Nghiên cứu quy trình vi nhân giống lan Giả hạc
cho thấy: hạt nẩy mầm tốt trên môi trường MS + 1
mg/l BA + 0,2 mg/l NAA hoặc MS + 1 mg/l NAA
với tỷ lệ nẩy mầm ≥ 85% ở 90 NSKG. Môi
trường thích hợp cho giai đoạn nhân nhanh chồi là
môi trường MS có BA ở nồng độ 1 mg/l và 2 mg/l
với kiểu cấy cắt chồi thành từng đoạn trên môi
trường 0,5mg/l NAA + 3 mg/l BA tạo được 12,50
chồi sau 12 tuần nuôi cấy. Ba môi trường thích
hợp nhất để giúp mẫu lan Giả hạc in vitro tạo cây
hoàn chỉnh là nghiệm thức D3 (môi trường MS +
30g/l đường), D5 (môi trường MS/2 + 20g/l
đường) và D6 (môi trường MS/2 + 30g/l đường).
Đồng thời, nghiệm thức D6 (môi trường MS/2 +
30 g/l đường) là môi trường thích hợp giúp cho
lan Giả hạc cấy mô tạo cây hoàn chỉnh và đạt tỉ lệ
sống cao (67,60%) trong vườn ươm giai đoạn
thuần dưỡng. Bên cạnh đó, cây đạt tỉ lệ sống cao
nhất (66,67%) và có khả năng sinh trưởng, phát
triển tốt trên giá thể than + dớn nhuyễn.
Mặt khác, để kết quả đề tài được triển khai nhân
rộng sản xuất, cần tiếp tục nghiên cứu khả năng
sinh trưởng và phát triển của những cây lan này
tại một số địa bàn trồng lan trong tỉnh.
10 trang |
Chia sẻ: hachi492 | Lượt xem: 2 | Lượt tải: 0
Bạn đang xem nội dung tài liệu Quy trình vi nhân giống lan giả hạc, để tải tài liệu về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
AGU International Journal of Sciences – 2021, Vol. 27 (1), 73 – 82
73
QUY TRÌNH VI NHÂN GIỐNG LAN GIẢ HẠC (Dendrobium anosmum)
Nguyễn Thị Mỹ Duyên1
1Trường Đại học An Giang, ĐHQG-HCM
Thông tin chung:
Ngày nhận bài: 20/08/2019
Ngày nhận kết quả bình duyệt:
30/03/2020
Ngày chấp nhận đăng:
01/2021
Title:
The process of
micropropagatio Dendrobium
anosmum.
Keywords:
Dendrobium anosmum, MS
medium, plant tissue culture,
propagation in vitro, Substrate
Từ khóa:
Giá thể, lan Giả hạc, môi
trường MS, nhân giống in itro,
nuôi cấy mô thực vật
ABSTRACT
This study was carried out to complete the process of micropropagatio the
orchid (Dendrobium anosmum) in order to provide seedlings. The research
includes six experiments which were performed with one random factor. The
result showed: (1) Seeds of D. anosmum germinated well on MS medium +1
mg/l BA + 0,2 mg/l NAA or MS medium + 1 mg/l NAA with germination rate
at 85% after 3 months cultivated; (2) MS medium + 1 mg/l BA and 2 mg/l BA
is good for the multiplication of the shoot with the method of cutting the
shoots into segments on MS medium + 0,5mg/l NAA + 3 mg/l BA with 12,50
shoot after 12 week cultivated (3); (4) The D. anosmum explants creating
complete plants was the most effective on the three medium which were MS +
30 g/l sucrose, MS/2 + 20 g/l sucrose and MS/2 + 30 g/l sucrose; (5) In the
taming stage, D. anosmum achieved the high survival rate 67.6% on MS/2 +
30 g/l sucrose; (6) After surveying the growth potential of D. anosmum
propagated by tissue culture method on several substrates, the recorded
survival rate of seedlings was highest (66.67%) on wood charcoal + fern
root after 120 days.
TÓM TẮT
Đề tài được thực hiện nhằm hoàn thiện quy trình vi nhân giống lan Giả hạc
(Dendrobium anosmum) để cung cấp nguồn cây giống là hết sức cần thiết
hiện nay. Đề tài gồm 6 thí nghiệm được bố trí theo thể thức hoàn toàn ngẫu
nhiên một nhân tố. Kết quả cho thấy: (1) Hạt lan Giả hạc nẩy mầm tốt trên
môi trường MS + 1 mg/l BA + 0,2 mg/l NAA hoặc MS + 1 mg/l NAA với tỷ lệ
≥ 85% sau 3 tháng nuôi cấy; (2) Môi trường thích hợp cho giai đoạn nhân
nhanh chồi là môi trường MS có BA ở nồng độ 1 mg/l và 2 mg/l với kiểu cấy
cắt chồi thành từng đoạn trên môi trường MS + 0,5mg/l NAA + 3 mg/l BA
tạo được 12,50 chồi sau 12 tuần (3); (4) Những mẫu lan Giả hạc in vitro tạo
cây hoàn chỉnh đạt hiệu quả nhất trên ba môi trường là MS + 30 g/l đường,
MS/2 + 20 g/l đường và MS/2 + 30 g/l đường; (5) Ở giai đoạn thuần dưỡng,
lan Giả hạc cấy mô đạt tỉ lệ sống cao ở môi trường MS/2 + 30 g/l đường với
tỉ lệ 67,60%; (6) Lan Giả hạc cấy mô đạt tỉ lệ sống cao 66,67% trên giá thể
than + dớn nhuyễn sau 120 ngày.
