Mục đích của bài tập:
+ Bồi dưỡng cho học viên kĩ năng lựa
chọn phương pháp dạy học, tổ chức hoạt
động khi có sự hỗ trợ của CNTT, biết tận
dụng ưu điểm của CNTT để hoạt động hóa
người học;
+ HV xác định được phương pháp dạy
học phù hợp với sự hỗ trợ của CNTT;
+ HV sử dụng CNTT để tổ chức các
tình huống dạy học theo hướng hoạt động
hóa người học.
- Phương pháp tiến hành:
Bước 1, 2 và 3: Tổ chức cho HV tự
nghiên cứu và trao đổi, thảo luận bài tập 3
như sau:
Bài tập 3:
Một GV đã tổ chức hoạt động dạy học
về “Các nguyên tắc truyền máu” trong bài
“Đông máu và nguyên tắc truyền máu” (bài
15 - Sinh học lớp 8) theo phương pháp biểu
diễn thí nghiệm minh họa, anh/chị có nhận
xét gì về PPDH của GV này?
Bước 4: GV trao đổi về ý nghĩa, yêu
cầu của kĩ năng:
Mục tiêu của hoạt động dạy học nội
dung này là: Qua bài học, học sinh trình
bày được các nguyên tắc truyền máu và cơ
sở khoa học của nguyê tắc truyền máu;
Học sinh có được hứng thú và nâng cao kĩ
năng tìm tòi phát hiện kiến thức.[4]
Trong trường hợp dạy bằng phương
pháp biểu diễn thí nghiệm minh họa: GV
rất khó thực hiện, mất nhiều thời gian
chuẩn bị, tốn nhiều tiền của, kết quả thí
nghiệm khó thành công.; phương pháp
giải thích minh họa chưa phát huy tính tích
cực học tập của học sinh. Như vậy, với nội
dung kiến thức và mục tiêu đã xác định
như trên thì GV dạy bằng phương pháp
biểu diễn thí nghiệm minh họa rõ ràng là
không hiệu quả.
Trong trường hợp này, CNTT có thể
mô phỏng quá trình thí nghiệm trên rất dễ
dàng và khắc phục hoàn toàn các nhược
điểm trên. CNTT còn được ứng dụng trong
thiết kế hoạt động dạy học nội dung này
bằng phương pháp vấn đáp tìm tòi từ đó
phát huy được tính tích cực nhận thức của
người học.
Như vậy bản thân phương tiện không
mang lại giá trị dạy học mà biện pháp sử
dụng nó mới là quyết định. Do đó, khi có
sự hỗ trợ của CNTT, người GV cần biết tận
dụng ưu điểm của CNTT để thiết kế các
hoạt động dạy học nhằm phát huy tính tích
cực nhận thức của người học.
Bước 5: Tổ chức cho HV giải bài tập
tương tự nhằm củng cố kĩ năng. Bài tập 4
như sau:
10 trang |
Chia sẻ: hachi492 | Lượt xem: 4 | Lượt tải: 0
Bạn đang xem nội dung tài liệu Phương pháp bồi dưỡng kĩ năng ứng dụng công nghệ thông tin cho giáo viên Trung học Cơ sở để tổ chức bài dạy sinh học, để tải tài liệu về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
TAÏP CHÍ ÑAÏI HOÏC SAØI GOØN Soá 21 - Thaùng 6/2014
65
PHƯƠNG PHÁP BỒI DƯỠNG KĨ NĂNG ỨNG DỤNG
CÔNG NGHỆ THÔNG TIN CHO GIÁO VIÊN
TRUNG HỌC CƠ SỞ ĐỂ TỔ CHỨC BÀI DẠY SINH HỌC
NGUYỄN VĂN THẮNG(*)
TÓM TẮT
Hiện nay, kĩ năng sử dụng công nghệ thông tin là một công cụ mới và hữu ích trong
dạy học ở trường Trung học cơ sở. Việc nâng cao kĩ năng ứng dụng công nghệ thông tin
trong dạy học vừa là một nhiệm vụ của ngành Giáo dục và Đào tạo, vừa là một đòi hỏi
thực tế để nâng cao hiệu quả dạy học. Bài viết giới thiệu một số phương pháp bồi dưỡng kĩ
năng ứng dụng công nghệ thông tin cho giáo viên ở trường Trung học cơ sở để dạy học
Sinh học dựa trên phân tích mối quan hệ các yếu tố kĩ năng công nghệ thông tin và phương
pháp dạy học bộ môn.
Từ khóa: Kĩ năng ứng dụng công nghệ thông tin, phương pháp dạy học, tích hợp công
nghệ thông tin trong dạy học.
ABSTRACT
Currently, information technology skills are applied in teaching that is considered
as a new and useful tool at the secondary school. Improve teacher,s information
technology skills in teaching that are as a mission of the Education and Training Ministry,
and as a practical requirement to improve teaching effectiveness. The article introduces
some methods of fostering skills in information technology application for school teachers
to teach biology subject based on analyzing the relationship of elements of information
technology skills and biology teaching methods.
