KẾT LUẬN
Có 21 chủng vi khuẩn khác nhau về đặc
điểm hình dạng và kích thước tế bào được phân
lập từ 4 loại môi trường. Trong đó 9 chủng có
khả năng kháng khuẩn và tỷ lệ số chủng có
hoạt tính kháng khuẩn chiếm 43%. Có 5 kiểu
kháng khuẩn được phát hiện: Chủng R3, R12,
R15, D3 và D6 chỉ kháng B. subtilis, trong đó
R3 kháng mạnh nhất. Chủng R7 chỉ kháng duy
nhất vi khuẩn Gram âm S. marcescens. Chủng
R8 có khả năng kháng mạnh với E. coli (4,25
mm), và B. subtilis (3,00 mm). Đặc biệt chủng
R10 thể hiện kháng mạnh cả 4 vi khuẩn kiểm
định. Đáng chú ý chủng R9 chỉ kháng vi khuẩn
Gram âm như S. marcescens, kháng mạnh S.
typhimurium (4,13 mm), và E. coli (4,00 mm).
Chủng R3 có thể là loài mới khi có mức độ
tương đồng về gen cao nhất là 98% đối với
Bacillus marisflavi TF-11 (GenBank No.
NR025240.1). Vi khuẩn R7 có mức độ tương
đồng về gen cao nhất 99% đối với vi khuẩn
Bacillus toyonesis BCT 7112 (GenBank No.
NR121761.1). Đặc biệt chủng R10 thể hiện
kháng mạnh cả 4 vi khuẩn kiểm định, và chủng
này được xác định có mức độ gen gần nhất với
Bacillus pumilus NCTC10337 (GenBank No.
LT906438.1). Chủng R9 được xem như một
chủng tiềm năng, nhằm nghiên cứu sản xuất
chất kháng sinh chỉ kháng vi khuẩn Gram âm
trong những nghiên cứu tiếp theo.
10 trang |
Chia sẻ: hachi492 | Lượt xem: 1 | Lượt tải: 0
Bạn đang xem nội dung tài liệu Screening of mangrove - derived bacteria from Ninh Ich, Ninh Hoa, Khanh Hoa for antimicrobial producers, để tải tài liệu về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
601
Vietnam Journal of Marine Science and Technology; Vol. 19, No. 4; 2019: 601–610
DOI: https://doi.org/10.15625/1859-3097/19/4/12898
Screening of mangrove - derived bacteria from Ninh Ich, Ninh Hoa,
Khanh Hoa for antimicrobial producers
Pham Thi Mien
*
, Nguyen Van Khoa
Institute of Oceanography, VAST, Vietnam
*
E-mail: mien.pham@gmail.com
Received: 24 December 2018; Accepted: 30 June 2019
©2019 Vietnam Academy of Science and Technology (VAST)
Abstract
In the context of global climate changes, mangroves are not only considered as an important ecological
region but also as a source of exploitation of specific biological objects for researches and applications. In
this study, mangrove-derived bacteria were isolated and screened for antimicrobial producers. Also, the
strains with potential antibacterial activity were identified by 16S rRNA gene analysis. Results showed that
43% of 21 strains possessed antibacterial activity. The strain R10 showed inhibition against all four indicator
bacteria and was identified as Bacillus pumilus with the highest sequence similarity of 100% to Bacillus
pumilus NCTC10337 (GenBank accession number LT906438.1). The strain R7 inhibited Serratia
marcescens causing severe “white spot” disease in reef building coral Acropora palmata and was closely
related to Bacillus toyonesis BCT 7112 (GenBank accession number NR121761.1) with 99% sequence
similarity. The strain R3 was the strongest strain against Bacillus subtilis compared with other strains which
revealed the same antimicrobial activity pattern. The strain R3 was affiliated with Bacillus marisflavi TF-11
(GenBank accession number NR025240.1) with 98% sequence similarity and may be considered to
represent new species. Moreover, the strain R9 inhibited only Gram negative tested strain and this strain was
considered as a potential candidate for further search of antibiotics with spectrum of Gram negative bacteria.
Keywords: Mangrove - derived bacteria, Bacillus sp., antimicrobial activity.
Citation: Pham Thi Mien, Nguyen Van Khoa, 2019. Screening of mangrove - derived bacteria from Ninh Ich, Ninh Hoa,
Khanh Hoa for antimicrobial producers. Vietnam Journal of Marine Science and Technology, 19(4), 601–610.