AGU International Journal of Sciences – 2021, Vol. 27 (1), 73 – 82
74
1. GIỚI THIỆU
Lan rừng Việt Nam có hơn 2.000 loài với rất
nhiều loài đẹp và có triển vọng kinh doanh trong
lĩnh vực thương mại. Theo Phan Thúc Huân
(2005), đã có 300 loài lan rừng Việt Nam được
nhiều nhà nghiên cứu, sưu tầm lan chọn lọc để sản
xuất, nhân giống, cung cấp cho thị trường thế
giới. Trong đó, Dendrobium là một trong 6 giống
phong lan rừng phổ biến được mọi người ưa
chuộng, mà đại diện là Denbrobium anosmum
(lan Giả hạc). Theo Trần Văn Bảo (1999), lan Giả
hạc là loài lan rừng quý hiếm ở Việt Nam có
nhiều trên dãy núi Trường Sơn từ Nam ra Bắc,
đặc điểm của loài này là siêng hoa, hoa to, đẹp và
có hương rất thơm.
Tuy nhiên, lan Giả hạc rừng tự nhiên hiện nay rất
khan hiếm do bị khai thác quá mức, tại các phòng
nuôi cấy mô trong nước ít có đề tài nghiên cứu về
nhân giống lan Giả hạc. Đồng thời, vấn đề tạo cây
in vitro hoàn chỉnh và thuần dưỡng cây con sau
giai đoạn vườn ươm đang còn gặp nhiều khó khăn
nên tỉ lệ cây con chết khi chuyển ra vườn ươm
còn khá cao. Dó đó, nguồn cây giống lan Giả hạc
in vitro trong nước chưa cung cấp đủ nhu cầu thị
trường nên giá thành cây lan giống còn khá cao.
Xuất phát từ những cơ sở trên, nghiên cứu được
thực hiện nhằm hoàn thiện quy trình vi nhân
giống lan Giả hạc để cung ứng nhu cầu thị trường
đồng thời bảo tồn nguồn cây giống để phục vụ
cho các nghiên cứu tiếp theo về lan Giả hạc.
2. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Địa điểm và thời gian
Thí nghiệm gieo hạt và nhân chồi được thực hiện
trong phòng nuôi cấy mô, Bộ môn Công nghệ
Sinh học, Trường Đại học An Giang. Thí nghiệm
thuần dưỡng được thực hiện tại vườn lan, Trường
Đại học An Giang. Thời gian từ tháng 9/2015 đến
tháng 7/2017.
2.2 Phương pháp nghiên cứu
2.2.1 Thí nghiệm 1: Khảo sát một số môi trường
gieo hạt thích hợp
- Vật liệu: trái lan D. anosmum được thụ phấn từ
cây lan giống tại Vườn lan Trường Đại học An
Giang, sau 4 tháng cắt trái khử trùng.
- Môi trường nuôi cấy: môi trường MS có bổ
sung BA và NAA.
- Bố trí thí nghiệm: bố trí theo thể thức hoàn
toàn ngẫu nhiên với 6 nghiệm thức (Bảng 1), 3
lần lặp lại, mỗi lần lặp lại là một keo.
- Chỉ tiêu theo dõi: ngày xuất hiện màu xanh,
ngày hạt nẩy chồi, tỷ lệ nẩy chồi.
Bảng 1. Các nghiệm thức thí nghiệm
Nồng độ BA (mg/l)
Nồng độ NAA (mg/l)
0 0,2 1
0 NT1 NT4 NT6
1 NT2 NT5
2 NT3
2.2.2 Thí nghiệm 2: Khảo sát ảnh hưởng của
chất điều hòa sinh trưởng BA (6-benzyl-
aminopurine) lên sự nhân chồi
- Vật liệu: chọn chồi ở thí nghiệm 1 cao khoảng
10 mm, cấy sang môi trường nhân chồi.
- Môi trường nhân chồi: môi trường MS bổ sung
BA ở nồng độ 0, 1, 2, 5, 10 (mg/l).
- Bố trí thí nghiệm: bố trí theo thể thức hoàn
toàn ngẫu nhiên với 5 nghiệm thức (A0-A4), 4
lần lặp lại, mỗi lần lặp lại 4 keo, cấy 4
mẫu/keo.
- Chỉ tiêu theo dõi: số chồi: trung bình số chồi
mới tạo thành; chiều cao chồi (cm): trung bình
AGU International Journal of Sciences – 2021, Vol. 27 (1), 73 – 82
75
chiều cao các chồi mới tạo thành; số lá: trung
bình số lá trên các chồi mới hình thành.
2.2.3 Thí nghiệm 3: Khảo sát hàm lượng auxin
và cytokinin thích hợp để nhân nhanh chồi
- Vật liệu: mẫu chồi lan Giả hạt in vitro từ thí
nghiệm 2.
- Môi trường nhân nhanh chồi: môi trường MS
có bổ sung BA và NAA ở các nồng độ khác
nhau.
- Bố trí thí nghiệm:
• Thí nghiệm 3a: được bố trí theo thể thức
hoàn toàn ngẫu nhiên với 5 nghiệm thức
(B0-B4), 3 lần lặp lại, mỗi lần lặp lại là 1
keo. Cấy 2 chồi/keo.
