Kết quả thử hoạt tính của cellulase tái tổ
hợp trên đĩa thạch
Cellulase chủ yếu xúc tác thủy phân mối
liên kết β-1,4 glucoside của cellulose để giải
phóng đường glucose. CMC là một dạng hòa
tan của cellulose, được dùng làm cơ chất thử
hoạt tính của cellulase. Khi chưa bị thủy phân,
CMC bắt màu với thuốc nhuộm Congo tạo
thành màu đỏ đồng nhất. Dưới tác dụng của
cellulase, vùng CMC bị thủy phân sẽ không
bắt màu với thuốc nhuộm nữa, tạo thành một
vòng sáng (halo) có thể quan sát bằng mắt
thường. Kết quả thử hoạt tính của ba mẫu gồm
đối chứng dương (cellulase của Sigma), đối
chứng âm (dịch pha tan của chủng mang gen
không cảm ứng IPTG) và endoglucanasesau
khi tinh chế và loại muối trên đĩa thạch chứa
CMC đã cho thấy quanh giếng EGC2 (E) xuất
hiện vòng thủy phân màu sáng giống như ở
giếng đối chứng dương (+) mặc dù đường
kính vòng phân giải không lớn bằng (hình 5).
Trong khi đó ở mẫu đối chứng âm (-) không
có vòng thủy phân này. Như vậy, có thể khẳng
định endoglucanase tái tổ hợp thu được có
hoạt tính thủy phân cơ chất CMC.
Kết quả thử hoạt tính ở trên cũng giống
với các nghiên cứu khác về cellulase tái tổ
hợp biểu hiện ở vi khuẩn của Pandey et al.
(2014), Seneesrisakul et al. (2017). Trong
nghiên cứu này, chúng tôi chưa đánh giá được
hoạt tính củaenzyme cao hay thấp, enzyme có
bền nhiệt không, hoạt động tốt trong điều kiện
axit hay kiềm và có ảnh hưởng thế nào đến
các vùng chưa biết chức năng của enzyme.
Những đặc điểm này sẽ được nghiên cứu kỹ
hơn trong thời gian tới.
9 trang |
Chia sẻ: hachi492 | Lượt xem: 2 | Lượt tải: 0
Bạn đang xem nội dung tài liệu Selection of purification condition for recombinant endoglucanase originated from goat rumen bacteria in escherichia coli, để tải tài liệu về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
TAP CHI SINH HOC 2020, 42(1): 73–81
DOI: 10.15625/0866-7160/v42n1.14455
73
SELECTION OF PURIFICATION CONDITION FOR RECOMBINANT
ENDOGLUCANASE ORIGINATED FROM GOAT RUMEN
BACTERIA IN Escherichia coli
Nguyen Thi Quy1, Nguyen Hong Duong1, Dao Trong Khoa1, Nguyen Khanh Hoang Viet2,
Nguyen Khanh Hai3, Truong Nam Hai1,4,*, Do Thi Huyen1,4,*
1Institute of Biotechnology, VAST, Vietnam
2Institute of New Technology, Academy of Military Science and Technology
3Faculty of Biology, VNU Hanoi University of Science
4Graduate University of Science and Technology, VAST, Vietnam
Received 10 October 2019, accepted 2 March 2020
ABSTRACT
Cellulase is an important enzyme that plays a role in cleaving β -1,4 glucoside on cellulose to
release glucose, which is of economic value and can be applied in many different fields . The
1545 bp endoglucanase gene mined from goat rumen's bacterial metagenomic data was expressed
in Escherichia coli Rosetta2. In this study, the recombinant endoglucanase was purified by his -
tag affinity chromatography with differrent processes, such as using phosphate buffer with or
without sodium cloride, pretreatment of samples with ammonium sulphate before supplying into
affinity column, using various concentration of imidazole for washing... Finally the endoglucanse
was sucessfully purified by his-tag affinity column using sodium chloride-free phosphate buffer
of which 150 mM and 400 mM imidazole were used for washing and enzyme elution,
respectively. The resulting enzyme showed its high purity of 99%. CMC plate assay confirmed
that although less active than commercial cellulase (Sigma), the recombinant cellulase
hydrolyzed CMC to form a clear zone (halo) around the well. The purified enzyme is capable of
using as material for further analysis.