Keywords: The information technology skill, the teaching method, integrate
information technology skills and teaching skills.
1. ĐẶT VẤN ĐỀ (*)
Việc đưa công nghệ thông tin (CNTT)
vào hỗ trợ giảng dạy và học tập là một xu
hướng đang được ngành Giáo dục & Đào
tạo đặc biệt quan tâm nhằm đáp ứng nhu
cầu xã hội và phát huy tính tích cực, chủ
động, sáng tạo trong học tập của học sinh
(HS), sinh viên. Chỉ thị số 29/2001/CT-
BGD&ĐT ngày 30/7/2001 của Bộ trưởng
Bộ Giáo dục & Đào tạo đã yêu cầu "Đẩy
mạnh ứng dụng CNTT ở tất cả các cấp học,
(*)TS, Khoa Sư phạm Khoa học Tự nhiên, Trường
Đại học Sài Gòn
bậc học, ngành học”, chỉ thị số
47/2008/CT- BGD&ĐT cũng khẳng định
“Đẩy mạnh một cách hợp lý việc triển khai
ứng dụng CNTT trong đổi mới phương
pháp dạy học ở từng cấp học”. Ngày
30/9/2008 Bộ trưởng Bộ Giáo dục & Đào
tạo ban hành chỉ thị số 55/2008/CT -
BGDĐT về tăng cường giảng dạy, đào tạo
và ứng dụng CNTT trong ngành Giáo dục
giai đoạn 2008 - 2012. Năm học 2008 -
2009 được Bộ Giáo dục & Đào tạo lấy chủ
đề là “năm học CNTT”. Từ năm học 2009 -
2010 các cấp học, ngành học ứng dụng
PHƯƠNG PHÁP BỒI DƯỠNG KĨ NĂNG ỨNG DỤNG CÔNG NGHỆ
66
CNTT là nhiệm vụ bắt buộc. Gần đây nhất,
thông tư số: 4987/BG&ĐT-CNTT, ngày
2/8/2012 hướng dẫn thực hiện nhiệm vụ
CNTT năm học 2012 - 2013 yêu cầu “Đẩy
mạnh việc ứng dụng CNTT trong trường
phổ thông nhằm đổi mới phương pháp dạy
và học theo hướng giáo viên tự tích hợp
CNTT vào từng môn học thay vì học trong
môn Tin học.”
Mặt khác, thực tế dạy học ở các trường
Trung học cơ sở cho thấy nhiều giáo viên
lúng túng không biết sử dụng CNTT trong
các giờ học như thế nào để có hiệu quả
thực sự. Nhiều trường hợp khi sử dụng
CNTT ít nhiều cũng tạo ra sự hứng thú
nhất định cho HS, do các em được nhìn
nhiều màu sắc, được nghe nhiều âm thanh,
được thấy sự hoạt náo do công nghệ mới
đem lại, không đơn điệu chỉ là phấn trắng
bảng đen. Song đó có thể là những minh
họa mang tính hình thức, thậm chí chỉ là
thay cho việc viết bảng, việc sử dụng
CNTT như vậy chưa hiệu quả, có khi còn
kém hiệu quả. Bởi vậy vấn đề đặt ra là sử
dụng CNTT thế nào cho hiệu quả?
Xuất phát từ những yêu cầu thực tế
trên, với mong muốn nâng cao hiệu quả bồi
dưỡng thường xuyên việc ứng dụng CNTT
cho giáo viên dạy bộ môn Sinh học, từ đó
góp phần nâng cao chất lượng dạy và học ở
trường Trung học cơ sở, chúng tôi thực
hiện nghiên cứu và công bố vấn đề này.
2. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
Để thực hiện việc đào tạo, bồi dưỡng
kĩ năng sử dụng CNTT cho giáo viên (GV)
Sinh học được hiệu quả theo tinh thần các
thông tư, chỉ thị của Ngành Giáo dục &
Đào tạo và đáp ứng nhu cầu thực tế dạy
học thì cần phải nghiên cứu các vấn đề cơ
bản sau: Một là chuẩn kĩ năng ứng dụng
CNTT của người GV Sinh học; Hai là
chương trình và nội dung bồi dưỡng kĩ
năng ứng dụng CNTT trong dạy học Sinh
học; Ba là phương pháp bồi dưỡng kĩ năng
CNTT cho GV Sinh học. Trong khuôn khổ
một bài báo chúng tôi xin chỉ đề cập đến
phương pháp bồi dưỡng kĩ năng CNTT cho
GV Sinh học hiện nay.