• Thí nghiệm 3b: được bố trí theo thể thức
hoàn toàn ngẫu nhiên với 5 nghiệm thức
(C0-C4), 3 lần lặp lại, mỗi lần lặp lại là 1
keo, 2 chồi cắt thành 4 mẫu cấy.
- Chỉ tiêu theo dõi: số chồi: trung bình số chồi
mới hình thành; chiều cao chồi (cm): trung
bình chiều cao các chồi mới tạo thành; số lá:
trung bình số lá trên các chồi mới hình thành.
2.2.4 Thí nghiệm 4: Khảo sát ảnh hưởng của
hàm lượng đường trong môi trường MS,
MS/2 đến khả năng tạo cây hoàn chỉnh của
chồi lan Giả hạc in vitro
- Vật liệu: chồi lan Giả hạc in vitro cao khoảng
1 cm.
- Môi trường nuôi cấy: môi trường MS, MS/2
(giảm một nửa thể tích dung dịch khoáng đa
lượng so với môi trường MS) có bổ sung hàm
lượng đường sucrose từ 0 đến 30 g/l, nồng độ
NAA cố định (1 mg/l).
- Bố trí thí nghiệm: bố trí theo thể thức hoàn
toàn ngẫu nhiên với 7 nghiệm thức (D0-D6),
mỗi nghiệm thức 3 lần lặp lại, mỗi lần lặp lại
là 7 keo. Cấy 3 mẫu/keo.
- Chỉ tiêu theo dõi: số lượng rễ; chiều dài rễ
trung bình (cm): đo từ gốc rễ đến chóp rễ của
3 rễ dài nhất; số lá; chiều cao chồi chính (cm):
đo từ mặt thạch đến đỉnh chồi.
- Thời gian theo dõi: 30, 60, 90 ngày sau khi
cấy.
2.2.5 Thí nghiệm 5: Khảo sát khả năng thích
nghi của lan Giả hạc cấy mô ở giai đoạn
thuần dưỡng
- Vật liệu: những cây lan con hoàn chỉnh thu từ
thí nghiệm 4 được chuyển từ phòng lạnh sang
phòng nhiệt độ thường trong một tuần, nhằm
giúp cây quen dần với điều kiện bình thường.
Sau đó, chúng được thuần dưỡng trong điều
kiện ánh sáng nhẹ (sử dụng lưới che để giảm
sáng), tránh mưa.
- Bố trí thí nghiệm: bố trí theo thể thức hoàn
toàn ngẫu nhiên, gồm 6 nghiệm thức (D1-D6),
mỗi nghiệm thức 3 lần lặp lại, mỗi lần lặp lại
là 2 chậu, mỗi chậu trồng 10 cây theo từng
nghiệm thức ở thí nghiệm 4.
- Chỉ tiêu theo dõi: Tỉ lệ cây sống (%) =
Tổng số cây sống
Tổng số cây
100
- Thời gian theo dõi: 10, 20, 30 ngày sau khi
thuần dưỡng.
2.2.6 Thí nghiệm 6: Khảo sát khả năng tăng
trưởng của cây lan Giả hạc cấy mô trên
các loại giá thể khác nhau
- Vật liệu: những cây lan Giả hạc cấy mô thu
được từ thí nghiệm 5 (cao từ 2-3 cm, có từ 3 -
4 lá, bộ rễ khỏe).
- Bố trí thí nghiệm: bố trí theo thể thức hoàn
toàn ngẫu nhiên với 5 nghiệm thức (E1-E5),
mỗi nghiệm thức 3 lần lặp lại, mỗi lần lặp lại
là một chậu, mỗi chậu trồng 10 cây.
- Chỉ tiêu theo dõi:
• Tỉ lệ cây sống (%) =
Tổng số cây sống
Tổng số cây
100
• Số chồi; chiều cao cây (cm): đo từ gốc
cây đến đỉnh thân; số lá; chiều dài lá
trung bình (cm): đo từ đầu đến chót lá.
- - Thời gian theo dõi: 30, 60, 120 ngày sau khi
trồng.
2.2.7 Xử lý số liệu: tất cả các nghiệm thức đều
được xử lý bằng phần mềm SAS 9.1.3.
3. KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN
3.1 Thí nghiệm 1: Khảo sát một số môi trường
gieo hạt thích hợp
AGU International Journal of Sciences – 2021, Vol. 27 (1), 73 – 82
76
Trái lan sau khi được khử trùng, xẻ lấy hạt cấy
vào môi trường cơ bản MS có bổ sung BA và
NAA với các nồng độ khác nhau. Hạt lan mới
gieo sẽ rất mịn và có màu trắng. Sau 30 ngày gieo
cấy thì hạt bắt đầu chuyển hóa và có màu xanh và
75 ngày sau khi gieo (NSKG) thì tất cả các hạt lan
đều nẩy chồi thành cây con. Nghiệm thức NT5
(MS + 1 mg/l BA + 0,2 mg/l NAA) và NT6 (MS
+ 1 mg/l NAA) sau 60 NSKG đều cho tỷ lệ hạt có
màu xanh là cao nhất và cũng cho tỷ lệ hạt nẩy
chồi cao nhất ở 90 NSKG là ≥ 85%. Đây là hai
môi trường thích hợp nhất cho hạt lan nẩy mầm.
Điều này chứng tỏ môi trường MS có BA và
NAA kết hợp với tỷ lệ thích hợp (5:1) sẽ cho hạt
nẩy chồi tốt hơn. Với môi trường MS có NAA cao
ở mức 1 mg/l cũng cho kết quả tương tự.
