Phõng trừ tổng hợp ruồi đục quả dâu Hạ Châu tại huyện Phong Điền, thành phố Cần Thơ

KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 4.1 Kết luận Tại huyện Phong Điền, các vườn dâu Hạ Châu được trồng liền kề nhau với diện tích trồng của mỗi hộ đa số là từ 2000 đến 5000 m2,năng suất phổ biến ở mức 10-20 tấn/ha. Ruồi đục quả xuất hiện quanh năm, người dân đã phun thuốc BVTV và treo bẫy diệt ruồi song do tỷ lệ hộ không tham gia các tổ chức xã hội rất cao (72%) nên việc tiếp cận thông tin cùng với tính tự phát trong phòng trừ ruồi dẫn đến hiệu quả thấp. Phòng trừ ruồi đục quả dâu Hạ Châu trên diện rộng cần phối hợp ba biện pháp gồm (i) Định kỳ vệ sinh đồng ruộng bằng cách hái và thu gom chôn lấp quả bị ruồi gây hại; (ii) Phun điểm định kỳ bả protein sau khi đậu quả 40 ngày và dừng phun trước đợt thu hoạch cuối cùng 10 ngày; (iii) Treo 20 bẫy dẫn dụ diệt con đực/ha cho hiệu quả khá, tỷ lệ quả bị ruồi gây hại ở cuối vụ ở vườn mô hình là 3,7%, vườn đối chứng là 43,3%. 4.2 Đề nghị Triển khai giải pháp quản lý ruồi đục quả đồng loạt cho toàn vùng sản xuất từ khi quả dâu Hạ Châu được 40 ngày tuổi. Mở rộng diện tích ứng dụng kết quả nghiên cứu nhằm góp phần thực hiện thành công định hướng phát triển “Hình thành các tiểu vùng nông nghiệp đặc trưng” của ngành nông nghiệp thành phố Cần Thơ.

pdf6 trang | Chia sẻ: hachi492 | Lượt xem: 13 | Lượt tải: 0download
Bạn đang xem nội dung tài liệu Phõng trừ tổng hợp ruồi đục quả dâu Hạ Châu tại huyện Phong Điền, thành phố Cần Thơ, để tải tài liệu về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
Kết quả nghiên cứu khoa học BVTV - Sè 3/2018 9 Development and application of Bacillus thuringiensis toxin ELISA kits, Center of Crop Chemical Control, China Agricultural University, 100094, Beijing, China. 4. Xia Jingyuan, 2000). Resistance of transgenic Bt cotton to Helicoverpa armigera Hỹbner (Lepidoptera: Noctuidae) and its effects on other insects in China. Proceeding of the first Vietnam-Sino conference on cotton technology and its industrialization, 13-14 November, 2000, Hochiminh City, Viet Nam. Phản biện: GS-TS-NCVCC. Phạm Văn Lầm PHÕNG TRỪ TỔNG HỢP RUỒI ĐỤC QUẢ DÂU HẠ CHÂU TẠI HUYỆN PHONG ĐIỀN, THÀNH PHỐ CẦN THƠ Intergrated Pest Management for Fruit Fly in” Dau Ha Chau” at Phong Dien district, Can Tho province Nguyễn Thị Thanh Hiền 1 , Đoàn Thị Hồng Quyên 2 , Nguyễn Thị Kim Tƣơi 2 , Đặng Đình Thắng 1 , Vũ Văn Thanh 1 , Vũ Thị Thùy Trang 1 , Hà Thị Kim Liên 1 , Lê Thị Xuyến 1 Ngày nhận bài: 18.3.2018 Ngày chấp nhận đăng: 24.4.2018 Abstract Dau Ha Chau (Baccaurea ramiflora Lour) is one of the local fruits which not only brings significant income for growers but also is a special well-known brand name of Phong Dien, Can Tho province. However, dau Ha Chau growers in this area are facing to high crop loss caused by fruit fly, a serious insect