di dời các doanh nghiệp gây ô
nhiễm môi trường nặng ra khỏi khu dân cư.
Cụm công nghiệp mới được quy hoạch tập
trung cần tránh xa khu dân cư, đồng bộ mặt
bằng sản xuất và kết cấu hạ tầng như đường
giao thông, hệ thống cung cấp điện, nước,
hệ thống thông tin, thu gom và xử lý nước
thải, chất thải rắn để xử lý tập trung.
Thứ ba, triển khai áp dụng các tiến bộ
kỹ thuật trong sản xuất để nâng cao chất
lượng sản phẩm, giảm lượng chất thải. Tổ
chức các lớp đào tạo, trình diễn thử nghiệm
áp dụng sản xuất sạch hơn cho các chủ cơ
sở sản xuất tại làng nghề. Đối với các lò
đúc, cán, ủ kim loại, cần xây dựng hệ thống
xử lý bụi và khí SO2 bằng tháp rửa, dùng
dung dịch nước vôi, quy định các bãi tập kết
xỉ than, xỉ kim loại để sử dụng làm vật liệu
san nền. Đối với những xưởng mạ kẽm cần
xây dựng hệ thống bể xử lý nước thải đơn
giản, các thùng chứa a-xít, hóa chất mạ phải
được bảo quản đúng quy định, xử lý nước
thải mạ theo phương pháp kết tủa, huyền
phù sau đó lắng và lọc bùn.
Thứ tư, khuyến khích các doanh nghiệp
áp dụng các giải pháp sản xuất sạch hơn để
vừa giảm lượng phát thải vừa mang lại hiệu
quả kinh tế cho doanh nghiệp. Cho vay ưu
đãi với lãi suất thấp đối với các chủ doanh
nghiệp áp dụng công nghệ và thiết bị tiên
tiến tạo ít chất thải. Khuyến khích các cơ sở
sản xuất xử lý nước thải, khí thải, quản lý
môi trường bằng cho vay ưu đãi hoặc giảm
thuế. Đa dạng hóa các nguồn đầu tư và
khuyến khích sự tham gia của cộng đồng
trong bảo vệ môi trường làng nghề.
Thứ năm,tăng cường tuyên truyền, giáo
dục nâng cao ý thức và trách nhiệm bảo vệ
môi trường và sức khỏe cộng đồng cho các
chủ doanh nghiệp, người lao động và cộng
đồng dân cư, kết hợp với thanh tra xử phạt
thích đáng đối với những trường hợp vi phạm
các quy định về môi trường. Nâng cao chất
lượng nguồn nhân lực trong làng nghề với
việc chú trọng mô hình dạy nghề gắn với giải
quyết việc làm và tiêu thụ sản phẩm làng
nghề./.
Nghiªn cøu, trao ®æi Khoa häc Lao ®éng vµ X· héi - Sè 39/Quý II- 2014
95
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Trần Anh Phương (2008), Phát triển
bền vững ở Việt Nam: Thực trạng và vấn đề
đặt ra. Tạp chí cộng sản số 6/2008.
2. Nguyễn Trung Chánh (2010), Phát
triển làng nghề Bắc Ninh theo hướng bền
vững”. Tạp chí cộng sản số 7/2010.
3. Cao Thị Minh Hữu (2010), Đánh giá
ảnh hưởng của môi trường lao động đến hoạt
động của các doanh nghiệp tái chế kim loại –
trường hợp các doanh nghiệp làng nghề Đa
Hội, Châu Khê, Từ Sơn, Bắc Ninh. Luận văn
thạc sỹ kinh tế, trường ĐHKTQD Hà nội.
4. UBND phường Châu Khê, Báo cáo
phát triển kinh tế xã hội năm 2005, 2010 và
năm 2012.
5. UBND tỉnh Bắc Ninh (2013), Đề án
tổng thể Bảo vệ môi trường làng nghề đến
năm 2020 và định hướng đến năm 2030 của
tỉnh Bắc Ninh.
Các file đính kèm theo tài liệu này:
phat_trien_lang_nghe_tai_che_kim_loai_da_hoi_theo_huong_phat.pdf