3.2 Thí nghiệm 2: Khảo sát ảnh hưởng của
chất điều hòa sinh trưởng BA (6-benzyl-
aminopurine) lên sự nhân chồi
Ở thời điểm 10 ngày sau khi cấy (NSKC), chồi
mới đã bắt đầu xuất hiện ở các nghiệm thức, tuy
nhiên sự khác biệt là không đáng kể. Do mẫu mới
cấy nên mới bắt đầu cảm ứng được với môi
trường mới, việc xuất hiện chồi mới có khả năng
là do cây có chứa hàm lượng cytokinin nội sinh
cao, nên tự có khả năng nẩy chồi. Đến 70, 80, 90
NSKC, chồi mới đã xuất hiện đầy đủ ở các
nghiệm thức.
Bảng 2. Ảnh hưởng của nồng độ BA đến sự nhân chồi lan Giả hạc 90 NSKC
Nghiệm thức BA (mg/l) Số chồi Số lá Chiều cao chồi (cm)
A0 0 1,42 c 2,67 b 1,53
A1 1 2,58 ab 4,35 a 2,20
A2 2 3,17 a 4,42 a 2,06
A3 5 2,00 bc 3,17 ab 1,69
A4 10 1,50 c 2,22 b 1,50
CV (%) 23,93 16,36 18,94
F * ** ns
Ghi chú: Trên cùng một cột, các giá trị trung bình theo sau bởi các chữ cái giống nhau thì khác biệt không có ý nghĩa; ns:
không khác biệt thống kê, *: khác biệt có ý nghĩa ở mức 5%, **: khác biệt có ý nghĩa ở mức 1%.
Như vậy, đối với môi trường MS có BA ở nồng
độ 1 mg/l và 2 mg/l cho khả năng nhân chồi tốt
nhất, tốt hơn khi không có sử dụng BA (A0, BA =
0 mg/l). Ngược lại, khi BA ở nồng độ quá cao
cũng không cho kết quả tốt, điển hình là ở nghiệm
thức A3, A4 với BA tương ứng là 5 mg/l và 10
mg/l. Kết quả này đáng ghi nhận khi chỉ sử dụng
một loại kích tố tăng trưởng là BA nồng độ 2 mg/l
mà chiều cao chồi đạt 4,42 cm sau 12 tuần. Trong
nghiên cứu của Nguyễn Quỳnh Trang và cs.
(2013), sử dụng môi trường Knuds bổ sung hai
loại kích tố tăng trưởng Kientin (0,1 ,g/l) và GA3
(0,5 mg/l) thuộc nhóm kích tố kéo dài chồi với
cao chồi đạt 2,45 cm sau 3 tuần.
3.3 Thí nghiệm 3: Khảo sát hàm lượng auxin
và cytokinin thích hợp để nhân nhanh chồi
❖ Thí nghiệm 3a:
Với kiểu cấy nguyên chồi, 12 tuần sau khi cấy
(TSKC) giữa các nghiệm thức có sự khác biệt ở
mức 5% về mặt thống kê. Trong đó, nghiệm thức
B4 cho kết quả số chồi tốt nhất 8,76 chồi, nghiệm
thức B2 có chiều cao chồi cao nhất 12,20 cm và
nghiệm thức B3 đạt số lá nhiều nhất 3,20 lá, tuy
nhiên 3 nghiệm thức này khác biệt không đáng kể
(Bảng 3). Đồng thời, nghiệm thức đối chứng B0
đạt kết quả thấp nhất ở cả 3 chỉ tiêu.
AGU International Journal of Sciences – 2021, Vol. 27 (1), 73 – 82
77
Bảng 3. Ảnh hưởng của nồng NAA và BA đến sự nhân nhanh chồi nguyên của lan Giả hạc 12 TSKC
Nghiệm thức NAA (mg/l) BA (mg/l) Số chồi Chiều cao chồi (cm) Số lá
B0 0 0 1,43 c 1,67 c 0,40 b
B1 0 2 4,68 bc 5,40 b 2,20 a
B2 0,5 2 6,33 ab 12,20 a 2,63 a
B3 0 3 5,13 abc 9,10 a 3,20 a
B4 0,5 3 8,76 a 10,20 a 2,86 a
CV (%) 32,30 26,57 27,75
F * * *
Ghi chú: Trên cùng một cột, các giá trị trung bình theo sau bởi các chữ cái giống nhau thì khác biệt không có ý nghĩa; *:
khác biệt có ý nghĩa ở mức 5%.
❖ Thí nghiệm 3b:
Thời điểm 12 TSKC, với kiểu cấy cắt chồi thành
từng đoạn ta thấy, nghiệm thức C4 đạt số chồi
nhiều nhất 12,50 chồi và cho số lá nhiều nhất 3,50
lá tương đương nghiệm thức C1 và nghiệm thức
C2 có chiều cao chồi cao nhất 16,67 cm, giữa các
nghiệm thức có sự khác biệt thống kê (Bảng 4).