pest, on this fruit tree. In 2017, An Area Wide-IPM model of 105.15 ha of dau Ha Chau farm was established in Nhon Ai village, Phong Dien district. In the model the combination of three methods including field sanitation, using of male lure (20 traps/ha) and bait application (2 litters/ha); was effectively applied for control of fruit fly. The percentage of damaged fruit at the end of the season was 3.7% in treated orchards and 43.3% in untreated area. Keywords: Dau Ha Chau, fruit fly, protein bait, AW- IPM 1. ĐẶT VẤN ĐỀ 1 Ruồi đục quả họ Tephritidae là một trong những đối tượng gây hại nghiêm trọng cho sản xuất nông nghiệp trên toàn thế giới. Chúng tấn công và gây hại cho rất nhiều loại quả cũng như rau ăn quả (Allwood and Leblanc,1996). Huyện Phong Điền - thành phố Cần Thơ, với gần 8.000 ha sản xuất cây ăn quả đã và đang mang lại nguồn thu nhập cho người nông dân. Tuy nhiên, hai loại quả chính của huyện là vú sữa và dâu Hạ châu bị ruồi gây hại với tỷ lệ trung bình là 8% (quả vú sữa) và 10% (quả dâu Hạ Châu) (Trạm KN huyện Phong Điền, 2017). Hiện nay, một số hộ dân đã thực hiện các biện pháp phòng chống ruồi như bao quả, treo bẫy tiêu diệt ruồi đực và phun thuốc hóa học.Tuy nhiên, việc thực hiện không đồng bộ và do hạn chế hiểu biết 1. Viện Bảo vệ thực vật 2 . Trung tâm Ứng dụng tiến bộ khoa học và công nghệ TP. Cần Thơ về ruồi đục quả dẫn đến thiếu cơ sở triển khai khiến hiệu quả giải pháp phòng trừ không đạt như mong đợi. Trước tình hình đó, Sở Công thương thành phố Cần Thơ và Ủy ban nhân dân Huyện Phong Điền đã kiến nghị Sở Khoa học và Công nghệ thành phố Cần Thơ nghiên cứu giải pháp hiệu quả hỗ trợ địa phương phòng trừ ruồi đục quả dâu Hạ Châu. Dự án Khoa học công nghệ “Chuyển giao quy trình quản lý tổng hợp ruồi đục trái trên 02 loại cây ăn trái: dâu Hạ Châu, vú sữa tại huyện Phong Điền, TP. Cần Thơ” đã được thực hiện nhằm giới thiệu giải pháp quản lý tổng hợp ruồi đục quả phục vụ phát triển sản xuất dâu Hạ Châu của huyện Phong Điền. Bài viết này cung cấp kết quả điều tra hiện trạng canh tác và phòng trừ ruồi đục quả dâu Hạ Châu, kết quả áp dụng quy trình quản lý tổng hợp ruồi đục trái trên cây trồng này ở huyện Phong Điền của dự án nêu trên trong năm 2017. Kết quả nghiên cứu khoa học BVTV - Sè 3/2018 10 2. VẬT LIỆU VÀ PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 2.1 Vật liệu - Bả Protein Ento-pro 150 DD - Chất dẫn dụ Methyl eugenol diệt ruồi đực - Túi nilon, bình bơm đeo vai, 2.2. Phƣơng pháp nghiên cứu 2.2.1. Điều tra khảo sát tình hình chung của vùng chuyên canh dâu Hạ Châu Thu thập thông tin trực tiếp bằng phiếu điều tra gồm 50 câu hỏi. Tổng số lượng là 60 phiếu điều tra tại ấp Nhơn Bình và ấp Nhơn Phú (xã Nhơn Ái, huyện Phong Điền). Chỉ tiêu thu thập gồm: Diện tích sản xuất, lao động chính, tình hình ruồi đục quả (Tephritidae) gây hại dâu Hạ Châu và biện pháp phòng chống. 