Theo chúng tôi, kĩ năng ứng dụng
CNTT trong dạy học nói chung, trong dạy
học Sinh học nói riêng bao gồm 3 thành tố
cơ bản: Kĩ năng sử dụng phần mềm tin học
làm công cụ; kĩ năng thiết kế bài dạy có sự
hỗ trợ của CNTT; kiến thức về phương
pháp dạy học (PPDH) chuyên ngành. Để
xác định được phương pháp bồi dưỡng kĩ
năng CNTT cho GV Sinh học hiện nay
trước hết phải phân tích và dựa vào mối
liên hệ giữa các thành tố nêu trên.
2.1. Mối quan hệ giữa kĩ năng CNTT,
kĩ năng thiết kế bài dạy, kiến thức PPDH
Sinh học
Một cách mô hình hóa, có thể biểu
diễn hệ thống kỹ năng sử dụng CNTT cần
thiết cho GV Sinh học trong mối quan hệ
thống nhất giữa các thành phần liên quan
với nhau như trong sơ đồ:
NGUYỄN VĂN THẮNG
67
Sơ đồ mối quan hệ thống nhất giữa kĩ năng ứng dụng CNTT
trong dạy học Sinh học với các thành phần liên quan.
Sơ đồ cho thấy, kĩ năng ứng dụng
CNTT trong dạy học của GV Sinh học là
tổng hòa của kĩ năng công nghệ và kĩ năng
PPDH chuyên ngành tương ứng, hai nhóm
kĩ năng này phụ thuộc, bổ sung cho nhau
làm tăng khả năng tổ chức truyền đạt, tổ
chức học sinh tự lực thu nhận, xử lí thông tin
đa dạng, phong phú trong thiết kế bài dạy
Sinh học. Các kĩ năng này chỉ phát huy hiệu
quả khi dựa trên nền tảng PPDH bộ môn.
Như vậy, kĩ năng ứng dụng CNTT của
GV trong dạy học thực chất bao hàm cả các
kĩ năng sử dụng công nghệ thông tin và
PPDH bộ môn. Kĩ năng sử dụng công nghệ
và PPDH bộ môn có mối quan hệ mật thiết,
trình độ công nghệ tốt kết hợp với PPDH
hiệu quả sẽ đưa việc ứng dụng CNTT của
GV trong dạy học đạt ở trình độ cao. Đây là
một cơ sở lí luận quan trọng được chúng tôi
sử dụng khi xác định phương pháp bồi dưỡng
GV Sinh học trong giai đoạn hiện nay.
2.2. Phương pháp bồi dưỡng kĩ năng
ứng dụng CNTT cho giáo viên ở trường
Trung học cơ sở để tổ chức bài dạy Sinh học
Các kĩ năng ứng dụng CNTT trong dạy
học có tính chuyên ngành thực chất bao
hàm cả kiến thức chuyên ngành, kiến thức
PPDH chuyên ngành và các thao tác sử
dụng phần mềm nhất định. Vì vậy, phương
pháp bồi dưỡng kĩ năng ứng dụng CNTT
trong dạy học phải thể hiện được sự gắn kết
của các yếu tố này. Muốn vậy, trong
phương pháp bồi dưỡng, rèn luyện luôn
phải sử dụng những bài tập có tính chuyên
ngành. Đây là phương pháp bồi dưỡng tích
hợp giữa kĩ năng CNTT, kiến thức chuyên
ngành Sinh học và kiến thức PPDH bộ môn.
2.2.1. Phương pháp bồi dưỡng kĩ năng
sử dụng một số phần mềm công cụ trong
dạy học Sinh học
Tổng hợp từ nghiên cứu lí luận và thực
tiễn [6], [1], [2], [3], chúng tôi xây dựng
Kĩ năng
PPDH
Sinh học Kĩ năng thiết kế bài dạy Sinh học
có ứng dụng
CNTT
Kĩ năng CNTT
Kĩ năng ứng dụng CNTT
trong dạy học Sinh học
PHƯƠNG PHÁP BỒI DƯỠNG KĨ NĂNG ỨNG DỤNG CÔNG NGHỆ
68
phương pháp sử dụng các bài tập hình
thành các kĩ năng ứng dụng phần mềm
công cụ theo 5 bước sau:
Bước 1: GV nêu mục tiêu bài tập, định
hướng hoạt động;
Bước 2: GV làm mẫu một lần với tốc
độ bình thường, có giải thích;
Bước 3: GV làm chậm và học viên
(HV) làm theo;
Bước 4: HV tự thực hành lại, tự đánh
giá và đánh giá chéo;
Bước 5: HV tập làm theo nhiệm vụ mới
với định hướng của GV, thực hành sáng tạo.
Trong năm bước trên, từ bước 1 đến
bước 4, GV chỉ sử dụng một bài tập mẫu
để hình thành cho HV các thao tác cơ bản
của kĩ năng. Trong bước 5, GV cần ra thêm
các bài tập khác nhau để HV tìm hiểu sâu
hơn về đặc điểm, yêu cầu của kĩ năng vừa
rèn luyện.