Bảng 4. Ảnh hưởng của nồng NAA và BA đến sự nhân nhanh chồi nguyên của lan Giả hạc
cắt đoạn thời điểm 12 TSKC
Nghiệm thức NAA (mg/l) BA (mg/l) Số chồi Chiều cao chồi (cm) Số lá
C0 0 0 3,26 c 7,83 b 2,16 b
C1 0 2 8,53 abc 12,00 ab 3,50 a
C2 0,5 2 10,50 ab 16,67 a 3,16 a
C3 0 3 5,53 bc 8,66b 3,00 ab
C4 0,5 3 12,50 a 15,83 a 3,50 a
CV (%) 37,58 24,73 16,17
F * * *
Ghi chú: Trên cùng một cột, các giá trị trung bình theo sau bởi các chữ cái giống nhau thì khác biệt không có ý nghĩa; *:
khác biệt có ý nghĩa ở mức 5%.
Qua đó ta thấy, môi trường cho kết quả nhân chồi
tốt nhất khi bổ sung NAA ở nồng độ 0,5 mg/l và
BA ở nồng độ 2 mg/l và 3 mg/l. Đồng thời, kết
quả cũng cho thấy hiệu quả nhân chồi lan Giả hạc
khá cao và ưu thế khi sử dụng kỹ thuật cấy cắt
chồi thành từng đốt. Cụ thể như ở nghiệm thức số
4 cùng một môi trường nhưng khi cắt chồi thành
từng đoạn (C4) đạt 12,50 chồi sau 12 tuần trong
khi ở thí nghiệm không cắt đoạn thân (B4) chỉ đạt
8,76 chồi. Điều này phù hợp với thí nghiệm của
Chen và ctv. (2006), khi cắt đốt sẽ kích thích việc
tái sinh chồi bên rất mạnh, tỷ lệ chồi mới tạo
thành cao hơn khi không cắt.
3.4 Thí nghiệm 4: Khảo sát ảnh hưởng của
hàm lượng đường trong môi trường MS,
MS/2 đến khả năng tạo cây hoàn chỉnh của
chồi lan Giả hạc in vitro
Theo quan sát giai đoạn 30 NSKC, các chồi
lan đã xuất hiện rễ ở hầu hết các nghiệm thức trừ
nghiệm thức D0 và kéo dài đến 90 NSKC, phần
lớn các chồi ở nghiệm thức này có màu xanh nhạt,
AGU International Journal of Sciences – 2021, Vol. 27 (1), 73 – 82
78
nhỏ và kém phát triển. Kết quả Bảng 5 cho thấy,
khả năng hình thành rễ và kéo dài rễ đạt hiệu quả
cao nhất ở nghiệm thức D3 với 5,99 rễ và chiều
dài rễ trung bình là 1,18 cm, nhưng không có sự
khác biệt về mặt thống kê so với nghiệm thức D5
và D6 về cả hai chỉ tiêu trên. Khi cây được cấy
trên môi trường Knuds bổ sung 0,5 mg/l IBA hoặc
bổ sung 0,3 mg/l IBA + 0,1 mg/l NAA sau 3 tuần
đã tạo được trên 3 rễ/chồi trong nghiên cứu của
Nguyễn Quỳnh Trang và cs. (2013). Điều này cho
thấy, loài D.anosmum dễ thích nghi và phát triển
tốt trên nhiều loại môi trường nuôi cấy.
Bảng 5. Kết quả tạo cây hoàn chỉnh của chồi lan Giả hạc in vitro 90 NSKC
Nghiệm thức
MS + sucrose
(mg/l)
Số rễ
Chiều dài rễ
(cm)
Chiều cao
chồi (cm)
Số lá
D0 MS + 0 0,00 e 0,00 d 1,52 b 4,98 b
D1 MS + 10 1,34 d 0,63 bc 1,80 a 4,99 b
D2 MS + 20 4,63 b 0,93 ab 1,94 a 5,31 ab
D3 MS + 30 5,99 a 1,18 a 1,85 a 5,25 ab
D4 MS/2 + 10 2,67 c 0,56 c 1,78 a 5,43 a
D5 MS/2 + 20 5,27 ab 1,02 a 1,96 a 5,49 a
D6 MS/2 + 30 5,27 ab 1,10 a 1,97 a 5,01 b
CV (%) 14,2 23,1 5,7 4,2
F ** ** ** *
Ghi chú: Trên cùng một cột, các giá trị trung bình theo sau bởi các chữ cái giống nhau thì khác biệt không có ý
nghĩa; **: các nghiệm thức khác biệt có ý nghĩa ở mức 1%, *: các nghiệm thức khác biệt có ý nghĩa ở mức 5%;
NSKC: ngày sau khi cấy.
Đến thời điểm 90 NSKC, chiều cao chồi của các
nghiệm thức dao động từ 1,52 cm (D0) đến 1,97
cm (D6). Ta thấy rằng, khi hàm lượng đường
trong môi trường tăng thì chiều cao chồi cũng
tăng theo (từ 1,78-1,97 cm trong môi trường
MS/2) hoàn toàn tương đồng với kết quả nghiên
cứu của Nguyễn Quỳnh Trang và cs. (2013), khi
nhân chồi D. anosmum sau 3 tuần chiều cao chồi
tăng khi hàm lượng đường trong môi trường tăng
từ 10-30 g/l.
Bên cạnh đó, số lá trung bình cũng được ghi nhận
từ 4,98 lá đến 5,49 lá. Trong đó, các chồi lan ở
nghiệm thức D5 có số lá nhiều nhất (Bảng 5).
