Để đánh giá kết quả thu được từ quá trình giám sát,
chúng tôi sử dụng một số phần mềm tiên tiến nhất là
Pix4Dmapper, Pix4Dfields. Đây là các phần mềm thương
mại được đánh giá cao, mỗi phần mềm được thiết kế có ưu
nhược điểm riêng. Các phần mềm này cùng được thực thi
trên máy trạm với CPU Intel Xeon 2620v4 2.2GHz dùng hệ
điều hành Windows 10. Để các đánh giá được khách quan,
chúng tôi còn bổ sung thêm một số bộ dữ liệu mở được
thu thập từ UAV dạng máy bay cánh bằng.
Bảng 1 cho thấy Pix4Dmapper mặc dù cho chất lượng
bản đồ chính xác nhất hiện nay tuy nhiên cũng tiêu tốn
nhiều thời gian tính toán, so với Pix4Dfields chênh lệch
khoảng 10 lần. Chất lượng bản đồ của Pix4Dfields trong
hình 8 có một số điểm không tốt bằng Pix4Dmapper, nguyên nhân là camera chụp bị nghiêng do ảnh hưởng của
gió giật và UAV không được trang bị chống rung.
Từ dữ liệu bản đồ chụp bởi camera đa phổ, chúng tôi sử
dụng hai chỉ số phổ biến để đánh giá sinh trưởng cây trồng
là NDVI và NDRE [1]. Chỉ số NDVI được đánh giá dựa trên
tương phản của bức xạ phổ hồng ngoại (NIR) với phổ màu
đỏ (Red) bởi công thức sau:
Từ hình 8 và 9 chúng ta có thể thấy sự khác biệt của hai
chỉ số trên tại các khu vực mà cây trồng đang sinh trưởng.
Tương phản của NDRE rõ rệt hơn NDVI do NDRE nhạy cảm
với hàm lượng diệp lục, sự thay đổi của diện tích lá, ảnh
hưởng bởi đất nền [1]. Vậy nên trong giai đoạn giữa và cuối
mùa vụ, việc khảo sát dải phổ cận đỏ để xác định chỉ số
NDRE sẽ đem lại nhiều thông tin chi tiết hơn.
5. KẾT LUẬN
Trong bài báo này, chúng tôi đã mô tả một mô hình hệ
thống giám sát vùng nông nghiệp sử dụng kết hợp mạng
cảm biến không dây và thiết bị bay không người lái. Hệ
thống mạng cảm biến không dây và thiết bị bay được tính
toán và xây dựng dựa trên các trang thiết bị giá thành thấp,
phù hợp với điều kiện nhu cầu thực tế tại Việt Nam. Các thử
nghiệm trên điều kiện thực địa cho thấy khả năng giám sát
sinh trưởng cây trồng của hệ thống với một khu vực canh tác
tiêu biểu tại Việt Nam. Trong tương lai, việc sử dụng các
phần cứng và phần mềm thiết kế mở cho phép hệ thống có
thể dễ dàng phát triển và hoàn thiện các tính năng tự động
chụp ảnh và xây dựng bản đồ. Hệ thống hứa hẹn cho phép
xây dựng cơ sở dữ liệu số hóa nông nghiệp tại đồng ruộng
Việt Nam với quy mô dữ liệu lớn và giá thành thấp; đây là
tiền đề cho việc áp dụng công nghệ học máy cho bài toán
phân tích sinh trưởng cây trồng tại Việt Nam trong tương lai.
6 trang |
Chia sẻ: hachi492 | Lượt xem: 1 | Lượt tải: 0
Bạn đang xem nội dung tài liệu Phát triển mạng cảm biến không dây kết hợp thiết bị bay không người lái phục vụ giám sát cây nông nghiệp, để tải tài liệu về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
CÔNG NGHỆ
Tạp chí KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ ● Tập 56 - Số 6 (12/2020) Website: https://tapchikhcn.haui.edu.vn 46
KHOA HỌC P-ISSN 1859-3585 E-ISSN 2615-9619
PHÁT TRIỂN MẠNG CẢM BIẾN KHÔNG DÂY
KẾT HỢP THIẾT BỊ BAY KHÔNG NGƯỜI LÁI
PHỤC VỤ GIÁM SÁT CÂY NÔNG NGHIỆP
DEVELOPING SYSTEM OF WIRELESS SENSOR NETWORK AND UNMANED AERIAL VEHICLE
FOR AGRICULTURE INSPECTION
Nguyễn Trường Sơn2, Quách Công Hoàng1,*, Đặng Thị Hương Giang2,3,
Vũ Minh Trung2, Vương Quang Huy2, Mai Anh Tuấn1
TÓM TẮT
Sản xuất nông nghiệp công nghệ cao là một xu hướng tất yếu tại Việt Nam.
Đặc biệt với các vùng trồng cây nguyên liệu có đặc thù diện tích lớn, mạng cảm
biến không dây đã và đang tỏ rõ vai trò quan trọng trong việc giúp tăng năng
suất, giám sát sâu bệnh, làm giảm tác động của biến đổi khí hậu và giảm sức lao
động trực tiếp của người canh tác. Bài báo này xây dựng một mô hình thử
nghiệm giám sát vùng trồng cây nông nghiệp sử dụng phối hợp mạng cảm biến
không dây LoRa và thiết bị bay không người lái nhằm thu thập các dữ liệu về điều
kiện thời tiết, tình trạng đất, sức khoẻ cây trồng giúp người trồng đưa ra giải
pháp phù hợp nhất về tưới tiêu, xử lý sâu bệnh, chăm bón với loại cây đang
trồng. Hệ thống được phát triển và thực nghiệm ngoài hiện trường nhằm đánh
giá một số tính năng cơ bản của hệ thống và chứng minh được tính ổn định, đáng
tin cậy của dữ liệu thu được.