Quan điểm trong xây dựng các bài tập
là mang tính vận dụng thực tế, chỉ tập trung
rèn các thao tác cần thiết nhất. Sao cho
trong một thời lượng nhất định, HV đã có
khả năng thực hiện các thao tác này chính
xác, có kết quả rõ ràng. Sau này, từ nền cơ
bản này, HV sẽ có thể “tự tin” để tự khám
phá các đặc tính khác của phần mềm.
Trước khi bước vào hình thành kĩ năng
sử dụng các phần mềm công cụ, chúng tôi
yêu cầu từng HV lựa chọn một bài hoặc
đoạn bài Sinh học sẽ được thiết kế khi kết
thúc các bài tập này. Bài này sẽ là sản
phẩm “đầu ra” để đánh giá về kĩ năng của
HV. Trong suốt tiến trình các bài thực
hành, các HV cũng cần tập trung tìm kiếm,
biên tập, xây dựng “nguyên liệu” cho bài
dạy được lựa chọn này.
* Ví dụ phương pháp bồi dưỡng kĩ
năng xử lí hình ảnh số để dạy học Sinh học.
Việc khai thác hình ảnh Sinh học từ
Internet và các nguồn khác (máy ảnh số,
scan) đóng vai trò quan trọng trong dạy
học, nhưng quan trọng hơn là GV phải có
khả năng biên tập, chỉnh sửa hình ảnh phù
hợp với ý đồ sư phạm của mình. Do đó, kĩ
năng xử lí hình ảnh số là kĩ năng đặc trưng
và cần thiết với GV Sinh học.
Hiện nay, có rất nhiều phần mềm giúp
xử lí hình ảnh với mức độ chuyên nghiệp
khác nhau, nổi tiếng là bộ phần mềm của
Adobe (Adobe Photoshop), Studio, Picasa,
.... Tuy nhiên, không phải máy tính nào
cũng luôn cài đặt Photoshop, Studio....Hơn
nữa, những phần mềm này rất chuyên
nghiệp cho nên có quá nhiều tính năng mà
trong một thời gian nhất định người học
khó mà làm chủ được. Ở đây, chúng tôi
dùng phần mềm Adobe Photoshop
Express for Windows để bồi dưỡng kĩ năng
xử lí hình ảnh; phần mềm Windows Live
Movie Maker 2012 16.4 để bồi dưỡng biên
tập phim. Vì đây là 2 phần mềm phổ biến,
khi máy vi tính sử dụng hệ điều hành
Windows thì có thể cài đặt, sử dụng được.
Giao diện của phần mềm đơn giản, tính
năng vừa đủ đối với những thao tác xử lí
hình ảnh thông thường. Trong một thời
lượng nhất định, người học có thể thực
hiện tốt các thao tác cơ bản này.
* Ví dụ phương pháp bồi dưỡng kĩ
năng chỉnh sửa hình ảnh bằng phần
mềm Adobe Photoshop Express for
Windows
Học phần mềm Adobe Photoshop
Express for Windows, yêu cầu cần đạt
được với kĩ năng: HV biết xóa, chỉnh sửa
một phần hình ảnh; chỉnh sửa, thêm chú
thích cho hình ảnh. Sau đây là những hoạt
động cụ thể của GV và HV khi học phần
mềm này:
NGUYỄN VĂN THẮNG
69
Hoạt động của GV Hoạt động của HV
Bước 1: Nêu mục đích của bài tập.
Yêu cầu HV cùng lấy 01 hình ảnh về tế bào thực
vật (Plant cell) từ mạng Internet.
HV cùng tìm và lấy 01 hình ảnh tế
bào
thực vật giống nhau.
Bước 2: Làm mẫu việc chỉnh sửa một phần hình
ảnh vừa lấy xuống từ mạng Internet.
Quan sát
Bước 3: Làm chậm từng bước:
- Xóa một phần hình ảnh
- Thay thế một phần hình ảnh
- Thay thế chữ chú thích
- Thêm chữ chú thích (trong và ngoài hình ảnh).
Làm theo từng bước
Bước 4: Dành thời gian cho HV tự thực hành lại. Tự làm, tự điều chỉnh, tự đánh giá, tự
trao đổi, học hỏi lẫn nhau.
Bước 5:
- Yêu cầu HV hoặc tự tìm thêm hoặc tiến hành
chỉnh sửa hình ảnh đã lựa chọn để phục vụ đoạn
bài dự định xây dựng
- Trợ giúp khi cần thiết; giám sát, đánh giá.
Tự thực hành chỉnh sửa, biên tập
hình ảnh đã lựa chọn sao cho phù
hợp với ý đồ sư phạm của đoạn bài
dự định dạy.