Như vậy, sau khi kết thúc thí nghiệm tạo cây hoàn
chỉnh nhận thấy đường sucrose là nguồn cung cấp
carbon chủ yếu cho cây và nó có vai trò quan
trọng đối với việc tạo cây hoàn chỉnh của lan Giả
hạc in vitro. Đồng thời, xác định được nghiệm
thức D3 (môi trường MS bổ sung 30 g/l đường),
D5 (môi trường MS/2 bổ sung 20 g/l đường) và D6
(môi trường MS/2 bổ sung 30 g/l đường) là ba
môi trường thích hợp nhất để giúp mẫu lan Giả
hạc in vitro tạo cây hoàn chỉnh. Các chồi lan Giả
hạc được cấy trên ba môi trường này có đặc điểm
chồi xanh tốt, to khỏe (Hình 1). Tuy nhiên, nếu
xét về hiệu quả kinh tế thì có thể sử dụng môi
trường có chứa khoáng MS/2 thay cho môi trường
chứa khoáng MS, tương tự, giữa hàm lượng
đường 20 g/l và 30 g/l thì có thể sử dụng hàm
lượng 20 g/l để có thể giảm được chi phí cho môi
trường nuôi cấy.
Từ đó cho thấy, lan Giả hạc in vitro thích ứng tốt
trên môi trường MS/2. Điều này phù hợp với nhận
định của Bùi Bá Bổng (1995): “Một số cây trồng
thích ứng tốt hơn trong môi trường MS có nồng
độ chất khoáng giảm 1/2 – 1/4”, và điều này cũng
đã được ghi nhận bởi Nguyễn Thị Mỹ Duyên
(2009) trên lan Dendrobium mini cấy mô.
AGU International Journal of Sciences – 2021, Vol. 27 (1), 73 – 82
79
Hình 1. Mẫu lan Giả hạc cấy mô ở thời điểm 90 NSKC
(Ghi chú: NT1: hàm lượng đường 10g/l, môi trường MS; NT2: hàm lượng đường 20g/l, môi trường MS; NT3:
hàm lượng đường 30g/l, môi trường MS; NT4: hàm lượng đường 10g/l, môi trường MS/2; NT5: hàm lượng
đường 20g/l, môi trường MS/2; NT6: hàm lượng đường 30g/l, môi trường MS/2)
3.5 Thí nghiệm 5: Khảo sát khả năng thích
nghi của lan Giả hạc cấy mô ở giai đoạn
thuần dưỡng
Sau khi tạo được cây hoàn chỉnh, các cây lan Giả
hạc ở từng nghiệm thức được đưa đi thuần dưỡng
để thích nghi với môi trường bên ngoài, do các
cây ở nghiệm thức đối chứng D0 vẫn chưa tạo rễ
nên không được dùng làm vật liệu cho thí nghiệm
2. Kết quả tỉ lệ sống của mẫu được ghi nhận cụ
thể qua Bảng 6.
Bảng 6. Kết quả tỉ lệ sống (%) của lan Giả hạc cấy mô ở giai đoạn thuần dưỡng
Nghiệm thức MS + sucrose (mg/l) 10 NSKTD 20 NSKTD 30 NSKTD
D1 MS + 10 53,8 c 30,8 c 15,4 c
D2 MS + 20 93,2 ab 65,0 ab 42,3 b
D3 MS + 30 97,7 a 58,2 b 36,2 b
D4 MS/2 + 10 95,0 ab 57,5 b 34,5 b
D5 MS/2 + 20 82,0 b 52,3 b 38,7 b
D6 MS/2 + 30 94,1 ab 77,9 a 67,6 a
CV (%) 9,6 19,6 22,6
F ** ** **
Ghi chú: Trên cùng một cột, các giá trị trung bình theo sau bởi các chữ cái giống nhau thì khác biệt không có ý nghĩa; **:
các nghiệm thức khác biệt có ý nghĩa ở mức 1%; NSKTD: ngày sau khi thuần dưỡng.
Thời điểm 10 NSKTD, nghiệm thức có tỉ lệ cây
sống cao nhất là D3 (97,7 %) và không có sự khác
biệt so với các nghiệm thức D2, D4 và D6 về mặt
thống kê, nhưng đến thời điểm 20 NSKTD ghi
nhận nghiệm thức D6 có tỉ lệ cây sống cao nhất
(77,9%), không khác biệt với nghiệm thức D2 về
mặt thống kê và có sự khác biệt so với các nghiệm
thức còn lại ở mức ý nghĩa 1%. Đến thời điểm 30
NSKTD, tỉ lệ cây sống của các nghiệm thức tiếp
tục giảm, dao động từ 15,4% đến 67,6%. Trong
đó, nghiệm thức D6 có tỉ lệ sống cao nhất (67,6%)
và khác biệt so với các nghiệm thức còn lại ở mức
ý nghĩa 1%.
Như vậy, kết thúc quá trình thuần dưỡng xác định
được nghiệm thức D6 (môi trường MS/2 bổ sung
30 g/l đường) là môi trường thích hợp giúp cây
lan Giả hạc cấy mô đạt tỉ lệ sống cao ở giai đoạn
thuần dưỡng.
3.6 Thí nghiệm 6: Khảo sát khả năng tăng
trưởng của cây lan Giả hạc cấy mô trên các
loại giá thể khác nhau
Ở thời điểm 30 NSKT, ghi nhận nghiệm thức E1
có tỉ lệ sống cao nhất là 86,67%, tiếp theo là
nghiệm thức E4 (73,33%) và E2 (66,67%) nhưng
giữa ba nghiệm thức này không có sự khác biệt về
mặt thống kê.