Từ khóa: Thiết bị bay không người lái, mạng cảm biến, nông nghiệp chính
xác, LoRa.
ABSTRACT
Agricultural production using high technology is an inevitable trend in
Vietnam. Especially for material crops which typically need large growing areas,
wireless sensor networks has been clearly playing a significant role in increasing
productivity, monitoring pests and diseases, mitigating the impact of climate
change, and reducing the direct labor of cultivators. This paper constructs an
experimental model of agricultural crop field monitoring using a combination of
LoRa wireless sensor networks and unmanned aerial vehicles to collect data on
conditions of weather and soil, plant health, which helps growers easily making
right decisions on solutions for irrigation, pest treatment, and fertilization with
the currently planted crops. The system has been developed and experimentized
in the field to evaluate some basic features and justified the stability and
reliability of the obtained data.
Keywords: UAV, Sensors Network, Precision Agriculture, LoRa.
1Trung tâm Ươm tạo Công nghệ và Doanh nghiệp Khoa học Công nghệ,
Viện Ứng dụng công nghệ
2Trường Đại học Công nghệ, Đại học Quốc gia Hà Nội
3Trường Đại học Kinh tế - Kỹ thuật Công nghiệp
*Email: quachconghoang89@gmail.com
Ngày nhận bài: 12/10/2020
Ngày nhận bài sửa sau phản biện: 02/12/2020
Ngày chấp nhận đăng: 23/12/2020
1. GIỚI THIỆU
Sử dụng các tiến bộ trong công nghệ thông tin và
truyền thông để nâng cao năng suất nông nghiệp là một
trong những giải pháp tiếp cận khả thi hiện nay. Cụ thể là
trong những năm gần đây, sự ra đời của khái niệm Internet
vạn vật (Internet of Things - IoT) và sự phổ biến nhanh
chóng của các thiết bị bay không người lái (Unmanned
Aerial Vehicle - UAV) kết hợp cùng công nghệ phân tích xử
lý hình ảnh hứa hẹn các giải pháp nông nghiệp chính xác
(Precision Agriculture - PA) để đương đầu với các thách
thức được dự báo trong tương lai [1]. Một cách khái quát,
nông nghiệp chính xác sử dụng các dịch vụ công nghệ
thông tin để tổng hợp và xử lý dữ liệu thu thập được từ khu
vực canh tác, sau đó đưa ra các đánh giá để hỗ trợ người
nông dân quản lý mùa vụ một cách hiệu quả hơn [1-2].
Ứng dụng phổ biến nhất của nông nghiệp chính xác là
đánh giá sinh trưởng cây trồng sử dụng công nghệ viễn
thám và xử lý hình ảnh. Nguồn dữ liệu ảnh vệ tinh có giá
thành cao đối với một người nông dân bình thường, hơn
nữa độ phân giải và chất lượng hình ảnh chịu ảnh hưởng
bởi điều kiện thời tiết [2]. Sử dụng UAV nhỏ trang bị các
camera phổ chuyên dụng được xem như là lựa chọn kinh tế
và an toàn nhất hiện tại. Các thông tin chỉ số sinh trưởng
thực vật NDVI trên bản đồ xây dựng bởi ảnh chụp từ UAV
có thể diễn dịch thành các dấu hiệu của một số vấn đề mà
khu vực canh tác đang gặp phải như: sâu bệnh, thiếu nước
và chất dinh dưỡng [1, 4-6]
Mặc dù có nhiều ưu điểm hơn ảnh vệ tinh, việc thu thập
dữ liệu ảnh bằng UAV cỡ nhỏ cũng bộc lộ một số hạn chế
[3]. Thứ nhất, các UAV giá rẻ hiện nay chỉ có thể giám sát
liên tục trong khoảng thời gian tối đa 30 phút với kết cấu
dạng máy bay lên thẳng đa cánh quạt (multi-copter) và 90
phút với dạng máy bay cánh bằng. Thứ hai, người sử dụng
cần phải lưu ý về thời gian và điều kiện thích hợp để vận
hành UAV lấy mẫu ảnh phổ. Nếu không tuân thủ các bước
này, dữ liệu thu thập sẽ dễ bị tác động bởi các điều kiện
ánh sáng ngoại cảnh, gây khó khăn cho các bước phân tích
dữ liệu về sau. Thứ ba, trong một khu vực canh tác tại Việt
P-ISSN 1859-3585 E-ISSN 2615-9619 SCIENCE - TECHNOLOGY
Website: https://tapchikhcn.haui.edu.vn Vol. 56 - No. 6 (Dec 2020) ● Journal of SCIENCE & TECHNOLOGY 47
Nam thường có các điều kiện thời tiết cục bộ khác nhau,
điều này thường dẫn đến các rủi ro trong quá trình vận
hành UAV mà người vận hành khó có thể lường trước nếu
thiếu các công cụ hỗ trợ.