* Ví dụ phương pháp bồi dưỡng kĩ năng xử
lí phim để dạy học Sinh học bằng phần mềm
Windows Live Movie Maker 2012 16.4
Học về phần mềm Windows Live
Movie Maker 2012 16.4, yêu cầu cần đạt
được với kĩ năng: chỉnh sửa các thành
phần, biên tập đoạn phim khoa học theo ý
đồ sư phạm của người dạy, đảm bảo
nguyên tắc dạy học và nguyên tắc sử dụng
phương tiện trực quan trong dạy học. Sau
đây là những hoạt động cụ thể của GV và
HV khi học phần mềm này:
Hoạt động của GV Hoạt động của HV
Bước 1: Nêu mục đích của bài tập.
Yêu cầu HV cùng lấy 01 đoạn phim về sự tạo
thành nước tiểu từ mạng Internet.
HV cùng tìm và lấy 01 đoạn phim về
sự tạo thành nước tiểu.
Bước 2: Làm mẫu việc chỉnh sửa đoạn phim vừa
lấy xuống từ mạng Internet.
Quan sát
Bước 3: Làm chậm từng bước:
- Chèn đoạn phim, chèn nhạc và lời thoại, chèn
ảnh, ghi chú thích
- Biên tập nội dung: Làm tiêu đề, cắt đoạn, chèn
âm thanh, tăng giảm thời lượng, tạo hiệu ứng,
làm lời thoại
Làm theo từng bước
PHƯƠNG PHÁP BỒI DƯỠNG KĨ NĂNG ỨNG DỤNG CÔNG NGHỆ
70
- Kết thúc: làm tiêu đề kết thúc, lưu trữ phim,
chạy thử.
Bước 4: Dành thời gian cho HV tự thực hành lại. Tự làm, tự điều chỉnh, tự đánh giá, tự
trao đổi, học hỏi lẫn nhau.
Bước 5:
- Yêu cầu HV hoặc tự tìm thêm hoặc tiến hành
chỉnh sửa đoạn phim đã lựa chọn để phục vụ
đoạn bài dự định xây dựng
- Trợ giúp khi cần thiết; giám sát, đánh giá.
Tự thực hành chỉnh sửa, biên tập
đoạn phim đã lựa chọn sao cho phù
hợp với ý đồ sư phạm của đoạn bài
dự định dạy.
2.2.2. Phương pháp bồi dưỡng kĩ năng
thiết kế bài dạy Sinh học có sự hỗ trợ của
CNTT
Việc sử dụng các phương pháp là phải
theo hướng tích cực hóa người học [2]. Ở
đây, việc sử dụng phương pháp bồi dưỡng
kĩ năng cho HV được chúng tôi thực hiện
theo quy trình 5 bước như sau:
Bước 1: GV tổ chức cho HV tự nghiên
cứu bài tập;
Bước 2: GV tổ chức cho HV trao đổi
thảo luận, giải bài tập;
Bước 3: HV báo cáo kết quả, GV
hướng dẫn thảo luận, kết luận;
Bước 4: GV trao đổi về ý nghĩa của kĩ
năng, yêu cầu của kĩ năng;
Bước 5: Tổ chức cho HV giải bài tập
tương tự nhằm củng cố kĩ năng.
Sau đây chúng tôi sẽ trình bày lần lượt
việc vận dụng quy trình 5 bước này trong sử
dụng một số dạng bài tập hình thành kĩ năng
thiết kế bài dạy Sinh học có sự hỗ trợ của
CNTT.
* Ví dụ phương pháp sử dụng bài tập
bồi dưỡng kĩ năng lựa chọn bài dạy/đơn vị
kiến thức phù hợp để ứng dụng CNTT
- Mục đích của bài tập:
+ Bồi dưỡng cho học viên kĩ năng lựa
chọn nội dung bài dạy và loại hình bài dạy
phù hợp để ứng dụng CNTT nhằm đạt hiệu
quả cao. Bài dạy Sinh học cần sự hỗ trợ
của CNTT khi có đặc điểm kiến thức trừu
tượng như đối tượng mô tả có kích thước
quá nhỏ (cấp độ phân tử, cấp độ tế bào)
hoặc quá lớn (Quần thể, Hệ sinh thái); cơ
chế, quá trình diễn biến quá nhanh và phức
tạp (các quá trình trao đổi chất) hoặc diễn
biến quá chậm (quá trình sinh trưởng, diễn
thế sinh thái). Loại hình bài thể hiện ở
dạng “bài giảng điện tử” thường là bài lên
lớp lí thuyết.
+ HV phân tích được đặc điểm kiến
thức của bài dạy;
+ Xác định được tính chất của kiến
thức phù hợp với việc ứng dụng CNTT.
- Phương pháp tiến hành:
Bước 1, 2 và 3: Tổ chức cho HV tự
nghiên cứu và trao đổi, thảo luận bài tập 1
như sau:
Bài tập 1:
Trong các bài học sau, bài học/đơn vị
kiến thức nào cho phép ứng dụng CNTT
theo dạng “bài giảng điện tử” đạt hiệu quả
cao, vì sao? (Sinh học 8)
1. Tế bào; 2. Phản xạ; 3. Cấu tạo và tính
chất của xương; 4. Bài thực hành: Tập sơ
cứu và băng bó cho người bị gãy xương; 5.