602
Tạp chí Khoa học và Công nghệ Biển, Tập 19, Số 4; 2019: 601–610
DOI: https://doi.org/10.15625/1859-3097/19/4/12898
Sàng lọc vi khuẩn phân lập từ rừng ngập mặn có khả năng kháng khuẩn
Phạm Thị Miền*, Nguyễn Văn Khoa
Viện Hải dương học, Viện Hàn lâm khoa học và công nghệ Việt Nam, Việt Nam
*
E-mail: mien.pham@gmail.com
Nhận bài: 24-12-2018; Chấp nhận đăng: 30-6-2019
Tóm tắt
Trong bối cảnh biển đối khí hậu toàn cầu, rừng ngập mặn không chỉ là một vùng sinh thái quan trọng mà còn
là nguồn khai thác các đối tượng sinh vật đặc thù nhằm nghiên cứu, áp dụng để phục vụ nhiều lĩnh vực nông
nghiệp thủy sản và công nghiệp. Trong nghiên cứu này, vi khuẩn rừng ngập mặn được phân lập, tách chiết
và thử nghiệm khả năng kháng khuẩn, chủng tiềm năng được định danh bằng 16S rRNA. Kết quả cho thấy
có 9/21 chủng vi khuẩn có hoạt tính kháng khuẩn. Chủng R10 kháng cả 4 vi khuẩn kiểm định và được xác
định là Bacillus pumilus với mức độ tương đồng về trình tự gen 16S rRNA cao nhất là 100% với Bacillus
pumilus NCTC10337 (GenBank No. LT906438.1). Chủng R7 chỉ kháng Serrtia marcescens - gây bệnh đốm
trắng nghiêm trọng ở san hô tạo rạn, có mức độ tương đồng về trình tự gen 16S rRNA cao nhất 99% đối với
vi khuẩn Bacillus toyonesis BCT 7112 (GenBank No. NR121761.1). Vi khuẩn R3 kháng lại Bacillus subtilis
mạnh nhất so với những chủng có cùng kiểu kháng khuẩn. Chủng R3 có mức độ tương đồng về trình tự gen
16S rRNA cao nhất là 98% đối với chủng Bacillus marisflavi TF-11 (GenBank No. NR025240.1) và do đó
có thể là loài mới, cần nghiên cứu thêm để khẳng định. Ngoài ra, chủng R9 chỉ kháng vi khuẩn Gram âm mà
không kháng vi khuẩn Gram dương, được xem xét như một chủng tiềm năng nhằm nghiên cứu tìm kiếm
chất kháng sinh với phổ kháng khuẩn Gram âm trong tương lai.
Từ khóa: Vi khuẩn từ rừng ngập mặn, Bacillus sp., hoạt động kháng khuẩn.
MỞ ĐẦU
Theo ước tính gần đây nhất của Jusoff
(2013) [1], hiện tại diện tích đầm ngập mặn
chiếm khoảng 181.000 km2 hoặc bao phủ
khoảng 75% diện tích đới ven bờ ở vùng biển
nhiệt đới và cận nhiệt đới của thế giới [2]. Từ
năm 1988, Alongi công bố rằng ở rừng ngập
mặn nhiệt đới, 91% tổng sinh khối vi sinh vật
là vi khuẩn và nấm, 7% khác là tảo, và 2% là
nguyên sinh bào khác [3]. Do rừng ngập mặn
luôn có những đặc tính đặc thù riêng theo vùng
địa lý như độ mặn, nhiệt độ, áp suất, bức xạ
nhiệt, chính vì thế vi sinh vật sống ở những
vùng rừng ngập mặn ở những vùng địa lý khác
nhau thì cũng có những đặc điểm sinh lý sinh
hóa khác nhau kể cả khi so sánh cùng đơn vị
loài [4]. Sự đa dạng vi khuẩn cổ và vi khuẩn
rừng ngập mặn được nghiên cứu đầu tiên bằng
phương pháp sinh học phân tử công bố bởi Yan
et al., (2006) [5] và Liang et al., (2007) [6]. Hệ
sinh thái rừng ngập mặn đang trở thành điểm
nóng cho việc khảo sát sinh học và khám phá
sản phẩm tự nhiên. Các loài xạ khuẩn rừng
ngập mặn khác nhau đang được xem như là
nguồn tài nguyên đầy hứa hẹn và hiệu quả cần
được khám phá. Tính đến năm 2013, đã có 73
chất mới và 49 chất đã biết được phân lập từ
các loài xạ khuẩn rừng ngập mặn. Chúng bao
gồm alkaloids, các chất dẫn xuất benzen, dẫn
xuất cyclopentenone, dilactones, macrolides, 2-
pyranones và sesquiterpenes. Nhiều hợp chất
đã được kiểm nghiệm và chứng minh là thuốc
Screening of mangrove - derived bacteria
603
kháng sinh tiềm năng mới, thuốc chống uốn
ván và kháng virut, các chất chống đông máu
và các chất chống oxy hoá. Hơn nữa, một số
con đường sinh tổng hợp của chúng cũng đã
được khám phá và công bố bởi Xu et al., [7].