Để giải quyết vấn ba vấn đề trên, trong bài báo này
chúng tôi đề xuất một mô hình giám sát nông nghiệp kết
mạng cảm biến không dây kết hợp UAV. Trong hệ thống
chúng tôi đề xuất, các nút mạng cảm biến không dây giá rẻ
sử dụng sóng LoRa [14] được thiết lập trong các khu vực
canh tác, giám sát ngày đêm các thông tin thời tiết, tưới tiêu,
chiếu sáng gửi về máy tính cơ sở dữ liệu để xử lý. Hệ thống
này cho phép có được thông tin đầy đủ và liên tục về khu
vực canh tác, đồng thời hỗ trợ các thiết bị UAV xác định được
thời gian và địa điểm phù hợp để tiến hành khảo sát chụp
ảnh. Chúng tôi còn tiến hành thử nghiệm mô hình đề xuất
trên một khu vực canh tác tại Việt Nam, đánh giá hiệu quả và
thảo luận cách thức thu thập và xử lý số liệu của hệ thống.
2. CÁC NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN
Trong thập kỉ gần đây, ứng dụng UAV vào các nhiệm vụ
giám sát hiện trường đã được nghiên cứu phát triển rộng
rãi. Sự phổ biến của các UAV dân dụng cỡ nhỏ có giá thành
thấp cùng sự phát triển của các thiết kế mở [3] đã tạo điều
kiện thuận lợi cho các nghiên cứu này. Đặc biệt trong lĩnh
vực giám sát nông nghiệp, UAV với cảm biến quang học
phù hợp [1, 4-6] có thể thu thập những lớp thông tin về chỉ
số sinh trưởng thực vật (NDVI, NDRE), kích thước của cây,
nhiệt độ và độ ẩm khu vực canh tác... Kĩ thuật phân tích
siêu phổ (hyperspectral) để phân tích sâu bệnh trên cây
trồng đã bắt đầu được áp dụng trên UAV [1, 6] và hướng
nghiên cứu này hứa hẹn trở thành xu thế trong tương lai
không xa.
Mạng cảm biến không dây và rộng hơn là mô hình
Internet vạn vật đang được nghiên cứu phát triển trong
nhiều bài toán thực tế phục vụ đời sống con người mà
nông nghiệp là một trong số đó [8-11]. Để quản lý một
lượng lớn thiết bị cảm biến, giao thức truyền thông MQTT
[12, 13] là một lựa chọn tiêu chuẩn cho phép giảm bớt sự
quá tải các kết nối. Mạng cảm biến IoT sử dụng sóng LORA
[8, 14] đã cho những kết quả khả quan trong việc tiết kiệm
năng lượng và truyền tin khoảng cách xa, phù hợp với
những khu vực xa đô thị. Để mở rộng phạm vi ứng dụng,
tích hợp UAV trong mạng cảm biến IoT được đề xuất với
nhiều vấn đề mở [11] như cấp phát tài nguyên, cơ chế bảo
mật, phương thức phối hợp và thuật toán xử lý thông tin
phù hợp [8, 11].
Điều kiện khí hậu và địa hình đa dạng của Việt Nam phù
hợp với nhiều loại cây trồng có giá trị cao như chè, cà phê,
hạt tiêu Đây là nguồn tài nguyên thông tin dồi dào cho
công nghệ thông tin và truyền thông tiếp cận phân tích và
xây dựng các mô hình nông nghiệp chính xác. Tuy nhiên,
diện tích lớn có khí hậu cục bộ không ổn định đòi hỏi phải
giải quyết tốt các vấn đề an toàn bay và chất lượng dữ liệu
thu [1, 3]. Mô hình kết hết hợp Internet vạn vật và UAV đề
xuất bởi Yalin Liu [11] tỏ ra phù hợp với điều kiện thực tế tại
Việt Nam.
3. THIẾT KẾ VÀ TRIỂN KHAI HỆ THỐNG
3.1. Tổng quan hệ thống
Mô hình hệ thống khảo sát của chúng tôi được xây
dựng trên hai thành phần chính là mạng cảm biến không
dây mặt đất sử dụng sóng LoRa và hệ thống UAV giám sát
trên không. Trong đó, mạng cảm biến không dây LoRa có
vai trò thu thập một cách liên tục các thông tin như nhiệt
độ, độ ẩm, lượng mưa, tốc độ gió, áp suất, thành phần ánh
sáng và không khí. Thiết bị bay có nhiệm vụ tự động thu
thập ảnh phổ phản xạ cận hồng ngoại tại các khu vực được
lên kế hoạch từ trước.
Hình 1. Lưu đồ tổng quát của hệ thống
Hệ thống phần mềm tích hợp thông tin cho phép duy
trì kết nối thông tin liên tục giữa thiết bị bay và các nút cảm
biến không dây hoạt động dưới mặt đất. Thiết kế tích hợp
này được đề xuất với hai mục đích chính:
Tích hợp thông tin về tình hình của khu vực canh tác,
bao gồm: thông tin điều kiện môi trường từ các nút cảm
biến cố định và thông tin hình ảnh đa mức phổ thu được
từ UAV.
Cảnh báo an toàn cho thiết bị bay về các điều kiện
hiện tại của khu vực khảo sát, từ đó điều chỉnh kế hoạch
bay khảo sát đánh giá cây trồng sao cho hiệu quả nhất.