Keywords: Escherichia coli Rosetta2, Carboxymethylcellulose (CMC), clear zone (halo),
protein purification, recombinant endoglucanase.
Citation: Nguyen Thi Quy, Nguyen Hong Duong, Dao Trong Khoa, Nguyen Khanh Hoang Viet, Nguyen Khanh Hai,
Truong Nam Hai, Do Thi Huyen, 2020. Selection of purification condition for recombinant endoglucanaseoriginated
from goat rumen bacteria in Escherichia coli. Tap chi Sinh hoc, 42(1): 73–81. https://doi.org/10.15625/0866-
7160/v42n1.14455.
*Corresponding author email: dohuyen@ibt.ac.vn
©2020 Vietnam Academy of Science and Technology (VAST)
TAP CHI SINH HOC 2020, 42(1): 73–81
DOI: 10.15625/0866-7160/v42n1.14455
74
LỰA CHỌN ĐIỀU KIỆN TINH CHẾ ENDOGLUCANASE TÁI TỔ HỢP
CÓ NGUỒN GỐC TỪ VI KHUẨN DẠ CỎ DÊ Ở TẾ BÀO Escherichia coli
Nguyễn Thị Quý1, Nguyễn Hồng Dương1, Đào Trọng Khoa1, Nguyễn Khánh Hoàng Việt2,
Nguyễn Khánh Hải3, Trương Nam Hải1,4,*, Đỗ Thị Huyền1,4,*
1Viện Công nghệ sinh học, Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam
2Viện Công nghệ mới, Viện Khoa học Kỹ thuật Quân sự
3Khoa Sinh học, Trường Đại học Khoa học tự nhiên, Đại học Quốc gia Hà Nội
4Học viện Khoa học và Công nghệ, Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam
Ngày nhận bài 10-10-2019, ngày chấp nhận 2-3- 2020
TÓM TẮT
Cellulase là enzyme quan trọng cắt liên kết β-1,4 glucoside trên phân tử cellulose để giải
phóng ra đường glucose, là chất có giá trị kinh tế và có thể ứng dụng trong nhiều lĩnh vực khác
nhau. Gen mã hóa cho endoglucanase khai thác từ hệ vi khuẩn sống trong dạ cỏ dê có chiều dài
1545 bp đã được biểu hiện thành công trong Escherichia coli Rosetta2. Trong công trình này,
endoglucanase tái tổ hợp đã được tinh chế bằng cột sắc ký ái lực với his -tag với các phương
pháp khác nhau như sử dụng đệm phosphate có hoặc không có muối natri clorua, sơ chế mẫu
với ammonium sulphate trước khi đưa mẫu lên cột, sử dụng các nồng độ khác nhau của
imidazole trong quá trình rửa. Cuối cùng, endoglucanase đã được tinh chế thành công bằng cột
sắc ký ái lực his-tag với đệm không có muối NaCl, sử dụng imidazole 150 mM cho phân đoạn
rửa và enzyme được thu lại trong đệm chứa 400 mM imidazole. Enzyme tái tổ hợp sau tinh chế
có độ tinh sạch lên tới 99%. Kết quả kiểm tra hoạt tính của cellulase tái tổ hợp trên đĩa thạch
đã cho thấy mặc dù hoạt tính kém hơn cellulase thương mại (Sigma) nhưng enzyme đã thủy
phân CMC tạo thành một vòng sáng quanh giếng. Enzyme tinh chế có thể được sử dụng làm
nguyên liệu cho các nghiên cứu sâu hơn.
Từ khóa: Escherichia coli Rosetta2, Carboxymethylcellulose (CMC), endoglucanase tái tổ hợp,
vòng thủy phân cơ chất, tinh sạch protein.