Vi khuẩn rừng ngập mặn là nguồn của các chất
có hoạt tính sinh học mang đặc điểm của hệ
sinh thái rừng ngập mặn hoàn toàn khác với
những đặc điểm của hệ sinh thái trên cạn, một
số nghiên cứu tiêu biểu đã công bố tìm được
các chất mới, có hoạt tính sinh học quan trọng
như chất xiamycin có khả năng chống virus
HIV [8] chất chống ung thư vú dòng tế bào
MDA-MB-231 đồng thời có hoạt tính kháng
khuẩn [9]. Nấm Aspergillus flavipes cộng sinh
với cây rừng ngập mặn có khả năng sinh chất
kháng sinh flavipesins, chất này ở liều lượng
thấp đã có khả năng ức chế vi khuẩn gây bệnh
Staphylococcus aureus (8,0 µg/ml) và vi khuẩn
Bacillus subtitlis (0,25 µg/ml), hơn thế chất
kháng sinh này còn có khả năng chống lại hỗn
hợp đa chủng dưới loài S. aureus trong một
khối kết dính được gọi là biofilm bằng cơ thế
thấm qua màng biofilm và tiêu diệt các chủng
dưới loài bao bọc bên trong biofilm. Đây là một
phát hiện vô cùng quan trọng trong thời điểm
hiện tại vì hệ vi khuẩn trong một biofilm của
những vi khuẩn gây bệnh, đặc biệt với S.
aureus là chủng gây bệnh nhiễm trùng máu, vì
thực sự chúng có nhiều biến đổi về gen và đa
số là kháng thuốc kháng sinh hiện hành [10].
Một nghiên cứu khác tìm kiếm vi sinh vật từ
rừng ngập mặn cho mục đích tìm kiếm các
chủng có khả năng sinh kháng sinh cho thấy có
đến 26,38% của 144 chủng có hoạt tính hai
chủng đang được nghiên cứu tiếp theo để tìm
kiếm các enzyme phân hủy cellulose, sinh
enzyme protease, amylase nhằm tạo ra sản
phẩm sinh học ứng dụng trong nông nghiệp và
thủy sản [11]. Chất chiết từ nấm Trichoderma
có nguồn gốc từ rừng ngập mặn Pichavaram
(Ấn Độ) chống lại vi khuẩn gây bệnh cho
người và cho cá [12]. Một số nghiên cứu tìm
kiếm vi khuẩn rừng ngập mặn sinh chất kháng
sinh cũng được thực hiện tại Việt Nam. Điển
hình là công trình phân lập được 55 chủng xạ
khuẩn khác nhau từ rừng ngập mặn Cần Giờ,
trong đó chủng F46 có khả năng kháng nấm
Fusarium sp. mạnh [13]. Xạ khuẩn
Streptomyces sp. QN63 được phân lập từ trầm
tích rừng ngập mặn tại Yên Hưng Quảng Ninh
được xác định là một chủng có khă năng chịu
nhiệt, sinh chất kháng sinh kháng phổ rộng,
đáng kể là chất kháng sinh từ chủng xạ khuẩn
này có khả năng kháng mạnh vi khuẩn
Staphylococcus aureus nhờn thuốc kháng sinh
[14]. Rừng ngập mặn khu vực Ninh Hòa Khánh
Hòa có vai trò rất lớn đối với toàn hệ sinh thái
ven bờ tại đây, có thể nói rừng ngập mặn không
chỉ đóng góp về cân bằng sinh thái mà còn về
phát triển kinh tế đặc biệt nghề nuôi thủy sản.
Mục đích của nghiên cứu này nhằm tìm kiếm
những chủng vi khuẩn tiềm năng nội tại có khả
năng sinh kháng sinh, để phục vụ những nghiên
cứu sâu hơn áp dụng vi khuẩn nội tại vào vùng
nuôi thủy sản ven bờ.
PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Thu mẫu, phân lập vi khuẩn
Mẫu trầm tích được thu khi thủy triều
xuống tại vị trí có tọa độ 12o24’9”N,
109
o
10’4”E ở rừng ngập mặn Ninh Ích (Ninh
Hòa, Khánh Hòa). Mẫu trầm tích được thu cách
bề mặt 5 cm, được chứa trong túi PE vô trùng,
bảo quản trong thùng đá lạnh và vận chuyển về
phòng Sinh thái biển, Viện Hải dương học để
tiến hành các thí nghiệm tiếp theo. Vi khuẩn từ
trầm tích được phân lập đến thuần trên môi
trường Nutrient Agar (Himedia, Ấn Độ)
Czapek Agar (CSA) của DifcoTM, Hoa kỳ, R-
2A Agar Ấn độ, và M2 [15]. Hình dạng khuẩn
lạc và các đặc điểm hình thái được ghi chú,
nhuộm đơn, soi kính và chụp hình, xác định
Gram dựa trên kết quả phản ứng KOH [16].