2.2.2. Nghiên cứu phòng trừ ruồi đục quả dâu Hạ Châu - Địa điểm triển khai: Ấp Nhơn Bình và ấp Nhơn Phú thuộc xã Nhơn Ái, huyện Phong Điền, TP. Cần Thơ - Thời gian thực hiện từ tháng 6-10/2017 - Bố trí thí nghiệm: Thí nghiệm thực hiện diện rộng và không nhắc lại. Các biện pháp phòng trừ áp dụng ở vườn thí nghiệm (diện tích 105,15 ha), gồm: i) Biện pháp vệ sinh đồng ruộng: Hái và thu gom đem tiêu hủy quả bị ruồi gây hại. Cách làm: đào hố, rắc vôi bột xung quanh sau đó đổ trái thối, rụng vào hố rồi rắc phủ một lớp vôi bột sau đó lắp hố nhằm tiêu diệt ấu trùng ruồi; hoặc đem đốt. Dọn cỏ, tỉa cành, chặt bỏ cây tạp trong vườn canh tác nhất là các loài cây ký chủ ưa thích của ruồi đục quả như Gioi (mận), khế, ổi, cóc, sơri, Biện pháp này được thực hiện trong suốt vụ quả nhằm hạn chế số lượng ruồi phát sinh tại chỗ. ii) Treo 20 bẫy/ha loại chứa chất dẫn dụ Methyl eugenol (chất hấp dẫn ruồi đực) từ sau đậu quả 40 ngày. Thay chất dẫn dụ 1 tháng/lần cho đến khi thu hoạch xong. iii) Phun bả protein (nhằm diệt cả ruồi đực và ruồi cái): mỗi ha phun 2 lít bả Ento-pro 150 DD (pha dung dịch: 2 lít Ento-Pro 150 DD + 18 lít nước + 1,6 gram thuốc trừ sâu loại chứa 100% hoạt chất Fipronil) ở vị trí ¾ tán lá tính từ chóp ngọn hoặc lên thân nơi gần tán lá thấp nhất đối với cây cao; phun 3 lần/tháng, phun vào các buổi sáng sớm. Mỗi điểm phun 50 ml dung dịch pha/ điểm. Phun bả sau khi đậu quả 40 ngày và dừng phun đợt cuối cùng 10 ngày trước khi thu hoạch Vườn đối chứng (5 ha): Được phòng trừ theo tập quán canh tác của nông dân (treo bẫy dẫn dụ diệt con đực và phun thuốc hóa học) Phương pháp đánh giá các vườn thí nghiệm (i) Theo dõi số lượng ruồi vào bẫy dẫn dụ: Đếm số lượng ruồi vào 10 bẫy dẫn dụ đặt tại vườn phòng trừ và 3 bẫy ở vườn đối chứng. Định kỳ thu mẫu ruồi trong bẫy 7 ngày/lần. (ii) Theo dõi tỉ lệ quả bị ruồi gây hại: Thu 10 chùm ở một vườn trong mỗi đợt thu, tổng số vườn thu là 10 vườn/đợt. Các chùm có số lượng quả tương đương nhau, từ 15-25 quả, lấy mẫu 7 ngày/lần × 3 tháng. Qủa thu về theo dõi trong 10 ngày tiếp theo để xác định tỷ lệ số quả bị ruồi gây hại. Sơ đồ vùng thí nghiệm phòng trừ ruồi Vùng phòng trừ tổng hợp ruồi đục quả dâu Hạ Châu trên diện tích rộng 105,15 ha bao gồm có 161 hộ tại xã Nhơn Ái huyện Phong Điền, TP. Cần Thơ (hình 1) Hình 1: Sơ đồ vị trí mô hình phòng trừ tổng hợp ruồi đục quả dâu Hạ Châu trên diện rộng (xã Nhơn Ái, huyện Phong Điền, TP. Cần Thơ, 2017) Kết quả nghiên cứu khoa học BVTV - Sè 3/2018 11 3. KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 3.1. Thực trạng sản xuất dâu Hạ Châu và một số cây ăn quả khác của huyện Phong Điền Về sản xuất: nhìn chung cây dâu Hạ Châu được trồng ở địa phương đã lâu năm, đa số các vườn có độ tuổi trên 5 năm. Việc bán quả dâu Hạ Châu đem lại nguồn thu tốt cho người dân vì thế các chủ vườn đều có xu hướng mở rộng diện