*Địa chỉ liên hệ email: dohuyen@ibt.ac.vn
MỞ ĐẦU
Cellulose là nguyên liệu sinh học có
nguồn gốc tự nhiên dồi dào nhất và là thành
phần chính của sinh khối thực vật. Việc sử
dụng nguồn nguyên liệu này đem lại lợi ích
kinh tế phần lớn phụ thuộc vào tốc độ thủy
phân lignocellulose để tạo ra các chất trao đổi
và nhiên liệu sinh học như cồn sinh học thế hệ
thứ hai, xilytol, glucose. Có ba loại enzyme
chính tham gia vào việc thủy phân cellulose
thành đường glucose đó là β-1,4-
endoglucanase; β-1,4-exoglucanase và β-
glucosidase và cả một phứchệ các enzyme
cellulase (Pandey et al., 2014). Enzyme β-1,4-
endoglucanase là một thành viên trong họ
cellulase. Cellulase xúc tác thủy phân mối liên
kết β-1,4 glucoside trên phân tử cellulose để
giải phóng ra đường glucose. Đây là enzyme
được nhiều nhà khoa học phân lập và xác định
đặc điểm từ các đối tượng như vi khuẩn, nấm
và động vật (Lynd et al., 2002). Trong đó,
cellulase của vi khuẩn ngày càng được chú ý
hơn do chúng có tốc độ sinh trưởng nhanh, tạo
ra một phức hợp nhiều enzyme và chúng có
khả năng sinh sống trong các điều kiện khắc
Selection of purification condition for recombinant
75
nghiệt (Maki et al., 2009). Các nghiên cứu đã
tập trung tìm kiếm các nguồn enzyme mới có
tiềm năng sử dụng trong công nghiệp như
cellulase của vi khuẩn sống trong ruột mối, dạ
cỏ dê và các đối tượng khác. Việc tìm kiếm
cellulase có hoạt tính cao, biểu hiện chúng ở
trạng thái tan trong các hệ thống vật chủ và
tinh sạch chúng có ý nghĩa quan trọng nhằm
định hướng lựa chọn enzyme phù hợp trong
công nghiệp.
Enzyme tạo ra từ các hệ thống vật chủ
dùng cho mục đích xác định đặc điểm, nghiên
cứu cấu trúc cần thiết được tinh sạch. Việc lựa
chọn phương pháp tinh sạch chủ yếu phụ
thuộc vào khả năng hấp phụ, khối lượng phân
tử và đặc điểm của enzyme. Trong đó, sắc ký
ái lực là kỹ thuật dựa vào khả năng liên kết
đặc hiệu và thuận nghịch của một enzyme gắn
với phối tử liên kết đồng hóa trị với chất mang
chứa trong cột sắc ký. Ưu điểm của phương
pháp này là cho phép thu được enzyme có độ
sạch cao trong khoảng thời gian ngắn. Để sử
dụng kỹ thuật này, enzyme được thiết kế có
khả năng bám ái lực lên chất giá như gắn
thêm đuôi his-tag vào đầu N hoặc đầu C.
Enzyme được giữ lại trên cột, còn những
protein khác không có đuôi his-tag sẽ được
rửa trôi. Cuối cùng, enzyme được thu lại bằng
cách sử dụng đệm có nồng độ muối cao, thay
đổi pH đệm. Các loại đệm phổ biến dùng cho
sắc ký là tris, phosphate hoặc acetate có chứa
từ 50– 500 mM NaCl. Tuy nhiên, hiệu quả
bám của enzyme còn phụ thuộc vào thành
phần đệm, pH, đặc điểm của enzyme. Do đó,
với mỗi loại enzyme cần có một phương pháp
tinh chế phù hợp.
Trong bài báo này, chúng tôi trình bày kết
quả của việc lựa chọn các điều kiện tinh chế
enzyme endoglucanase tái tổ hợp có nguồn
gốc từ vi khuẩn sống trong dạ cỏ dê đã được
biểu hiện thành công ở tế bào Escherichia coli
Rosetta2 (DE3) (Nguyen et al., 2019). Sau đó
enzyme được loại muối và kiểm tra sơ bộ khả
năng thủy phân cơ chất CMC
(carboxymethylcellulose) trên đĩa thạch. Kết
quả này là cơ sở cần thiết cho nghiên cứu đặc
tính enzyme, xem xét khả năng ứng dụng
enzyme trong thực tiễn.
VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN
CỨU
Chủng Escherichia coli Rosetta2 tái tổ
hợp mang vector pET22SUMOegc2 (Nguyen
et al., 2019) do phòng Kỹ thuật di truyền,
Viện Công nghệ sinh học tạo ra, được dùng để
biểu hiện gen endoglucanase. Cột sắc ký ái
lực HisTrap 5 mlvà cột PD-10 (Amersham
Bioscience, Anh) lần lượt được sử dụng để
tinh chế và loại muối cho mẫu endoglucanase
tái tổ hợp. CMC (C9481, Sigma) dùng làm cơ
chất xác định hoạt tính của endoglucanase
trên đĩa thạch. Cellulase (C9748, Sigma) được
dùng làm đối chứng dương. Các hóa chất khác
dùng trong thí nghiệm được mua của Merck
(Đức) và Thermo Scientific (Hoa Kỳ).