Phương pháp kiểm tra khả năng kháng
khuẩn
Phương pháp đường cấy vuông góc: Vi
khuẩn cần kiểm tra được cấy trên NA theo một
đường thẳng, cấy vi khuẩn kiểm định thành
một đường vuông góc với chủng cần kiểm tra.
Sau 24 h nuôi cấy ở 37oC đối với Bacillus
subtilis (ATCC6633), Escherichia coli O157,
Salmonella typhimurium (ATCC 6994) ở 25oC
đối với với Serratia marcescens PDL100
(ATCC BAA-632) thì đọc kết quả. Nếu tại vị
trí vuông góc có khoảng cách vô khuẩn chứng
tỏ chủng cần kiểm tra có khả năng sinh kháng
sinh ngoại bào kháng lại vi khuẩn kiểm định.
Kiểm tra khả năng kháng khuẩn qua nuôi cấy
tách chiết chất thô và thử nghiệm trên môi
Pham Thi Mien, Nguyen Van Khoa
604
trường chuẩn Mueller Hinton Agar (MHA-
Himedia, Ấn độ) dựa theo nguyên lý khuyếch
tán thạch của Bauer et al., (1966) [17]. Vi
khuẩn cần kiểm tra khả năng kháng khuẩn được
nuôi trong 100 ml môi trường BM (yeast
extract: 1 g/l, beef extract: 1 g/l, tryptone: 2 g/l,
glucose: 10 g/l), lắc 120 rpm ở nhiệt độ phòng
(30
o
C ± 1) trong 72 h, dùng ethylacetate để tách
chiết chất thô và làm bay hơi dung môi sau đó
lấy lại chất thô với 1 ml methanol (Grade).
Dùng 30 µl chất thô hòa tan trong methanol
nhỏ vào 4 giếng thạch (n = 4) đã cấy vi khuẩn
chuẩn trên MHA với đối chứng âm là giếng chỉ
có 30 µl methanol, sau đó ủ đĩa có chất thô với
các vi khuẩn B. subtilis, E. coli và S.
typhimurium ở 37oC, vi khuẩn S. marcescens ở
25
o
C. Sau 24 h đọc kết quả dương tính nếu
xung quanh giếng có xuất hiện vòng vô khuẩn,
đo đường kính (mm) và tính vòng kháng khuẩn
trung bình với Microsoft excel.
Phương pháp định danh
Tách ADN và định danh đến loài qua phân
tích trình tự gen 16S rRNA [18].
KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN
Đặc điểm hình thái khuẩn lạc
Tổng số 21 khuẩn lạc có kích thước và màu
sắc hình dạng tương đối khác nhau đã được
phân lập trong đó gồm, R2A: 15 chủng, CSA: 5
chủng, M2: 1 chủng. Đặc điểm hình dạng, kích
thước, màu sắc khuẩn lạc phân lập sau 24 h
nuôi cấy trên môi trường NA được trình bày
trong bảng 1.
Bảng 1. Đặc điểm khuẩn lạc, tế bào của các chủng vi khuẩn phân lập được từ mẫu trầm tích
Chủng
Đường kính đk (mm)
Màu sắc
Hình dạng
Hình ảnh khuẩn lạc Hình ảnh tế bào
R1
Đk: 9–11, trắng tròn, lồi, vìa
răng cưa, bề mặt khô. Trực
khuẩn Gram dương, chuỗi
ngắn, kích thước 0,7 ×
4,0 µm.
R2
Đk: 7–9, ngả vàng, tròn, mép
đều. Bề mặt bóng, tâm khuẩn
lạc lồi. Trực khuẩn Gram
dương, chuỗi ngắn, bào tử
trung tâm, kích thước 0,6 ×
1,5 µm
R3
Đk: 9–13, vàng sậm tâm tròn,
rìa răng cưa không đều, bề
mặt bóng. Trực khuẩn Gram
dương, bào tử trung tâm, kích
thước 0,5 × 1,5 µm
R4
Đk:16–18, trắng, hơi tròn, bề
mặt khô. Trực khuẩn Gram
dương, bào tử lệch tâm, kích
thước 0,6 × 1,5 µm.
Screening of mangrove - derived bacteria
605
R5
Đk: 9–13, trắng ngà, mép hơi
loang nhầy. Trực khuẩn Gram
dương, chuỗi ngắn, bào tử
lệch tâm, kích thước 0,5 ×
3,0 µm.
R6
Đk: 2,0–2,5, vàng sậm
tròn mặt lồi bóng, mép đều.
Cầu khuẩn Gram dương, kích
thước 0,3 µm.
R7
Đk: 1,5–2,0 vàng tròn lồi, bề
mặt bóng. Cầu khuẩn Gram
dương kích thước 0,6 µm.