Mô hình giám sát được phát triển dựa trên các thiết bị
giá thành rẻ và các phần mềm mã nguồn mở. Điều này cho
phép dễ dàng mở rộng và phát triển hệ thống, đáp ứng
nhu cầu thực tế của nông nghiệp của Việt Nam trong hiện
tại và tương lai.
3.2. Nút cảm biến không dây
Hình 2. Lưu đồ quá trình truyền nhận thông tin từ cảm biến
Trong nghiên cứu này, chúng tôi thiết lập một mạng
cảm biến không dây trên mặt đất sử dụng mạng truyền
CÔNG NGHỆ
Tạp chí KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ ● Tập 56 - Số 6 (12/2020) Website: https://tapchikhcn.haui.edu.vn 48
KHOA HỌC P-ISSN 1859-3585 E-ISSN 2615-9619
thông LoRa. Đây là một công nghệ truyền thông dữ liệu với
mức năng lượng tiêu thụ thấp và khoảng cách truyền xa,
được sử dụng rộng rãi trong các ứng dụng thu thập dữ liệu.
Dựa trên khảo sát về những loại dữ liệu môi trường cần
được thu thập trong thực tế, chúng tôi xây dựng hệ thống
các nút cảm biến không dây LoRa với hai nút cảm biến
ngoài trời, một LoRa Gateway ngoài trời để tiếp nhận LoRa
từ các nút cảm biến và một máy tính nhúng nhằm lưu trữ
dữ liệu đồng thời gửi dữ liệu lên mạng internet. Các thành
phần chính của hệ thống bao gồm:
Máy tính nhúng là bộ xử lý trung tâm của hệ cảm biến
LoRa và kết nối hệ cảm biến với cơ sở dữ liệu. Dữ liệu từ
mạng cảm biến LoRa sẽ được tiến hành kiểm tra, sửa lỗi. Dữ
liệu sau đó được lưu vào bộ nhớ của máy tính nhúng đồng
thời được gửi tới máy chủ thông qua kết nối Internet. Việc
này đảm bảo dữ liệu sẽ luôn được lưu trữ liên tục dù máy
tính nhúng có bị mất kết nối internet.
LoRa Gateway ngoài trời. Gateway này sẽ nhận dữ liệu
từ các nút cảm biến thông qua mạng LoRa. Dữ liệu từ nút
cảm biến sẽ được giải mã và được gửi cho máy tính nhúng
dưỡi dạng các tin nhắn MQTT thông qua kết nối Ethernet.
Các nút cảm biến có tính năng thu thập, xử lý dữ liệu
của khu vực canh tác và truyền về trung tâm thông tin:
o Một trạm quan trắc thời tiết với các thông số đo đạc là
nhiệt độ, độ ẩm không khí, vận tốc gió, hướng gió, áp suất
không khí. Các thông tin này sẽ được sử dụng để đánh giá
thời tiết cho sự phát triển của cây trồng cũng như phục vụ
cho việc điều khiển quá trình bay của UAV.
o Cảm biến CJMCU dùng để đo các loại khí CO, NH3, NO2
trong không khí. Các thông số này ảnh hưởng rất nhiều tới
quá trình sinh trưởng của cây trồng.
o Cảm biến ánh sáng Si1145. Thông số này sẽ được sử
dụng để đánh giá điều kiện môi trường đồng thời là một
tham số để hiệu chỉnh hình ảnh trong quá trình xây dựng
bản đồ ảnh của UAV.
Nhằm khảo sát độ tin cậy và khả năng hoạt động của hệ
thống, chúng tôi đã tiến hành lắp đặt hệ thống ngoài trời
và tiến hành đo đạc khả năng truyền thông của các nút
cảm biến. Theo thông số của nhà sản xuất, thiết bị LoRa
chúng tôi sử dụng có hệ số lan tỏa (Spreading Factor) là 7,
băng thông tín hiệu truyền là 125kHz, tốc độ mã hóa là 4/5.
Trong thực nghiệm này, chúng tôi cấu hình thiết bị ở tần số
923MHz và công suất phát của mạch đo đạc được là
20dBm. Chúng tôi sử dụng ba an-ten có công suất phát
khác nhau là 3dBi, 10dBi và 18dBi. Kết quả được đo bởi
thiết bị RF Explorer 915M V2.0 [15].
Với điều kiện thực nghiệm trên mặt phẳng trải dài
không có vật cản xung quanh, kết quả thu được chứng tỏ
rằng khi sử dụng an-ten có công suất phát 18 dBi với
khoảng cách 450m, tín hiệu LoRa vẫn có thể nhận được bởi
các thiết bị thu sóng LoRa với độ nhạy lơn hơn -100dBm.
Thiết bị thu sóng mà chúng tôi sử dụng là LoRa Gateway
OLG-01 hoàn toàn đáp ứng được yêu cầu này với độ nhạy
lên tới -120dBm.
Hình 3. Đồ thị suy hao tín hiệu LoRa theo khoảng cách
3.3. Thiết bị bay giám sát nông nghiệp
Thiết bị bay chụp ảnh nông nghiệp của hệ thống giám
sát được chúng tôi phát triển dựa trên nghiên cứu [7] với
phần lớn là các linh kiện giá rẻ sẵn có tại Việt Nam. Chúng
tôi đã có một số thay đổi về thiết kế cơ khí để thiết bị bay
có thể mang thêm 01 camera chụp ảnh phổ chuyên dụng
cho cây trồng.