Tinh chế endoglucanase tái tổ hợp bằng sắc
ký ái lực
Sự biểu hiện của endoglucanase (EGC2)
tái tổ hợp ở tế bào Escherichia coli Rosetta2
được tiến hành như Nguyen và đồng tác giả
đã mô tả (Nguyen et al., 2019). Một cách ngắn
gọn, dịch nuôi cấy qua đêm của chủng
Escherichia coli tái tổ hợp được chuyển sang
200 ml LBamp sao cho OD600 ban đầu khoảng
0,1. Khi mật độ tế bào OD600 ~0,4-0,6, cảm
ứng biểu hiện EGC2 ở 25oC với nồng độ
IPTG là 0,25 mM. Tế bào được thu lại sau 5
giờ để nghiên cứu tinh chế enzyme.
Chuyển 15 ml dịch tế bào có OD600 ~10
vào ống falcon loại 25 ml. Tiến hành phá tế
bào bằng sóng siêu âm trong 9 phút. Ly tâm
dịch phá tế bào 8.000 vòng/phút trong 10
phút, thu pha tan chứa EGC2. Dịch sau khi
thu có thể được sử dụng trực tiếp để tinh chế
enzyme theo phương pháp sau: Bơm toàn bộ
15 ml dịch pha tan lên cột HisTrap 5 ml t rước
đó đã cân bằng với đệm PBS 50 mM (pH 6,8)
có chứa hoặc không chứa 500 mM NaCl, và
20−50 mM imidazol. Thu dịch trong lúc bơm
mẫu (F) để kiểm tra mức độ bám của
endoglucanase. Sau đó rửa protein tạp lần lượt
bằng 50 ml đệm PBS chứa imidazol có nồng
độ là 50 mM, 100 mM hoặc 150 mM. Thu các
dịch rửa để kiểm tra protein đi ra khỏi cột (W1
và W2). Tiếp theo, đẩy EGC2 bám trên cột
bằng 25 ml đệm PBS chứa 400 mM imidazol,
thu chúng vào các ống Eppendorf (2 ml/ống).
Ngoài ra, dịch tế bào sau khi siêu âm được sơ
Nguyen Thi Quy et al.
76
chế bằng tủa phân đoạn với (NH4)2SO4, sau đó
tiếp tục tinh chế bằng cột sắc ký ái lực với
histidin. Cuối cùng, cân bằng cột với 25 ml
đệm gắn mẫu trước khi tinh chế lần tiếp theo.
Các phân đoạn chứa endoglucanase tinh sạch
được gộp lại và loại muối bằng cột PD-10
theo hướng dẫn của nhà sản xuất.
Đánh giá độ sạch của endoglucanase tái tổ
hợp bằng phần mềm Quantity One
Đây là phần mềm online của Bio-Rad cho
phép đánh giá độ tinh sạch của một mẫu
protein được nhuộm màu. Nguyên lý của
phương pháp là đánh giá độ tinh sạch thông
qua lượng protein đích (độ đậm của băng
protein đích) so với lượng protein tổng số (độ
đậm của các băng protein) trong mỗi giếng.
Mẫu enzyme sau khi tinh sạch được điện di
trên gel polyacrylamide cùng với thang chuẩn
protein. Sau đó, gel được nhuộm bằng thuốc
nhuộm comassie, rửa sạch và đưa lên máy
scan để quét. Chế độ quét được cài đặt sao
cho chất lượng ảnh tốt nhất. Sau đó, ảnh quét
được đưa về chế độ đen trắng và chuyển vào
phần mềm Quantity One version 4.6
(https://quantity-one.software.informer.com/
4.6/). Bằng phần mềm này, lượng enzyme có
trên giếng chạy được nhận biết và quét để
định lượng tương đối với enzyme tổng số
thông qua độ đậm của các băng. Độ sạch của
enzyme tái tổ hợp được tính bằng tỷ lệ giữa
lượng protein đích trên lượng protein tổng số
ở mỗi giếng.