R8
Đk: 3,0–4,0 trắng vàng nhạt,
tròn lồi, mép đều, bề mặt
bóng. Cầu khuẩn Gram
dương, kích thước 0,5 µm.
R9
Đk: 4,0–5,0 trắng, tròn, khô,
rìa nhầy. Trực khuẩn Gram
dương, bào tử lệch tâm, kích
thước 0,7 × 1,2 µm.
R10
Đk: 4–5, trắng tròn, rìa răng
cưa. Trực khuẩn Gram dương,
bào tử trung tâm, kích thước
0,3 × 0,7 µm
R11
Đk: 7–8, trắng, tròn, khô, rìa
có thùy. Trực khuẩn Gram
dương chuỗi dài, kích thước
0,7 × 2,5 µm.
Pham Thi Mien, Nguyen Van Khoa
606
R12
Mọc lan bất định, trắng, rẽ
nhánh, nhầy. Trực khuẩn
Gram dương, chuỗi, bào tử
lệch tâm, kích thước 0,6 ×
2,5 µm.
R15
Đk: 3–4, vàng, tâm tròn có rìa
hoa, nhăn lồi. Trực khuẩn
Gram dương, chuỗi dài, kích
thước 0,7 × 2,5 µm.
R16
Đk: 3–4, trắng tròn, khô, có
rìa tròn màu nhạt. Trực khuẩn
Gram dương, chuỗi ngắn, bào
tử lệch tâm, kích thước 0,6 ×
2,5 µm.
R17
Đk: 3–5, trắng hơi ngả vàng,
tròn, bóng nhầy, rìa dày sậm
màu. Trực khuẩn Gram
dương, bào tử lệch tâm, kích
thước 0,5 × 1,2 µm.
D1
Đk: 2–3, trắng vàng, hơi tròn,
viền trắng nhầy.Trực khuẩn
Gram dương, bào tử trung
tâm, kích thước 0,3 × 1,2 µm.
D2
Đk: 4–5, vàng, hơi tròn, khô,
lồi. Cầu khuẩn Gram dương,
kích thước 0,6 µm.
D3
Đk: 2–3, vàng hồng, tròn, khô
cứng, bám thạch. Trực khuẩn
Gram dương, kích thước 0,3 ×
1 µm.
Screening of mangrove - derived bacteria
607
D4
Đk: 0,5–1, trắng trong, tròn,
bề mặt nhầy. Cầu khuẩn Gram
dương, kích thước 0,5 µm.
D6
Bất định, hơi vàng
trong, khối nhầy to, xù xì.
Trực khuẩn Gram dương, bào
tử trung tâm, kích thước 0,3 ×
0,6 µm.
M1
Đk: 1–2, xám trắng
tròn, khô, bám thạch Dạng
sợi, kích thước không
xác định.
Qua bảng mô tả đặc điểm, hình dạng, màu
sắc khuẩn lạc của 21 chủng vi khuẩn cho thấy,
vi khuẩn phân lập từ trầm tích rừng ngập mặn
trong nghiên cứu này rất đa dạng về hình dạng
khuẩn lạc, tế bào. Từ kết quả phản ứng KOH để
xác định Gram cho thấy, vi khuẩn Gram dương
chiếm ưu thế với 15/21 chủng, đa số các tế bào
có hình dạng trực khuẩn, hình cầu và có một
chủng dạng xợi (M1).
Hoạt tính kháng khuẩn qua đường vuông
góc
Tất cả các chủng phân lập từ rừng ngập
mặn Ninh Ích được thí nghiệm không thể hiện
sự kháng khuẩn. Từ kết quả này cho thấy
những chủng này có thể không sinh chất kháng
sinh ngoại bào.
Hoạt tính kháng khuẩn bằng phương pháp
khuếch tán thạch
Kết quả cho thấy có 9 chủng vi khuẩn có
khả năng kháng ít nhất một trong số 4 vi
khuẩn chuẩn. Các kiểu kháng khuẩn của các
chủng có hoạt tính kháng khuẩn được thể hiện
qua hình 1.
Ba chủng R7, R9 và R10 có khả năng
kháng lại vi khuẩn S. marcescens với đường
kính vòng kháng khuẩn dao động từ 2,25–5,50
mm, hai chủng R9 và R10 kháng lại vi khuẩn S.
typhimurium với đường kính vòng kháng khuẩn
tương ứng là 4,13–6,50 mm. Ba chủng R8, R9
và R10 kháng lại vi khuẩn E. coli với đường
kính vòng kháng khuẩn dao động từ 4,00–4,25
mm. Bảy chủng R3, R8, R10, R12, R15, D3 và
D6 có khả năng kháng lại vi khuẩn B. subtilis
với đường kính vòng kháng khuẩn dao động từ
0,60–8,25 mm.