AGU International Journal of Sciences – 2021, Vol. 27 (1), 73 – 82
80
Bảng 7. Kết quả tỉ lệ sống (%) của lan Giả hạc cấy mô sau khi trồng trên các loại giá thể khác nhau
Nghiệm thức Giá thể 30 NSKT 60 NSKT 120 NSKT
E1 Than 86,67 a 66,67 a 26,67 b
E2 Xơ dừa 66,67 abc 40,00 b 13,33 b
E3 Dớn nhuyễn 46,67 bc 40,00 b 20,00 b
E4 Than + Dớn nhuyễn 73,33 ab 73,33 a 66,67 a
E5 Than + Xơ dừa 40,00 c 20,00 b −
Trung bình 62,67 48,00 31,67
F ** ** **
Ghi chú: Trên cùng một cột, các giá trị trung bình theo sau bởi các chữ cái giống nhau thì khác biệt không có ý nghĩa; **:
khác biệt có ý nghĩa ở mức 1%; NSKT: ngày sau khi trồng, “−”: cây chết.
Đến thời điểm 120 NSKT, tỉ lệ sống trung bình
giữa các nghiệm thức được ghi nhận là 31,67%.
Trong đó, nghiệm thức E4 (than + dớn nhuyễn) có
tỉ lệ sống cao nhất (66,67%) và khác biệt so với
các nghiệm thức khác ở mức ý nghĩa 1%, còn các
cây trồng trên giá thể than + xơ dừa (E5) chết gần
như hoàn toàn ở thời điểm này.
Bên cạnh đó, loài D.anosmum cũng đạt tỷ lệ sống
gần 100% trên giá thể là dương xỉ sau 10 ngày
thuần dưỡng trong nghiên cứu của Nguyễn Quỳnh
Trang và cs.(2013). Hay trong một nghiên cứu
khác của Bijaya và Deepa (2012) về loài D.
primulinum L. thuộc chi Dendrobium cũng đạt tỷ
lệ sống khá cao khoảng 70% trên giá thể là than
kết hợp rong rêu với tỷ lệ 2:1. Điều này cho thấy,
các loài thuộc chi Dendrobium thích nghi với
nhiều loại giá thể. Tuy nhiên, tại ĐBSCL thì giá
thể than + dớn nhuyễn rất dễ tìm mua và giá thành
cũng rẻ.
Mặt khác, ta thấy khả tăng tạo chồi và sự phát
triển chiều cao chồi của của các mẫu lan Giả hạc
đều tăng liên tục qua 120 ngày khảo sát (Bảng 8).
Trong đó, E4 là nghiệm thức đạt số chồi nhiều
nhất (2,33 chồi) đồng thời có sự phát triển chiều
cao nhanh nhất (2,96 cm) tại thời điểm 120
NSKT, nhưng không khác biệt so với các nghiệm
thức còn lại về chiều cao chồi.
Bảng 8. Kết quả chỉ tiêu số chồi và chiều cao chồi của lan Giả hạc cấy mô sau khi trồng
trên các loại giá thể khác nhau
Nghiệm
thức
Giá thể
30 NSKT 60 NSKT 120 NSKT
SC CC SC CC SC CC
E1 Than 1,35 a 1,35 c 1,78 1,68 2,17 a 2,58
E2 Xơ dừa 0,92 b 0,61 d 1,33 1,20 1,47 ab 2,67
E3 Dớn nhuyễn 0,83 b 2,08 b 1,00 2,13 1,17 b 2,35
E4 Than + Dớn nhuyễn 1,53 a 2,53 a 1,64 2,66 2,33 a 2,96
E5 Than + Xơ dừa 0,67 b 0,74 d 1,00 1,53 − −
Trung bình 20,3 16,5 39,9 37,9 32,6 23,0
F * ** ns ns * ns
Ghi chú: Trên cùng một cột, các giá trị trung bình theo sau bởi các chữ cái giống nhau thì khác biệt không có ý nghĩa; ns:
không khác biệt ý nghĩa thống kê,*: khác biệt có ý nghĩa ở mức 5%, **: khác biệt có ý nghĩa ở mức 1%; SC: số chồi, CC:
chiều cao chồi.
AGU International Journal of Sciences – 2021, Vol. 27 (1), 73 – 82
81
Đối với chỉ tiêu số lá, các chồi có số lá phát triển
và tăng liên tục qua các thời điểm 30, 60 và 120
NSKT. Tại thời điểm 120 NSKT, số lá trung bình
ở các nghiệm thức dao động từ 2,83 đến 3,72 lá.
Trong đó, E3 là nghiệm thức tạo số lá nhiều nhất
(3,72 lá), kế đến là nghiệm thức E4 (3,64 lá)
nhưng sự khác biệt giữa các nghiệm thức ở thời
điểm này không có ý nghĩa về mặt thống kê (Bảng
9). Bên cạnh đó, nghiệm thức E4 cũng được ghi
nhận là có khả năng tăng trưởng chiều dài lá dài
nhất với chiều dài trung bình 2,40 cm.