Ground Control Station
Hexacopter
Flight controller
(Pixhawk 4)
Power Management
Board
Li-Po battery
ESC ESC ESC ESC ESC ESC
Motor Motor Motor Motor Motor Motor
GPS
Multispectral
Camera
RC receiver
RC controller
(Skydroid T12)
Computer
2.4GHz
UART
Light Sensor
Hình 4. Sơ đồ phần cứng của UAV
Trong hình 4 mô tả kết nối của thiết bị bay mà chúng tôi
đã sử dụng, các thiết bị chính của UAV bao gồm:
Bộ điều khiển bay Pixhawk 4: kết nối với GPS cho phép
điều hướng thiết bị bay đến một vị trí xác định trên bản đồ.
Hệ camera chụp ảnh đa phổ Micasense RedEdge-M:
có vai trò nhận tín hiệu điều khiển chụp ảnh từ bộ điều
khiển bay. Bên cạnh đó, do tích hợp 01 cảm biến ánh sáng,
hệ camera này có thể hiệu chỉnh màu sắc của ảnh khi điều
kiện chiếu sáng bị thay đổi. (citation)
Bộ điều khiển từ xa Skydroid T12: có nhiệm vụ gửi các
tín hiệu điều khiển hay quỹ đạo bay chụp ảnh mong muốn
tới bộ điều khiển bay Pixhawk 4 bằng sóng mang 2.4GHz.
Ngoài ra tay cầm cũng cho phép nhận các tín hiệu trạng
thái do thiết bị bay gửi về như tọa độ GPS, thông tin IMU,
cảm biến gió
Máy tính với kết nối mạng: thiết lập các quỹ đạo chụp
ảnh mong muốn để gửi lên bộ điều khiển bay Pixhawk 4
thông qua bộ điều khiển từ xa.
P-ISSN 1859-3585 E-ISSN 2615-9619 SCIENCE - TECHNOLOGY
Website: https://tapchikhcn.haui.edu.vn Vol. 56 - No. 6 (Dec 2020) ● Journal of SCIENCE & TECHNOLOGY 49
Để thiết bị bay mà chúng tôi tích hợp có trọng tải cất
cánh 2,5kg, tốc độ bay lên tới 36km/h. Thời gian bay khảo
sát thực tế là 12 phút đối với pin lipo 15V 5200mAh và 17
phút đối với pin lipo 15V 10000mAh. Tuy nhiên thời gian
này còn phụ thuộc nhiều vào điều kiện thời tiết tại khu vực
hoạt động, tiêu biểu như hướng gió và khí áp. Thực tế là khí
áp ảnh hưởng tới lực nâng của cánh quạt trên thiết bị bay,
khí áp thấp khiến cánh quạt phải quay nhanh hơn, kéo theo
thời lượng pin giảm xuống. Đối với quỹ đạo bay, việc di
chuyển ngược gió trong thời gian dài cũng khiến động cơ
tiêu tốn nhiều điện năng. Từ hai thí dụ trên cho chúng ta
thấy phần mềm điều khiển lập quỹ đạo bay cần biết thêm
các thông tin về trạng thái môi trường khảo sát mới đủ cơ
sở để ước lượng quỹ đạo tối ưu [3].
3.4. Phần mềm hệ thống tích hợp mạng cảm biến và
thiết bị bay
Hình 5. Tổng quan phần mềm hệ thống tích hợp mạng cảm biến và thiết bị bay
Sau khi thiết kế và thực nghiệm thành công hai thành
phần mạng cảm biến và thiết bị bay, chúng tôi xây dựng
một phần mềm để tích hợp hai hệ thống này. Phần mềm
này có vai trò như bộ xử lý trung tâm cho toàn bộ hệ thống.
Phần mềm được xây dựng để hệ thống có thể hoạt động
với sự can thiệp ít nhất của con người, từ đó người nông
dân có thể dễ dàng sử dụng hệ thống chỉ với những bước
cài đặt cơ bản. Các tác vụ chính của phần mềm như sau:
Thu thập dữ liệu cảm biến môi trường: mô-đun có vai
trò kết nối với LoRa Gateway thông quan giao thức MQTT
để tiếp nhận tữ liệu từ cảm biến. Sau khi tiếp nhận mô-đun
này cũng sẽ kiểm tra tính xác thực của dữ liệu để chuyển tới
mô-đun lưu trữ.
Thu thập dữ liệu từ cảm biến của UAV: mô-đun có
nhiệm vụ tiếp nhận dữ liệu từ UAV bằng giao thức
MAVLink. Thông qua kết nối với Skydroid T12 mô-đun này
sẽ tiếp nhận các thông tin từ UAV gửi về trong quá trình
bay và gửi tới mô-đun lưu trữ.
Lưu trữ dữ liệu vào MongoDB: mô-đun này sẽ tiếp
nhận dữ liệu từ 2 mô-đun thu thập dữ liệu bên trên, sau đó
chuyển thành dạng dữ liệu chuẩn và lưu trữ vào MongoDB.
Ngoài ra mô-đun cũng sẽ cung cấp những chức năng cơ
bản để thống kê, hiển thị dữ liệu dưới dạng đồ thị.