tích trồng qua các năm. Quy mô mỗi vườn không lớn, tỷ lệ số hộ có diện tích từ 2.000 m 2 đến 5.000 m 2 chiếm 53% tỷ lệ số hộ có diện tích vườn từ trên 5.000 m 2 đến 10.000 m 2 chiếm 34%, tỷ lệ số hộ có diện tích canh tác trên 10.000 m 2 chỉ chiếm tỷ lệ là 13% (bảng 1). Các vườn dâu Hạ Châu dù gần nhà dân nhưng được trồng khá liền kề nên tạo thành vùng sản xuất khá tập trung. Trong mùa vụ 2016, năng suất của các hộ canh tác dâu Hạ Châu đạt từ 5 tấn/ha đến 42 tấn/ha. Có 72% số hộ đạt năng suất trung bình từ 5-10 tấn/ha và 3% hộ điều tra có năng suất thấp dưới 5 tấn/ha (bảng 1), nguyên nhân do đây là những hộ trồng mới, cây còn tơ nên năng suất chưa cao. Giá bán dâu Hạ Châu dao động từ 10.000 đồng/kg đến 25.000 đồng /kg. Trong đó, số hộ bán dâu với giá từ 10.000 - 11.000 đồng/kg chiếm tỷ lệ 57%. Có 20 hộ (tương ứng tỷ lệ 33%) bán được với giá từ trên 11.000 - dưới 15.000 đồng /kg. Một số ít hộ (khoảng 10%) bán được sản phẩm với giá từ 15.000 đến 25.000 đồng /kg (bảng 1). Bảng 1. Diện tích canh tác và năng suất của hộ sản xuất tại vùng trồng Dâu Hạ Châu, xã Nhơn Ái, huyện Phong Điền, TP. Cần Thơ (2017) Diện tích canh tác (m 2 ) 2.000 – 5.000 5.000 – 10.000 > 10.000 Tỷ lệ hộ (%) 53 34 13 Năng suất (tấn/ha) 10 Tỷ lệ hộ (%) 5 72 25 Gía bán (đồng/kg) 10000- <11000 11000- <15000 15.000 - 25.000 Tỷ lệ hộ (%) 57 33 10 Độ tuổi chủ vườn (tuổi) 30 – 40 41 – 60 > 60 Tỷ lệ (%) 5% 63% 32% Nhân lực tham gia sản xuất: Độ tuổi chủ vườn tập trung chủ yếu là trung niên từ 41 – 60 tuổi chiếm 63% (bảng 2). Tuy nhiên, dù đa số người dân đã ý thức được tác hại của ruồi đục quả (dân thường gọi là ruồi vàng) song có rất ít người tham gia các tổ chức xã hội (nhất là hội nông dân) vì thế việc tiếp cận thông tin, kỹ thuật phòng chống ruồi nói riêng trong sản xuất bị hạn chế. Bảng 2. Tình hình tham gia các tổ chức xã hội của ngƣời sản xuất Dâu Hạ Châu, xã Nhơn Ái, Phong Điền, TP. Cần Thơ (2017) Tổ chức XH Hội nông dân Hội phụ nữ Người cao tuổi Hợp tác xã Không tham gia Tỷ lệ tham gia (%) 19,8 1,6 3,3 3,3 72,0 Về thành phần cây ăn quả: Bên cạnh cây trồng chính (dâu Hạ Châu) các hộ sản xuất trồng xen một số loại cây khác. Trong 60 hộ điều tra, có hơn 50% số hộ có trồng các loại cây khác trong vườn dâu Hạ Châu gồm chanh, cóc, hạnh, vú sữa và mãng cầu. Về ruồi đục quả: ruồi đục quả thường xuyên xuất hiện ở khắp vùng trồng dâu Hạ Châu. Mật độ ruồi tăng dần kể từ khi cây dâu Hạ Châu ra hoa và cao nhất ở thời điểm nhiều quả chín. Có gần 70% số hộ được hỏi cho rằng tỷ thiệt hại do ruồi gây ra lên tới 50%. Về nhận thức của người dân đối với ruồi đục quả: hầu hết các hộ cũng ý thực được việc phòng trừ ruồi khó khăn và nêu nguyên nhân là do phòng trừ không đồng loạt giữa các vườn, ruồi di chuyển từ vườn này sang vườn khác, ruồi kháng thuốc và chi phí phòng trừ cao. Về các biện pháp phòng trừ ruồi đục quả: Phổ biến nhất là