Trong nghiên cứu này, chủng R10 có hoạt
tính kháng mạnh nhất với đường kính vòng
kháng khuẩn trung bình đối với mỗi chủng
chuẩn từ 2,25 mm (đối với S. marcescens) và
8,25 mm đối với B. subtilis. So sánh với hoạt
tính kháng khuẩn của Streptomycetes phân lập
từ trầm tích tại Kerala, Ấn Độ. Chủng
Streptomyces I-1 ức chế đáng kể
Staphylococcus aureus ATCC 25923 với 12
mm, S. aureus là 15 mm, Bacillus cereus là 17
± 0,2 mm, Serratia marcescens là 12 mm, nấm
Penicillium sp. là 12 ± 0,2 mm, nấm mem
Candida albicans là 20 ± 0,5 mm và
Cryptococcus neoformans là 12 mm [19]. Đặc
điểm về hính thái khuẩn lạc và tế bào cho thấy
chủng R10 có thể thuộc chi Bacillus. Chủng
R10 là chủng duy nhất trong nghiên cứu này
có khả năng kháng lại cả 4 vi khuẩn kiểm định
đặc biệt chủng này kháng mạnh vi khuẩn kiểm
định B. subtilis (hình 1), điều đó cho thấy đây
Pham Thi Mien, Nguyen Van Khoa
608
là chủng có khả năng sinh kháng sinh phổ
rộng, kháng cả vi khuẩn Gram dương và Gram
âm. Trong khi chủng R3, R12, R15, D3 và D6
chỉ kháng B. subtilis, R7 chỉ kháng S.
marcescens. Chủng R9 không kháng B.
subtilis trong khi kháng lại ba chủng chuẩn
còn lại. Chủng R8 vừa kháng vi khuẩn Gram
dương B. subtilis và vi khuẩn Gram âm E.
coli. Tính theo tỷ lệ phần trăm các chủng có
hoạt tính đối với từng vi khuẩn kiểm định
chuẩn cho thấy 7/9 kháng vi khuẩn B. subtilis
chiếm, 3/9 kháng S. marcescens và E. coli
chiếm và 2/9 kháng S. typhimurium. Từ kết
quả này cho thấy thực sự vi khuẩn rằng ngập
mặn có phổ kháng khuẩn tương đối rộng, đặc
biệt chủng R9, R10 trong nghiên cứu này có
khả năng kháng khuẩn rộng với vòng vô
khuẩn, chúng thực sự là những chủng có khả
năng sinh chất kháng sinh phổ rộng.
0
2
4
6
8
10
12
R3 R7 R8 R9 R10 R12 R15 D3 D6
vò
n
g
kh
án
g
kh
u
ẩn
t
ru
n
g
b
ìn
h
(
m
m
)
Khả năng kháng khuẩn
S. marcescens S. typhimurium
E .coli B. subtilis
Hình 1. Khả năng kháng khuẩn của vi khuẩn phân lập từ rừng ngập mặn
Định danh các chủng tiềm năng qua phân
tích trình tự 16S rRNA
Các chủng R3, R12, R15, D3 và D6 đều chỉ
kháng B. subtilis mà không kháng các chủng
kiểm định còn lại, kết quả về đặc điểm hình
thái khuẩn lạc tế bào cho thấy các chủng này
đều có đặc điểm hình thái khuẩn lạc và tế bào
khác nhau. Trừ chủng D3, các còn lại chúng
đều có những đặc điểm thuộc chi Bacillus như
là những vi khuẩn hiếu khí, tế bào hình que,
Gram dương có sinh bào tử, phản ứng catalase
dương tính, có khả năng di động. Vi khuẩn R3
là chủng chỉ kháng lại B. subtilis với vòng
kháng khuẩn cao nhất so với những chủng có
cùng kiểu kháng khuẩn còn lại như R12, R15,
D3 và D6. Do đó, chủng này cũng được phân
loại đến loài dựa vào gen 16sRNA. Kết quả cho
thấy chủng R3 có mức độ tương đồng về gen
cao nhất là 98% đối với chủng Bacillus
marisflavi TF-11 (GenBank No. NR025240.1).
Với mức độ tương đồng về gen cao nhất là 98%
so sánh với các chủng đã có dữ liệu trong ngân
hàng gen, theo Stackebrand và Ebers [20] có
thể xác định là loài mới. Do đó, chủng R3 có
thể là loài mới và cần được nghiên cứu sâu hơn
về các đặc điểm sinh hóa để khẳng định.
Vi khuẩn R7 thể hiện khả năng kháng
khuẩn duy nhất với vi khuẩn S. marcescens gây
bệnh đốm trắng (white pox) ở san hô Acropora
palmate, đồng thời chủng này có hoạt tính
kháng khuẩn tương đối cao (hình 1). Do đó
chủng R7 được định danh qua 16S rRNA, kết
Screening of mangrove - derived bacteria
609
quả cho thấy chủng R7 có mức độ tương đồng
về gen cao nhất 99% đối với vi khuẩn Bacillus
toyonesis BCT 7112 (GenBank No.