Điều khiển quá trình bay của UAV: mô-đun có nhiệm
vụ điều tiết quá trình bay của UAV. Mô-đun này sẽ sử dụng
dữ liệu về môi trường được lưu trữ trong MongoDB, thống
kê lại để xây dựng các nhiệm vụ bay cho UAV cũng như các
công việc khác như tối ưu quỹ đạo, tốc độ di chuyển
Xử lý dữ liệu: Mô-đun này sẽ sử dụng các dữ liệu được
lưu trữ trong cơ sở dữ liệu để làm các nhiệm vụ như xây
dựng bản đồ ảnh phổ khả kiến RGB và bản đồ chỉ số sinh
trưởng cây trồng như NDVI (Normalized Difference
Vegetation Index) hay NDRE (Normalized Difference Red
Edge Index). Bản đồ này kết hợp với thông tin tổng hợp về
điều kiện tưới tiêu và chiếu sáng là cơ sở chính để phát
triển các dịch vụ đánh giá sinh trưởng cây trồng trong
tương lai.
Các bộ thư viện mã nguồn mở được sử dụng trong thiết
kế phần mềm của hệ thống bao gồm:
Thư viện truyền nhận thông tin Eclipse Mosquitto: Là
thư viện hỗ trợ giao thức MQTT cho mô-đun thu thập dữ
liệu cảm biến môi trường.
Thư viện MAVLink: Là thư viện hỗ trợ giao thứ
MAVLink cho mô-đun thu thập dữ liệu của UAV.
Cơ sở dữ liệu MongoDB: Có nhiệm vụ chính là xây
dựng một cơ sở dữ liệu nhằm lưu trữ dữ liệu từ cảm biến và
UAV một cách khoa học cho quá trình xử lý dữ liệu sau này.
Phần mềm giao diện Qt: Có nhiệm vụ xây dựng giao
diện giao tiếp với người dùng và đồ thị hóa dữ liệu cũng
như hiển thị dữ liệu mà người dùng yêu cầu.
Hệ thống tích hợp cảm biến không dây cho phép can
thiệp vào quá trình bay giám sát nông nghiệp theo quy
tắc sau:
- Cảnh báo không đảm bảo khả năng lấy mẫu ảnh phổ
cận hồng ngoại trong một số trường hợp: khi trời nhiều
mây, góc chiếu của mặt trời thấp dưới 45 độ.
- Không cho thiết bị bay cất cánh trong điều kiện mưa,
hoặc vận tốc gió tại khu vực giám sát có vận tốc trung bình
trên 10m/s.
- Tối ưu quỹ đạo bay trong điều kiện gió từ 3 đến 10m/s.
Quy tắc sinh quỹ đạo bay trong điều kiện trên được
chúng tôi xây dựng nhằm hạn chế tối đa thời gian bay
ngược gió của UAV. Quỹ đạo được thành lập cụ thể theo
các bước như sau:
- Khu vực giám sát được định nghĩa bởi một đa giác A,
trần bay được giữ nguyên trong suốt quá trình bay.
- Định nghĩa cặp véc tơ trực giao i
và j
, trong đó j
có
phương song song với hướng gió. Độ lớn của hai véc tơ
phụ thuộc vào thị trường của camera và trần bay của UAV.
- Thiết bị bay sẽ di chuyển chụp ảnh tịnh tiến theo
phương i
trong suốt quá trình giám sát và chỉ thay đổi j
khi điểm chụp ảnh nằm ngoài đa giác A [16].
CÔNG NGHỆ
Tạp chí KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ ● Tập 56 - Số 6 (12/2020) Website: https://tapchikhcn.haui.edu.vn 50
KHOA HỌC P-ISSN 1859-3585 E-ISSN 2615-9619
4. KHẢ NĂNG GIÁM SÁT HÌNH ẢNH TRONG VÙNG CÂY
NGUYÊN LIỆU
Chúng tôi thử nghiệm hệ thống trong một khu vực
canh tác có diện tích 1 héc ta tại khu vực đồng bằng Bắc Bộ
Việt Nam. Các nút cảm biến không dây được thiết lập trên
mặt ruộng, cách Lora gateway và máy tính trung tâm 50
mét. Tại thời điểm đo đạc, nhiệt độ môi trường là 330C, độ
ẩm 40%, tốc độ gió trung bình 8,5km/h. Lúc thiết bị bay cất
cánh, tức 14 giờ 30, ánh sáng tử ngoại là 7,9UV index còn
vùng khả kiến và hồng ngoại dao động trong khoảng 80 -
90 klx.
Thiết bị chụp ảnh đa phổ chuyên dụng được chúng tôi
sử dụng là Micasense RedEdge-M. Thiết bị này có khả năng
chụp không ảnh đồng thời 05 dải sóng:
Xanh da trời (Blue): 475nm ± 20nm
Xanh lá cây (Green): 560nm ± 20nm
Đỏ (Red): 668nm ± 10nm
Cận hồng ngoại (Near IR): 840nm ± 40nm
Biên đỏ (Red Edge): 717nm ± 10nm
Như chúng tôi đề cập ở phần trước, qua giao thức
MavLink, hệ thống mặt đất đề xuất lịch trình bay gửi lên
bộ điều khiển bay Pixhawk 4. Trong quá trình thực thi lịch
trình bay liên tục cập nhật tọa độ định vị GPS, bộ điều
khiển sẽ xác định vị trí phù hợp để chụp hình và gửi lệnh
điều khiển xuống thiết bị Micasense RedEdge-M. Sau khi
UAV kết thúc quá trình khảo sát, dữ liệu ảnh đa phổ được
lưu trong thẻ nhớ được đưa vào các phần mềm phân tích
ảnh chuyên dụng.