Máu và môi trường trong của máu; 6. Bài
tiết nước tiểu; 7. Bài thực hành: Phân tích
một khẩu phần cho trước.
Bước 4: GV trao đổi về ý nghĩa, yêu
cầu của kĩ năng:
NGUYỄN VĂN THẮNG
71
Bài dạy Sinh học cần sự hỗ trợ của
CNTT khi có đặc điểm kiến thức trừu
tượng như đối tượng mô tả có kích thước
quá nhỏ (tế bào, máu và môi trường trong
của máu bài 1, 5); cơ chế, quá trình diễn
biến quá nhanh và phức tạp (Phản xạ và
cung phản xạ, bài 2); diễn biến quá chậm
và phức tạp (quá trình tạo thành nước tiểu,
bài 6). Loại hình bài thể hiện ở dạng “bài
giảng điện tử” thường là bài lên lớp lí
thuyết.
Bước 5: GV Tổ chức cho HV giải bài
tập tương tự nhằm củng cố kĩ năng bằng
bài tập 2 như sau:
Bài tập 2
Trong từng bài học sau, phần kiến thức
nào trong bài cho phép ứng dụng CNTT để
tổ chức dạy học hiệu quả? Vì sao?
1. Tiến hóa của hệ vận động và vệ sinh
hệ vận động (Bài 11 - Sinh học 8);
2. Sự điều hòa và phối hợp hoạt động
của các tuyến nội tiết (Bài 59 - Sinh học 8).
Mục đích của bài tập 2 là củng cố kĩ
năng phân tích được đặc điểm kiến thức
của bài dạy; xác định được tính chất của
kiến thức phù hợp với việc ứng dụng
CNTT.
Ở bài 11 Sinh học 8 có 2 đơn vị kiến
thức cơ bản: I. Sự tiến hoá của bộ xương
người so với bộ xương thú; II. Sự tiến hoá
của hệ cơ người so với hệ cơ thú. Nội dung
bài 11, Theo [4] có thể sử dụng tranh vẽ
trong sách giáo khoa, tổ chức hoạt động
nhóm, vấn đáp tìm tòi. Theo chúng tôi,
thành phần kiến thức trong bài xuất phát sự
so sánh các đặc điểm cấu tạo bộ xương và
hệ cơ trong cơ thể người và cơ thể thú
(Tinh tinh) để phát hiện sự tiến hóa.
Phương pháp dạy học bài 11 như vậy là
phù hợp. Nếu bài này dạy bằng giáo án
điện tử hiệu quả sẽ không cao hơn nhiều,
trường hợp chuẩn bị giáo án không chu đáo
có thể gây "loãng” thông tin.
Ở bài 59 Sinh học 8, có 2 đơn vị kiến
thức cơ bản: I. Điều hòa hoạt động của các
tuyến nội tiết; II. Sự phối hợp hoạt động
của các tuyến nội tiết. Kiến thức bài này là
quá trình sinh lí, sinh hóa, diễn ra đồng
thời và phối hợp nhiều cơ quan bộ phận
trong cơ thể người. Bài này có đặc điểm
kiến thức trừu tượng; cơ chế, quá trình diễn
biến quá nhanh và phức tạp. Sử dụng giáo
án không có hỗ trợ phương tiện CNTT thì
lượng thông tin cung cấp cho học sinh có
thể chưa đủ, chưa trực quan hết các vấn đề
sinh học phức tạp của nội dụng bài học. Do
vậy cần có sự hỗ trợ của CNTT để tăng
hiệu quả dạy học.
Qua dạng bài tập 1 và 2, HV rút ra
được kết luận sơ bộ là không phải tất cả
các bài dạy Sinh học đều cần đến và có thể
ứng dụng CNTT để tổ chức hoạt động dạy
học được hiệu quả. Hơn nữa, với bài tập 2,
HV cũng rút ra kết luận không được lạm
dụng CNTT trong dạy học Sinh học (Bài
11, Sinh học 8). Vì khi ứng dụng CNTT để
dạy những kiến thức không phù hợp thì
không những không phát huy được tính
tích cực của người học mà còn làm giảm tư
duy trừu tượng của người học, không phát
huy đa giác quan của người học và không
rèn các kĩ năng nghiên cứu thực nghiệm
cho HS.