phun thuốc sâu để xua đuổi ruồi. Tuy nhiên, điều đáng lo ngại là không có sự liên kết, phối hợp giữa các hộ trong quá trình phòng trừ. Từng hộ tự quyết định loại thuốc, thời điểm phun thuốc, số lần phun, liều lượng phun. Trong số 60 hộ được phòng vấn thì có đến 50% hộ trồng dâu Hạ Châu đánh giá việc phun thuốc mang lại hiệu quả dưới 50% và cho rằng hiệu quả phòng trừ thấp là do ruồi có khả năng di chuyển tốt, nên chỉ có thể diệt được khi ruồi tiếp xúc trực tiếp với thuốc. Bên cạnh đó, việc phun xua đuổi Kết quả nghiên cứu khoa học BVTV - Sè 3/2018 12 không đồng bộ đã làm ruồi di chuyển sang vườn khác để trú ẩn và rất có thể sẽ quay lại gây hại. Mặt khác, việc sử dụng khá tùy tiện các thuốc chỉ để xua đuổi ruồi đã ảnh hưởng xấu tới không khí và kênh nước của người dân trong khu vực. Một số hộ đã áp dụng biện pháp treo bẫy diệt ruồi kết hợp phun thuốc trừ sâu và cho hiệu quả phòng trừ từ 30 đến 50% (theo đánh giá của người dân). Đáng chú ý hiệu quả này được dựa trên quan sát số lượng ruồi bắt trong bẫy. Hoạt chất chính của sản phẩm bẫy đang sử dụng phổ biến ở địa phương là Methyl eugenol. Đây là chất chỉ hấp dẫn con đực của các loài ruồi đục quả giống Bactrocera (Allwood and Drew, 1996; Keng- Hong Tan and Nishida, 1996) mà không hấp dẫn con ruồi cái. Trong khi con cái mới là nhân tố trực tiếp đẻ trứng vào quả. Biện pháp sử dụng bẫy phòng trừ ruồi lại được ghi nhận đặc biệt phù hợp với những vùng biệt lập về địa lý (Allwood and Drew, 1996), nếu dùng riêng lẻ thì sẽ không thành công (Sabine,1992). Biện pháp vệ sinh đồng ruộng là một trong những biện pháp khá hữu hiệu trong mô hình phòng trừ tổng hợp ruồi (Allwood và ctv., 1996). Tuy nhiên, thực tế điều tra tại vùng trồng dâu Hạ Châu của huyện Phong Điền (Cần Thơ) cho thấy tỷ lệ giữa hộ có thực hiện vệ sinh và hộ không thực hiện biện pháp vệ sinh là gần bằng nhau. Các điểm thực hiện vệ sinh đồng ruộng kém này sẽ là những ổ phát sinh nguồn cho các thế hệ ruồi đục quả kế tiếp sinh sôi và tiếp tục gây hại. Do đó, đây chính là một trong những nguyên nhân khiến cho ruồi đục quả xuất hiện liên tục quanh năm tại khu vực này. 3.2 Diễn biến số lƣợng các loài ruồi đục quả (Tephritidae) vào bẫy tại hai ấp Nhơn Bình và Nhơn Phú thuộc xã Nhơn Ái huyện Phong Điền, TP. Cần Thơ Số lượng ruồi bắt trong bẫy dẫn dụ ở vườn thí nghiệm và vườn đối chứng trong các tháng đầu thí nghiệm khá thấp, trung bình chỉ dưới 15 ruồi/bẫy/ngày. Thực tế vào thời điểm này chỉ vài vườn trồng giống dâu chua có quả chuẩn bị chín, dâu Hạ Châu quả còn nhỏ, các quả ký chủ khác như xoài, khế đang ở giai đoạn quả xanh. Do đó sự hiện diện của ruồi trên cả hai vườn chưa có đột biến, vào thời điểm dâu thu hoạch thì số lượng ruồi tăng rất nhanh và điều này là hoàn toàn phù hợp cơ chế điều chỉnh loài (Phạm Bình Quyền, 2006). Cụ thể, số lượng ruồi trong bẫy ở vườn thí nghiệm từ 3,3 ruồi/bẫy (22/8/2018) sau bảy ngày tăng lên 31,8 ruồi/bẫy/ngày (29/8/2017) và có đỉnh cao là 37,6 ruồi/bẫy/ngày (ngày điều tra 6/9/2017) (hình 2). Trong khi đó, số lượng ruồi bắt trong bẫy tại vườn đối chứng ở cùng thời điểm quan sát tương ứng lần lượt là 9,7 ruồi/bẫy 49 ruồi/bẫy/ngày (29/8/2017) và 53,4 ruồi (6/9/2017). Số lượng ruồi trong bẫy vườn đối chứng tiếp tục tăng cao ở những ngày điều tra sau và đạt đỉnh cao là 58,5 ruồi/bẫy/ngày vào 21/9/2017. Đặc biệt đến cuối vụ dâu, trong khi xu hướng chung tại vườn thí nghiệm là giảm thì ở vườn đối chứng vẫn biến thiên theo hướng tăng. Ví dụ, ở ngày điều tra 27/9 đến 20/10 số lượng ruồi trong bẫy trung bình ở vườn thí nghiệm tương ứng lần lượt là 11,8; 6,7; 4,7 ruồi/bẫy/ngày thì ở vườn đối chứng là 7,8; 21,0 và 9,8 ruồi/bẫy/ngày, cao gấp đôi so với số lượng ruồi bắt trong bẫy ở vườn thí nghiệm (hình 2). Hình 2. Diễn biến số lƣợng ruồi trung bình vào bẫy dẫn dụ ở các vƣờn dâu Hạ Châu thí nghiệm và đối chứng (xã Nhơn Ái, huyện Phong Điền, tháng 6/2017- 10/2017) Ghi chú: ngày TB: trung bình; Công thức 1: vườn mô hình áp dụng theo quy trình quản lý tổng hợp ruồi đục trái; Công thức 2: vườn đối chứng 37.6 4.7 14.9 31.8 1.6 15.0 9.8 58.5 49.0 12.1 33.9 0.0 10.0 20.0 30.0 40.0 50.0 60.0 70.0 2/ 6/ 20 17 16 /6 /1 7 30 /6 /1 7 14 /7 /1 7 4/ 8/ 20 17 16 /8 /1 7 29 /8 /1 7 14 /9 /1 7 27 /9 /1 7 20 /1 0/ 17 Ngày Ruồi/bẫy/ngày Vườn thí nghiệm Vườn đối chứng Kết quả nghiên cứu khoa học BVTV - Sè 3/2018 13 Để thấy rõ hơn hiệu quả của các biện pháp áp dụng trong mô hình, dự án đã tiến hành đánh giá tỷ lệ quả bị hại. Kết quả cho thấy tỉ lệ quả bị ruồi gây hại ở ngày điều tra đầu tiên (02/6/2017) tương đương nhau giữa vườn thí nghiệm và vườn đối chứng (0,6% ở vườn thí nghiệm và 0,5 % ở vườn đối chứng). Tuy nhiên chỉ sau 01 tháng (tháng Bẩy), khi dâu Hạ Châu bắt đầu chín thì tỷ lệ quả hại ở vườn đối chứng là 2,2% cao gấp hơn ba lần so với vườn thí nghiệm (0,6%; ngày 7/7/2017) (hình 3). Khoảng cách chênh lệch này tiếp tục được nới rộng trong tháng Tám khi tỷ lệ quả bị hại của vườn đối chứng là 13,7% và vườn phòng trừ là 4,9%. Càng về chín rộ (tháng Chín), sự chênh lệch về tỷ lệ quả bị ruồi gây hại thể hiện rất rõ. Cụ thể, ở vườn đối chứng tỷ lệ quả bị hại thấp nhất là 35,9% trong khi vườn thí nghiệm cao nhất chỉ là 8,1% (hình 3). Hình 3. Tỷ lệ quả bị ruồi gây hại tại các vƣờn dâu Hạ Châu thí nghiệm và đối chứng (xã Nhơn Ái, huyện Phong Điền, TP. Cần Thơ, 2017) Ghi chú: TLH: Tỷ lệ hại Nhận xét chung Khi so sánh tổng số ruồi đục quả bắt được ở bẫy dẫn dụ tại các vườn cũng như tỷ lệ quả bị hại thì vườn đối chứng luôn cao hơn gấp nhiều lần so với vườn thí nghiệm (hình 2 và hình 3). Trong thực tế, biện pháp vệ sinh đồng ruộng được thực hiện đồng loạt ở các vườn thí nghiệm, song lại không đồng đều và không thường xuyên ở vườn đối chứng đã dẫn đến hình thành tụ điểm