Hình 6. Bố trí thực nghiệm với hệ thống chụp ảnh phổ bằng UAV
Để đánh giá kết quả thu được từ quá trình giám sát,
chúng tôi sử dụng một số phần mềm tiên tiến nhất là
Pix4Dmapper, Pix4Dfields. Đây là các phần mềm thương
mại được đánh giá cao, mỗi phần mềm được thiết kế có ưu
nhược điểm riêng. Các phần mềm này cùng được thực thi
trên máy trạm với CPU Intel Xeon 2620v4 2.2GHz dùng hệ
điều hành Windows 10. Để các đánh giá được khách quan,
chúng tôi còn bổ sung thêm một số bộ dữ liệu mở được
thu thập từ UAV dạng máy bay cánh bằng.
Bảng 1 cho thấy Pix4Dmapper mặc dù cho chất lượng
bản đồ chính xác nhất hiện nay tuy nhiên cũng tiêu tốn
nhiều thời gian tính toán, so với Pix4Dfields chênh lệch
khoảng 10 lần. Chất lượng bản đồ của Pix4Dfields trong
hình 8 có một số điểm không tốt bằng Pix4Dmapper,
nguyên nhân là camera chụp bị nghiêng do ảnh hưởng của
gió giật và UAV không được trang bị chống rung.
Bảng 1. So sánh thời gian xử lý đối với dữ liệu ảnh đa phổ thu thập được
Điều kiện khảo sát Số
lượng
ảnh
Phân
giải
Thời gian xử lý
Trần
bay
Diện
tích
Số lớp phổ Pix4D
Mapper
Pix4D
Fields
Dữ liệu thu
thập thực
địa (Việt
Nam)
50 mét 1 ha 5 (Red,
Green, Blue,
Near IR, Red
Edge)
785 1280 x
960
31 phút 4 phút
Dữ liệu mở
(internet)
120
mét
100
ha
4 (Red,
Green, Near
IR, Red Edge)
5260 1280 x
960
179
phút
18
phút
Hình 7. So sánh chất lượng bản đồ ảnh xây dựng bởi phần mềm Pix4Dfields
và Pix4Dmapper
Hình 8. So sánh chỉ số sinh trưởng cây trồng NDVI và NDRE
Từ dữ liệu bản đồ chụp bởi camera đa phổ, chúng tôi sử
dụng hai chỉ số phổ biến để đánh giá sinh trưởng cây trồng
là NDVI và NDRE [1]. Chỉ số NDVI được đánh giá dựa trên
tương phản của bức xạ phổ hồng ngoại (NIR) với phổ màu
đỏ (Red) bởi công thức sau:
P-ISSN 1859-3585 E-ISSN 2615-9619 SCIENCE - TECHNOLOGY
Website: https://tapchikhcn.haui.edu.vn Vol. 56 - No. 6 (Dec 2020) ● Journal of SCIENCE & TECHNOLOGY 51
( )
( )
NIR RedNDVI
NIR Red
(1)
Khác với NDVI, chỉ số NDRE dựa trên tương phản với
phổ cận đỏ (RE) 715nm:
( )
( )
NIR RENDRE
NIR RE
(2)
Từ hình 8 và 9 chúng ta có thể thấy sự khác biệt của hai
chỉ số trên tại các khu vực mà cây trồng đang sinh trưởng.
Tương phản của NDRE rõ rệt hơn NDVI do NDRE nhạy cảm
với hàm lượng diệp lục, sự thay đổi của diện tích lá, ảnh
hưởng bởi đất nền [1]. Vậy nên trong giai đoạn giữa và cuối
mùa vụ, việc khảo sát dải phổ cận đỏ để xác định chỉ số
NDRE sẽ đem lại nhiều thông tin chi tiết hơn.
5. KẾT LUẬN
Trong bài báo này, chúng tôi đã mô tả một mô hình hệ
thống giám sát vùng nông nghiệp sử dụng kết hợp mạng
cảm biến không dây và thiết bị bay không người lái. Hệ
thống mạng cảm biến không dây và thiết bị bay được tính
toán và xây dựng dựa trên các trang thiết bị giá thành thấp,
phù hợp với điều kiện nhu cầu thực tế tại Việt Nam. Các thử
nghiệm trên điều kiện thực địa cho thấy khả năng giám sát
sinh trưởng cây trồng của hệ thống với một khu vực canh tác
tiêu biểu tại Việt Nam. Trong tương lai, việc sử dụng các
phần cứng và phần mềm thiết kế mở cho phép hệ thống có
thể dễ dàng phát triển và hoàn thiện các tính năng tự động
chụp ảnh và xây dựng bản đồ. Hệ thống hứa hẹn cho phép
xây dựng cơ sở dữ liệu số hóa nông nghiệp tại đồng ruộng
Việt Nam với quy mô dữ liệu lớn và giá thành thấp; đây là
tiền đề cho việc áp dụng công nghệ học máy cho bài toán
phân tích sinh trưởng cây trồng tại Việt Nam trong tương lai.