* Ví dụ phương pháp sử dụng bài tập
bồi dưỡng kĩ năng lựa chọn, phối hợp
PPDH để ứng dụng CNTT theo hướng tích
cực hóa người học
- Mục đích của bài tập:
+ Bồi dưỡng cho học viên kĩ năng lựa
chọn phương pháp dạy học, tổ chức hoạt
động khi có sự hỗ trợ của CNTT, biết tận
dụng ưu điểm của CNTT để hoạt động hóa
người học;
+ HV xác định được phương pháp dạy
PHƯƠNG PHÁP BỒI DƯỠNG KĨ NĂNG ỨNG DỤNG CÔNG NGHỆ
72
học phù hợp với sự hỗ trợ của CNTT;
+ HV sử dụng CNTT để tổ chức các
tình huống dạy học theo hướng hoạt động
hóa người học.
- Phương pháp tiến hành:
Bước 1, 2 và 3: Tổ chức cho HV tự
nghiên cứu và trao đổi, thảo luận bài tập 3
như sau:
Bài tập 3:
Một GV đã tổ chức hoạt động dạy học
về “Các nguyên tắc truyền máu” trong bài
“Đông máu và nguyên tắc truyền máu” (bài
15 - Sinh học lớp 8) theo phương pháp biểu
diễn thí nghiệm minh họa, anh/chị có nhận
xét gì về PPDH của GV này?
Bước 4: GV trao đổi về ý nghĩa, yêu
cầu của kĩ năng:
Mục tiêu của hoạt động dạy học nội
dung này là: Qua bài học, học sinh trình
bày được các nguyên tắc truyền máu và cơ
sở khoa học của nguyê tắc truyền máu;
Học sinh có được hứng thú và nâng cao kĩ
năng tìm tòi phát hiện kiến thức.[4]
Trong trường hợp dạy bằng phương
pháp biểu diễn thí nghiệm minh họa: GV
rất khó thực hiện, mất nhiều thời gian
chuẩn bị, tốn nhiều tiền của, kết quả thí
nghiệm khó thành công...; phương pháp
giải thích minh họa chưa phát huy tính tích
cực học tập của học sinh. Như vậy, với nội
dung kiến thức và mục tiêu đã xác định
như trên thì GV dạy bằng phương pháp
biểu diễn thí nghiệm minh họa rõ ràng là
không hiệu quả.
Trong trường hợp này, CNTT có thể
mô phỏng quá trình thí nghiệm trên rất dễ
dàng và khắc phục hoàn toàn các nhược
điểm trên. CNTT còn được ứng dụng trong
thiết kế hoạt động dạy học nội dung này
bằng phương pháp vấn đáp tìm tòi từ đó
phát huy được tính tích cực nhận thức của
người học.
Như vậy bản thân phương tiện không
mang lại giá trị dạy học mà biện pháp sử
dụng nó mới là quyết định. Do đó, khi có
sự hỗ trợ của CNTT, người GV cần biết tận
dụng ưu điểm của CNTT để thiết kế các
hoạt động dạy học nhằm phát huy tính tích
cực nhận thức của người học.
Bước 5: Tổ chức cho HV giải bài tập
tương tự nhằm củng cố kĩ năng. Bài tập 4
như sau:
Bài tập 4:
Khi dạy nội dung phần “I. Phân biệt
phản xạ có điều kiện và phản xạ không
điều kiện”, bài 52 “Phản xạ không điều
kiện và phản xạ có điều kiện”, Sinh học 8,
nếu có sự mô phỏng kiến thức bằng CNTT
thì anh/chị tổ chức cho HS làm việc với
bảng 52.1 (trang 166) như thế nào? Nếu
không có sự hỗ trợ của CNTT thì hoạt
động này được tiến hành như thế nào?
Ở bài tập 4, HV phải suy nghĩ, bàn
luận về PPDH do chính mình lựa chọn
nhằm đạt được mục tiêu dạy học và đạt
được tiêu chí là tích cực hóa người học với
sự hỗ trợ của CNTT. Bên cạnh đó, bài tập
cũng giúp HV nhận thấy giá trị của CNTT
trong việc hỗ trợ hoạt động hóa người học.
Sự có mặt của công nghệ thông tin đã giúp
GV dễ dàng hơn trong việc tổ chức các
hoạt động nhận thức của học sinh.
* Ví dụ phương pháp sử dụng bài tập
hình thành kĩ năng lựa chọn tài nguyên
phù hợp với bài dạy
- Mục đích của bài tập:
+ Bồi dưỡng cho học viên kĩ năng
phân tích đặc điểm các tài nguyên. Đưa ra
các quyết định lựa chọn tài nguyên dựa
trên các tiêu chí: Chính xác, trực quan, phù
hợp với kiến thức của bài, bổ sung tư liệu
đã có trong sách giáo khoa, chất lượng hình
ảnh, dễ chỉnh sửa, phù hợp với ý đồ sư
phạm của mình;
NGUYỄN VĂN THẮNG
73
+ HV có kĩ năng lựa chọn hình ảnh
trong bộ tư liệu khai thác được từ mạng
internet.