tái phát ruồi. Ở vườn đối chứng, mặc dù người dân có treo bẫy dẫn dụ nhưng bẫy chỉ diệt con đực, con cái không bị tiêu diệt dẫn đến ruồi vẫn gây hại cho quả. Trong khi đó, ở vườn thí nghiệm ngoài việc thực hiện tốt hai biện pháp vệ sinh đồng ruộng và treo bẫy còn được bổ sung thêm biện pháp phun bả protein. Như vậy, vườn thí nghiệm cho kết quả tốt nhất là khi mật độ quần thể ruồi giảm nhờ sự hỗ trợ lẫn nhau của các biện pháp: biện pháp treo bẫy sẽ tiêu diệt bớt con đực, những con đực còn lại cùng với con cái có trên vườn sẽ bị tiêu diệt bởi ăn phải hỗn hợp bả protein với thuốc sâu và biện pháp loại bỏ ký chủ sẽ ngăn cản không cho nguồn ruồi tái phát sinh. Tuy nhiên, số lượng ruồi thu trong bẫy ở vườn mô hình vào thời kỳ dâu Hạ Châu chín (hình 1) khá cao, đỉnh điểm đạt trung bình 37,6 ruồi/bẫy/ngày (6/9/2018) là điều cần quan tâm. Ngoài nguyên nhân là do mô hình mới chỉ được thực hiện trong 4 tháng thì chỉ số này cho thấy nguy cơ dịch ruồi đục quả ở khu vực là khá cao bởi diện tích mô hình chỉ chiếm 15,6 % so với tổng diện tích 675 ha dâu Hạ Châu của toàn huyện (Trạm khuyến nông huyện Phong Điền, 2017). Do đó rất cần sự quan tâm đầu tư của chính quyền và chính người sản xuất trong việc tiếp tục triển khai trên diện rộng các giải pháp tổng hợp phòng chống ruồi đục quả. 4. KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 4.1 Kết luận Tại huyện Phong Điền, các vườn dâu Hạ Châu được trồng liền kề nhau với diện tích trồng của mỗi hộ đa số là từ 2000 đến 5000 m 2 ,năng suất phổ biến ở mức 10-20 tấn/ha. Ruồi đục quả xuất hiện quanh năm, người dân đã phun thuốc BVTV và treo bẫy diệt ruồi song do tỷ lệ hộ 8.1 3.7 0.6 4.9 35.9 26.8 48.7 43.3 2.20.5 13.7 0.0 10.0 20.0 30.0 40.0 50.0 60.0 2/6/2017 23/6/17 14/7/17 11/8/2017 29/8/17 21/9/17 20/10/17 Ngày Tỷ lệ hại (%) TLH% Vườn thí nghiệm TLH% Vườn đối chứng Kết quả nghiên cứu khoa học BVTV - Sè 3/2018 14 không tham gia các tổ chức xã hội rất cao (72%) nên việc tiếp cận thông tin cùng với tính tự phát trong phòng trừ ruồi dẫn đến hiệu quả thấp. Phòng trừ ruồi đục quả dâu Hạ Châu trên diện rộng cần phối hợp ba biện pháp gồm (i) Định kỳ vệ sinh đồng ruộng bằng cách hái và thu gom chôn lấp quả bị ruồi gây hại; (ii) Phun điểm định kỳ bả protein sau khi đậu quả 40 ngày và dừng phun trước đợt thu hoạch cuối cùng 10 ngày; (iii) Treo 20 bẫy dẫn dụ diệt con đực/ha cho hiệu quả khá, tỷ lệ quả bị ruồi gây hại ở cuối vụ ở vườn mô hình là 3,7%, vườn đối chứng là 43,3%. 4.2 Đề nghị Triển khai giải pháp quản lý ruồi đục quả đồng loạt cho toàn vùng sản xuất từ khi quả dâu Hạ Châu được 40 ngày tuổi. Mở rộng diện tích ứng dụng kết quả nghiên cứu nhằm góp phần thực hiện thành công định hướng phát triển “Hình thành các tiểu vùng nông nghiệp đặc trưng” của ngành nông nghiệp thành phố Cần Thơ. TÀI LIỆU THAM KHẢO 1. Allwood A.J. and L.Leblanc, 1996, Losses caused by fruit flies (Diptera: Tephritidae) in seven Pacific Island countries”. In: Management of Fruit flies in The Pacific - ACIAR proceedings N 0 76. A.J.Allwood and R.A.I.Drew. tr. 208-211. 