LỜI CẢM ƠN
Nghiên cứu này được hỗ trợ bởi Bộ Khoa học và Công
nghệ trong đề tài "Nghiên cứu xây dựng mô hình ứng dụng
thiết bị bay và mạng cảm biến không dây phục vụ giám sát
tự động vùng cây nguyên liệu", hợp đồng số 08/2019/HĐ-
ĐTCB, ký ngày 02/01/2019.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
[1]. D. C. Tsouros, A. Triantafyllou, S. Bibi, P. G. Sarigannidis, 2019. Data
acquisition and analysis methods in UAV- based applications for precision
agriculture. Proc. - 15th Annu. Int. Conf. Distrib. Comput. Sens. Syst. DCOSS 2019,
pp. 377–384.
[2]. D. J. Mulla, 2013. Twenty five years of remote sensing in precision
agriculture: Key advances and remaining knowledge gaps. Biosystems
Engineering, vol. 114, no. 4, pp. 358–371.
[3]. H. Hildmann, E. Kovacs, 2019. Review: Using Unmanned Aerial Vehicles
(UAVs) as Mobile Sensing Platforms (MSPs) for Disaster Response, Civil Security and
Public Safety. Drones, vol. 3, no. 3, p. 59.
[4]. S. Paulus, 2019. Measuring crops in 3D: Using geometry for plant
phenotyping. Plant Methods, vol. 15, no. 1, pp. 1–13.
[5]. M. Ferrer, G. Echeverría, G. Pereyra, G. Gonzalez-Neves, D. Pan, J. M.
Mirás-Avalos, 2020. Mapping vineyard vigor using airborne remote sensing:
relations with yield, berry composition and sanitary status under humid climate
conditions. Precision Agriculture, vol. 21, no. 1, pp. 178–197.
[6]. J. Abdulridha, Y. Ampatzidis, S. C. Kakarla, P. Roberts, 2020. Detection of
target spot and bacterial spot diseases in tomato using UAV-based and benchtop-
based hyperspectral imaging techniques. Precision Agriculture, vol. 21, no. 5, pp.
955–978.
[7]. Vu Minh Trung, Vuong Quang Huy, Nguyen Viet Thang, Quach Cong
Hoang, Truong Ninh Thuan, Pham Minh Trien, 2019. Design and Implement Low-
cost UAV for Agriculture Monitoring. The 5th International Conference on
Engineering Mechanics and Automation, 11-12 October 2019, Hanoi.
[8]. V. K. Sarker, J. P. Queralta, T. N. Gia, H. Tenhunen, T. Westerlund, 2019.
A Survey on LoRa for IoT: Integrating Edge Computing. 2019 Fourth International
Conference on Fog and Mobile Edge Computing. (FMEC), Rome, Italy, pp. 295-300.
[9]. P. Datta, B. Sharma, 2017. A survey on IoT architectures, protocols,
security and smart city based applications. 2017 8th International Conference on
Computing, Communication and Networking Technologies (ICCCNT), Delhi, pp.
1-5.
[10]. P.P. Ray, 2018. A survey on Internet of Things architectures. Journal of
King Saud University - Computer and Information Sciences, Volume 30, Issue 3,
Pages 291-319, ISSN 1319-1578.
[11]. Yalin Liu, Hong-Ning Dai, Qubeijian Wang, Mahendra K. Shukla,
Muhammad Imran, 2020. Unmanned aerial vehicle for internet of everything:
Opportunities and challenges. Computer Communications, Volume 155, Pages
66-83, ISSN 0140-3664.
[12]. Atmoko Rachmad, Riantini R., Hasin M., 2017. IoT real time data
acquisition using MQTT protocol. Journal of Physics: Conference Series. 853.
012003. 10.1088/1742-6596/853/1/012003.
[13]. M. B. Yassein, M. Q. Shatnawi, S. Aljwarneh, R. Al-Hatmi, 2017.
Internet of Things: Survey and open issues of MQTT protocol. 2017 International
Conference on Engineering & MIS (ICEMIS), Monastir, 2017, pp. 1-6.
[14]. H. Lee, K. Ke, 2018. Monitoring of Large-Area IoT Sensors Using a LoRa
Wireless Mesh Network System: Design and Evaluation. IEEE Transactions on
Instrumentation and Measurement, vol. 67, no. 9, pp. 2177-2187, Sept. 2018.
[15]. RF Explorer 915M V2.0, Accessed 13 October 2020,
https://www.seeedstudio.com/RF-Explorer-915M-V2-0.html
[16]. Eric Haines, 1994. Point in Polygon Strategies. Graphics Gems, Volume
1.4, Morgan Kaufmann, USA.
AUTHORS INFORMATION
Nguyen Truong Son2, Quach Cong Hoang1, Dang Thi Huong Giang2,3,
Vu Minh Trung2, Vuong Quang Huy2, Mai Anh Tuan1
1Nacentech Technology and Business Incubator Center, National Center for
Technological Progress
2VNU University of Engineering and Technology
3University of Economics - Technology for Industries
Các file đính kèm theo tài liệu này:
phat_trien_mang_cam_bien_khong_day_ket_hop_thiet_bi_bay_khon.pdf