- Phương pháp tiến hành:
Bước 1, 2 và 3: Tổ chức cho HV tự
nghiên cứu và trao đổi, thảo luận bài tập 5
như sau:
Bài tập 5
Nếu lựa chọn một trong sáu hình ảnh
sau để củng cố kiến thức bài “Tế bào” (Bài
3, Sinh học 8) thì anh/chị sẽ lựa chọn hình
ảnh nào? Sử dụng phương pháp và hình
thức tổ chức dạy học nào? Vì sao?
Bước 4: GV trao đổi về ý nghĩa, yêu
cầu của kĩ năng:
Trong dạy học Sinh học, các nguồn tư
liệu ở dạng hình ảnh đóng vai trò quan
trọng. Vì hình ảnh (tĩnh hay động) giúp
trực quan hóa, sinh động hóa rất nhiều kiến
thức Sinh học trừu tượng. Do đó, tìm kiếm
được nguồn tư liệu phù hợp với bài dạy là
rất có ý nghĩa. Song kĩ năng lựa chọn hình
ảnh trong một bộ tư liệu khai thác được từ
mạng Inernet lại càng quan trọng hơn. Vì
nếu lựa chọn tư liệu không phù hợp hoặc
quá “ôm đồm” thì đôi khi phản tác dụng.
Bước 5: Tổ chức cho HV giải bài tập
tương tự nhằm củng cố kĩ năng. Bài tập 6
như sau:
Bài tập 6:
Nếu tìm tư liệu hình ảnh để tổ chức
dạy học phần “2. Xác định chất khí thải ra
trong quá trình chế tạo tinh bột” (Bài 21,
Sinh học 6) thì anh/chị sẽ tìm và biên tập
hình ảnh có đặc điểm như thế nào để giúp
HS có thể nghiên cứu kiến thức phần này
một cách có hệ thống?
Như vậy, chúng tôi đã bồi dưỡng cho
HV kĩ năng sử dụng CNTT kết hợp với
PPDH để có thể thiết kế được bài dạy Sinh
học có sự hỗ trợ của CNTT. Để bồi dưỡng
các kĩ năng sử dụng CNTT cho GV chúng
tôi sử dụng phối hợp nhiều biện pháp: làm
mẫu, tổ chức đào tạo và cho HV thực hành
theo cách tiếp cận “trong công nghệ”; với
các kĩ năng thiết kế bài dạy Sinh học có sự
hỗ trợ của CNTT và kĩ năng sử dụng phần
mềm công cụ, chúng tôi thiết kế và sử dụng
các bài tập rèn luyện từng loại kĩ năng cụ thể.
PHƯƠNG PHÁP BỒI DƯỠNG KĨ NĂNG ỨNG DỤNG CÔNG NGHỆ
74
3. KẾT LUẬN
Kĩ năng ứng dụng CNTT trong dạy học
của GV Sinh học là tổng hòa của kĩ năng
công nghệ và kĩ năng PPDH chuyên ngành
tương ứng. Kĩ năng sử dụng công nghệ và
PPDH bộ môn có mối quan hệ mật thiết,
trình độ công nghệ tốt kết hợp với PPDH
hiệu quả sẽ đưa việc ứng dụng CNTT của
GV trong dạy học đạt ở trình độ cao.
Bồi dưỡng kĩ năng sử dụng công nghệ
cho GV muốn đạt hiệu quả cao thì cần thực
hiện theo mô hình đào tạo tích hợp kĩ năng
công nghệ với bối cảnh, kiến thức chuyên
môn của GV sẽ đạt hiệu quả cao.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Nguyễn Đức Thành (2006), Chuyên đề Tổ chức hoạt động học tập trong dạy học
Sinh học ở trường phổ thông, Trường ĐHSP Hà Nội.
2. Nguyễn Quang Vinh (Chủ biên), Trần Đăng Cát, Đỗ Mạnh Hùng (2004), Sinh học 8
(Sách giáo viên), NXB Giáo dục, Hà Nội.
3. Nguyễn Quang Vinh (Chủ biên), Trần Bá Hoành (2007), Phương pháp dạy học môn
Sinh học ở Trung học cơ sở, NXB Đại học sư phạm.
4. Nguyễn Văn Hiền (2008), “Tổ chức “học tập hỗn hợp” - biện pháp hình thành cho
sinh viên kỹ năng sử dụng công nghệ thông trong dạy học Sinh học”, Tạp chí Giáo
dục, (192), tr. 43-44 và 34.
5. Trần Bá Hoành, Trịnh Nguyên Giao (2000), Phát triển các phương pháp học tập tích
cực trong bộ môn Sinh học, NXB Giáo dục, Hà Nội.
6. www.intel.com/education/vn/.
* Nhận bài ngày: 3/1/2014. Biên tập xong: 5/6/2014. Duyệt bài: 12/6/2014.
Các file đính kèm theo tài liệu này:
phuong_phap_boi_duong_ki_nang_ung_dung_cong_nghe_thong_tin_c.pdf