NR121761.1).
Chủng R10 có khả năng kháng lại cả 4
chủng vi khuẩn kiểm định và được xác định là
có tương đồng về gen cao nhất là 100% với
Bacillus pumilus NCTC10337 (GenBank No.
LT906438.1). Đa số các chủng vi khuẩn có
hoạt tính kháng khuẩn trong nghiên cứu này là
vi khuẩn Gram dương thuộc chi Bacillus, thực
sự Bacillus đã được biết là ứng viên tiềm năng
cho nghiên cứu sản sinh các chất có hoạt tính
[18]. Tuy nhiên, một nghiên cứu khác công bố
các chủng Gram âm như Pseudonocardia
endophytica phân lập từ rừng ngập mặn ở Ấn
Độ, có sinh chất hoạt tính có thể kháng lại vi
khuẩn gây bệnh cho người và gây bệnh cho
thực vật, đáng kể là hoạt tính kháng nấm của
chất tự nhiên được sinh ra từ vi khuẩn này có
hoạt độ kháng nấm cao có thể so sánh với các
chất kháng nấm thương mại đang dùng phổ
biến trên thị trường hiện nay như griseofulvin
và amphotericin B [21].
KẾT LUẬN
Có 21 chủng vi khuẩn khác nhau về đặc
điểm hình dạng và kích thước tế bào được phân
lập từ 4 loại môi trường. Trong đó 9 chủng có
khả năng kháng khuẩn và tỷ lệ số chủng có
hoạt tính kháng khuẩn chiếm 43%. Có 5 kiểu
kháng khuẩn được phát hiện: Chủng R3, R12,
R15, D3 và D6 chỉ kháng B. subtilis, trong đó
R3 kháng mạnh nhất. Chủng R7 chỉ kháng duy
nhất vi khuẩn Gram âm S. marcescens. Chủng
R8 có khả năng kháng mạnh với E. coli (4,25
mm), và B. subtilis (3,00 mm). Đặc biệt chủng
R10 thể hiện kháng mạnh cả 4 vi khuẩn kiểm
định. Đáng chú ý chủng R9 chỉ kháng vi khuẩn
Gram âm như S. marcescens, kháng mạnh S.
typhimurium (4,13 mm), và E. coli (4,00 mm).
Chủng R3 có thể là loài mới khi có mức độ
tương đồng về gen cao nhất là 98% đối với
Bacillus marisflavi TF-11 (GenBank No.
NR025240.1). Vi khuẩn R7 có mức độ tương
đồng về gen cao nhất 99% đối với vi khuẩn
Bacillus toyonesis BCT 7112 (GenBank No.
NR121761.1). Đặc biệt chủng R10 thể hiện
kháng mạnh cả 4 vi khuẩn kiểm định, và chủng
này được xác định có mức độ gen gần nhất với
Bacillus pumilus NCTC10337 (GenBank No.
LT906438.1). Chủng R9 được xem như một
chủng tiềm năng, nhằm nghiên cứu sản xuất
chất kháng sinh chỉ kháng vi khuẩn Gram âm
trong những nghiên cứu tiếp theo.
Lời cảm ơn: Đây là kết quả mở rộng của đề
tài mã số VAST02.01/17–18. Tập thể tác giả
xin chân thành cảm ơn phòng Sinh Vật phù
du, phòng Thí nghiệm Trọng điểm cấp Viện
Hàn lâm về An toàn thực phẩm và Môi trường
(khu vực miền Trung), Viện Hải dương học đã
hỗ trợ cho sử dụng các trang thiết bị máy móc
phân tích.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1] Kamaruzaman, J., 2013. Malaysian
mangrove forests and their significance to
the coastal marine environment. Polish
Journal of Environmental Studies, 22(4),
979–1005.
[2] Yang, J., Gao, J., Cheung, A., Liu, B.,
Schwendenmann, L., and Costello, M. J.,
2013. Vegetation and sediment
characteristics in an expanding mangrove
forest in New Zealand. Estuarine, Coastal
and Shelf Science, 134, 11–18.
[3] Alongi, D. M., 1988. Bacterial
productivity and microbial biomass in
tropical mangrove sediments. Microbial
ecology, 15(1), 59–79.
[4] Fenical, W., 1993. Chemical studies of
marine bacteria: developing a new resource.
Chemical Reviews, 93(5), 1673–1683.
[5] Yan, B., Hong, K., and Yu, Z. N., 2006.
Archaeal communities in mangrove soil
characterized by 16S rRNA gene clones.
The Journal of Microbiology, 44(5),
566–571.