Bảng 9. Kết quả chỉ tiêu số lá và chiều dài lá của lan Giả hạc cấy mô sau khi trồng trên các loại giá thể khác nhau
Nghiệm thức Số lá Chiều dài lá
30 NSKT 60 NSKT 120 NSKT 30 NSKT 60 NSKT 120 NSKT
E1 1,89 b 2,17 abc 3,25 1,30 bc 1,31 bc 1,90
E2 1,08 c 1,17 c 2,83 0,73 cd 0,80 c 2,13
E3 2,67 a 3,50 a 3,72 1,72 b 1,87 ab 2,30
E4 3,19 a 3,25 ab 3,64 2,30 a 2,38 a 2,40
E5 0,89 c 1,89 bc − 0,51 d 1,07 bc −
CV (%) 20,8 33,8 22,1 24,4 33,0 23,1
F ** * ns ** * ns
Ghi chú: Trên cùng một cột, các giá trị trung bình theo sau bởi các chữ cái giống nhau thì khác biệt không có ý nghĩa, **:
các nghiệm thức khác biệt có ý nghĩa ở mức 1%, *: các nghiệm thức khác biệt có ý nghĩa ở mức 5%.
Từ kết quả phân tích trên ta thấy, nghiệm thức E4
với giá thể trồng là than + dớn nhuyễn giúp cho
cây lan Giả hạc cấy mô có khả năng sinh trưởng
và phát triển tốt nhất, đạt tỉ lệ sống cao (66,67%),
những cây lan Giả hạc được trồng trên giá thể này
có đặc điểm thân to, lá màu xanh đậm, nảy chồi
khỏe (Hình 2). Tuy nhiên, không phải bất kỳ loại
lan Dendrobium nào cũng thích hợp trồng trên giá
thể than + dớn nhuyễn, điển hình đối với lan cấy
mô Dendrobium mini ở giai đoạn đầu nuôi trồng
(từ cây mới ra mô đến khi cây được 7,5 tháng
tuổi) giá thể thích hợp là dớn và dừa miếng
(Nguyễn Thị Mỹ Duyên, 2009).
Hình 2. Các cây lan Giả hạc cấy mô được trồng trên giá thể than (A), xơ dừa (B), dớn nhuyễn (C) và than + dớn
nhuyễn (D) ở thời điểm 120 NSKT
4. KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ
Nghiên cứu quy trình vi nhân giống lan Giả hạc
cho thấy: hạt nẩy mầm tốt trên môi trường MS + 1
mg/l BA + 0,2 mg/l NAA hoặc MS + 1 mg/l NAA
với tỷ lệ nẩy mầm ≥ 85% ở 90 NSKG. Môi
trường thích hợp cho giai đoạn nhân nhanh chồi là
môi trường MS có BA ở nồng độ 1 mg/l và 2 mg/l
với kiểu cấy cắt chồi thành từng đoạn trên môi
trường 0,5mg/l NAA + 3 mg/l BA tạo được 12,50
chồi sau 12 tuần nuôi cấy. Ba môi trường thích
hợp nhất để giúp mẫu lan Giả hạc in vitro tạo cây
hoàn chỉnh là nghiệm thức D3 (môi trường MS +
30g/l đường), D5 (môi trường MS/2 + 20g/l
đường) và D6 (môi trường MS/2 + 30g/l đường).
Đồng thời, nghiệm thức D6 (môi trường MS/2 +
AGU International Journal of Sciences – 2021, Vol. 27 (1), 73 – 82
82
30 g/l đường) là môi trường thích hợp giúp cho
lan Giả hạc cấy mô tạo cây hoàn chỉnh và đạt tỉ lệ
sống cao (67,60%) trong vườn ươm giai đoạn
thuần dưỡng. Bên cạnh đó, cây đạt tỉ lệ sống cao
nhất (66,67%) và có khả năng sinh trưởng, phát
triển tốt trên giá thể than + dớn nhuyễn.
Mặt khác, để kết quả đề tài được triển khai nhân
rộng sản xuất, cần tiếp tục nghiên cứu khả năng
sinh trưởng và phát triển của những cây lan này
tại một số địa bàn trồng lan trong tỉnh.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
Bijaya Pant. & Deepa Thapa. (2012). In vitro
mass propagation of an epiphytic orchid,
Dendrobium primulinum Lindl. through shoot
tip culture. African Journal of Biotechnology,
11, 9970-9974.
Bùi Bá Bổng. (1995). Nhân giống cây bằng nuôi
cấy mô. An Giang: Sở Khoa Học và Công
Nghệ Môi Trường An Giang.
Nguyễn Thị Mỹ Duyên. (2009). Nhân giống
Dendrobium anosmum, Dendrobium mini
bằng phương pháp nuôi cấy mô. Nghiên cứu
các loại giá thể trồng lan Dendrobium mini
thích hợp và cho hiệu quả cao. Đề tài nghiên
cứa khoa học. Khoa Nông nghiệp – Tài
nguyên thiên nhiên, Trường Đại học An
Giang.
Nguyễn Quỳnh Trang., Vũ Thị Huệ., Khuất Thị
Hải Ninh. & Nguyễn Thị Thơ. (2013). Nhân
giống in vitro lan Phi điệp tím (Dendrobium
anosmum). Tạp chí Khoa học và Công nghệ
Lâm nghiệp, 3, 16-21.
Phan Thúc Huân. (2005). Hoa lan nuôi trồng và
kinh doanh. Thành phố Hồ Chí Minh: Nhà
xuất bản Phương Đông.
Trần Văn Bảo. (1999). Kỹ thuật nuôi trồng Phong
lan. Thành phố Hồ Chí Minh: Nhà xuất bản
Trẻ.
Các file đính kèm theo tài liệu này:
quy_trinh_vi_nhan_giong_lan_gia_hac.pdf