2. AllWood A.J. and Drew R.A.I., 1996. Management of Fruit flies in The Pacific, ACIAR proceedings N 0 76, pp. 111-113, 171 – 178. 3. Keng-Hong Tan and R. Nishida, 1996. Sex Pheromone and Mating competition after Methyl Eugenol consumption in the Bactrocera dorsalis complex. In: Fruit fly pests: A world assessment of their biology and management. Bruce A.McPheron, Gary J.Steck, 1996. pp.147-153. 4. Nguyễn Thị Thanh Hiền, Lê Đức Khánh, Lê Quang Khải, Vũ Thị Thuỳ Trang, Trần Thanh Toàn, Trần Thị Thuý Hằng, Đặng Đình Thắng, Lê Công Hoàng, Đào Kim Dung, Nguyễn Hữu Quang, Lê Ngọc Thành, 2012. Nghiên cứu biện pháp quản lý ruồi hại trái thanh long trên diện rộng nhằm nâng cao chất lượng sản phẩm trái xuất khẩu tại Bình Thuận. Báo cáo tổng kết nhiệm vụ cấp nhà nước về giải quyết vấn đề cấp thiết tại địa phương. 5. Phạm Bình Quyền, 2006. Sinh thái học côn trùng, Nhà xuất bản Nông Nghiệp, tr.107-117. 6. Sabine B.N.E., 1992. Pre-havest control methods. International training course 4-15 th May 1992 Fruit flies. 7. Trạm khuyến nông huyện Phong Điền, Báo cáo năm 2017. 8. UBND thành phố Cần Thơ, Kế hoạch số 23/KH- UBND ngày 27 tháng 02 năm 2017, Xây dựng và phát triển huyện Phong Điền thành đô thị sinh thái. Phản biện: TS. Nguyễn Văn Liêm HIỆU QUẢ PHÕNG TRỪ TUYẾN TRÙNG SẦN RỄ HỒ TIÊU (Meloidogyne sp.) CỦA CHẾ PHẨM NẤM Paecilomyces lilacinus Efficacy to Control Root-Knot Nematode (Meloidogyne sp.) on Black Pepper of Paecilomyces lilacinus Formulation Nguyễn Thị Hai, Chu Thị Bích Phƣợng và Đinh Thành Hiếu Trường Đại học Công nghệ thành phố Hồ Chí Minh Ngày nhận bài: 12.05.2018 Ngày chấp nhận đăng: 22.05.2018 Abstract The aim of this study to evaluate the efficiency of Paecilomyces lilacinus formulation on parasitic nematodes Meloidogyne sp. on black pepper. The effects of P. lilacinus on the root-knot nematode were examined in the laboratory and field conditions. Testing in the laboratory indicated that percentage of parasitized female and egg masses were 93.75% and 95.33% respectively at 5 day and 6 days after inoculating of P. lilacinus formulation. Trials in the black pepper field conditions showed the efficacy to control root-knot nematodes on soil was 73.67% in P. lilacinus formulation and 70.08% in carbofuran treated plots. In further, use of P. lilacinus formulations improved plant growth. Slow wilt disease index of black pepper in P. lilacinus plots is lower in control plot and carbosulfan plot. Keywords: Black pepper, Meloidogyne sp., Pacilomyces lilacinus, root-knot nematode

Các file đính kèm theo tài liệu này:

  • pdfphong_tru_tong_hop_ruoi_duc_qua_dau_ha_chau_tai_huyen_phong.pdf
Tài liệu liên quan