[6] Liang, J. B., Chen, Y. Q., Lan, C. Y.,
Tam, N. F., Zan, Q. J., and Huang, L. N.,
2007. Recovery of novel bacterial
diversity from mangrove sediment.
Marine Biology, 150(5), 739–747.
[7] Xu, D. B., Ye, W. W., Han, Y., Deng, Z.
X., and Hong, K., 2014. Natural products
from mangrove actinomycetes. Marine
drugs, 12(5), 2590–2613.
[8] Ding, L., Münch, J., Goerls, H., Maier, A.,
Fiebig, H. H., Lin, W. H., and Hertweck,
Pham Thi Mien, Nguyen Van Khoa
610
C., 2010. Xiamycin, a pentacyclic
indolosesquiterpene with selective anti-
HIV activity from a bacterial mangrove
endophyte. Bioorganic & medicinal
chemistry letters, 20(22), 6685–6687.
[9] Abdelfattah, M. S., Elmallah, M. I. Y.,
Hawas, U. W., El-Kassema, L. T. A., and
Eid, M. A. G., 2016. Isolation and
characterization of marine-derived
actinomycetes with cytotoxic activity
from the Red Sea coast. Asian Pacific
Journal of Tropical Biomedicine, 6(8),
651–657.
[10] Bai, Z. Q., Lin, X., Wang, Y., Wang, J.,
Zhou, X., Yang, B., ... and Liu, Y., 2014.
New phenyl derivatives from endophytic
fungus Aspergillus flavipes AIL8 derived
of mangrove plant Acanthus ilicifolius.
Fitoterapia, 95, 194–202.
[11] Arumugam, T., Kumar, P. S., Kameshwar,
R., and Prapanchana, K., 2017. Screening
of novel actinobacteria and characterization
of the potential isolates from mangrove
sediment of south coastal India. Microbial
pathogenesis, 107, 225–233.
[12] Narendran, R., and Kathiresan, K., 2016.
Antimicrobial activity of crude extracts
from Mangrove-derived Trichoderma
species against human and fish pathogens.
Biocatalysis and agricultural
biotechnology, 6, 189–194.
[13] Nguyen Van Hieu, Nguyen Phuong Nhue,
Vu Thi Hanh Nguyen, Phan Thi Hong
Thao, Pham Thanh Huyen, Phi Quyet
Tien, Le Gia Hy. 2012. Studying On
Marine Actinomycete strain HLD 3.16
From The Coast of Vietnam producing
antimicrobial. Vietnam Journal of Science
and Technology, 50(5), 579–591.
[14] Duong Minh Lam, Dang Ngoc Quang,
Nguyen Thi Ha, 2013. Isolation,
Purification and Characterization of
penicillin resisting Staphycococcus aureus
Inhibiting Antibiotic from Streptomyces
sp. QN63. Vietnam Journal of Science and
Technology, 51(5), 555–563.
[15] Mincer, T. J., Jensen, P. R., Kauffman, C.
A., and Fenical, W., 2002. Widespread
and persistent populations of a major new
marine actinomycete taxon in ocean
sediments. Appl. Environ. Microbiol.,
68(10), 5005–5011.
[16] Halebian, S., Harris, B., Finegold, S. M.,
and Rolfe, R. D., 1981. Rapid method that
aids in distinguishing Gram-positive from
Gram-negative anaerobic bacteria.
Journal of clinical microbiology, 13(3),
444–448.
[17] Pham, T. M., Wiese, J., Wenzel-
Storjohann, A., and Imhoff, J. F., 2016.
Diversity and antimicrobial potential of
bacterial isolates associated with the soft
coral Alcyoniumdigitatum from the Baltic
Sea. Antonie Van Leeuwenhoek, 109(1),
105–119.
[18] Bayer, A. W., Kirby, W. M. M., Sherris, J.
C., and Turck, M., 1966. Antibiotic
susceptibility testing by a standardized
single disc method. American Journal of
Clinical Pathogens, 45(4), 493–496.
[19] Das, A., Bhattacharya, S., Mohammed, A.
Y. H., and Rajan, S. S., 2014. In vitro
antimicrobial activity and characterization
of mangrove isolates of streptomycetes
effective against bacteria and fungi of
nosocomial origin. Brazilian Archives of
Biology and Technology, 57(3), 349–356.
[20] Stackebrandt, E., 2006. Taxonomic
parameters revisited: tarnished gold
standards. Microbiol. Today, 33, 152–155.
[21] Mangamuri, U. K., Muvva, V., Poda, S.,
Chitturi, B., and Yenamandra, V., 2016.
Bioactive natural products from
Pseudonocardia endophytica VUK-10.
Journal of Genetic Engineering and
Biotechnology, 14(2), 261–267.
Các file đính kèm theo tài liệu này:
screening_of_mangrove_derived_bacteria_from_ninh_ich_ninh_ho.pdf