Kiểm tra sơ bộ hoạt tính thủy phân cơ chất
của endoglucanase trên đĩa thạch
Nhỏ 200 µl dịch endoglucanase tinh sạch
được loại muối vào một giếng của đĩa thạch
chứa 0,5% CMC. Đồng thời nhỏ cùng một thể
tích các mẫu đối chứng dương (cellulase của
Sigma,~1U) và đối chứng âm (dịch phá từ tế
bào không cảm ứng IPTG) vào các giếng còn
lại. Sau khi ủ đĩa ở 37oC khoảng 24 giờ tạo
điều kiện enzyme thấm sâu vào thạch và thủy
phân cơ chất, đĩa được nhuộm với Congo red
0,1% rồi rửa lại bằng dung dịch NaCl 1 M.
KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN
Gen mã hóa cho endoglucanase có nguồn
gốc từ vi khuẩn dạ cỏ dê có chiều dài 1.545 bp
được tối ưu mã bộ ba (gen egc2), tổng hợp
hóa học và đưa vào vector biểu hiện
pET22SUMO. Enzyme endoglucanse
(SEGC2) đã được biểu hiện thành công trong
tế bào Escherichia coli Rosetta2 với khối
lượng phân tử khoảng 70 kDa (Nguyen et al.,
2019). Trong nghiên cứu này, chúng tôi trình
bày việc lựa chọn điều kiện để tinh chế
enzyme tái tổ hợp và kiểm tra sơ bộ hoạt t ính
của enzyme trên cơ chất CMC.
Tinh chế SEGC2 bằng đệm phosphate có
chứa NaCl 500 mM
Tinh sạch enzyme là quá trình phân tách
enzyme đó từ một phức hợp protein t rong các
tế bào. Thông thường, quá trình tinh chế sẽ
dựa vào kích thước protein, các đặc tính lý
hóa hay tương tác ái lực của protein. Theo
thiết kế, phía trước endoglucanse là protein
SUMO có gắn 6 gốc histidine thuận tiện cho
việc tinh chế bằng sắc ký ái lực. Tuy nhiên,
hiệu quả tinh chế còn phụ thuộc vào đặc điểm
protein, thành phần đệm, nồng độ muối, các
bước tiền xử lý mẫu.
TS F W1 W2 E1 E2 E3 E4 M
kDa
− 116,0
− 66,2
− 45,0
− 35,0
− 25,0
− 18,4
− 14,4
Hình 1. Ảnh điện di endoglucanase tinh chế
bằng đệm phosphate chứa 500 mM NaCl sử
dụng sắc ký ái lực với hexa-histidin
Ghi chú: TS: Protein tổng số pha tan; F: dịch thu
trong khi bơm mẫu lên cột; W1-W2: lần lượt là
dịch rửa cột bằng đệm phosphate chứa 50 và 100
mM imidazol; E1-E4: các phân đoạn thu mẫu ở
nồng độ 300 mM imidazol; M: thang protein
chuẩn (Fermentas, SM0431)
Đệm phosphate có chứa NaCl 500 mM đã
từng được sử dụng để tinh chế rất thành công
Selection of purification condition for recombinant
77
interleukin-11 (Nguyen et al., 2018). Đệm này
được thử nghiệm để tinh chế endoglucanase,
sử dụng đệm gắn, đệm rửa và đệm thu lần lượt
có nồng độ imidazol là 50, 100, 300 mM. Kết
quả cho thấy endoglucanase được thu lại với
hàm lượng rất thấp và còn khá bẩn (hình 1).
Lặp lại thí nghiệm này và sử dụng đệm
phosphate 20 mM, chúng tôi cũng không thu
được enzyme như mong muốn (Kết quả
không được trình bày).
Tinh chế SEGC2 bằng đệm phosphate
không chứa NaCl
kDa
116,0 −
66,2 −
45,0 −
35,0 −
25,0 −
18,4 −
14,4 −
M TS F W1 W2 E1 E2 E3 E4 E5 E6
Hình 2. Ảnh minh họa endoglucanase được
tinh chế bằng sắc ký ái lực sử dụng đệm
phosphate không chứa NaCl
Ghi chú: TS: Protein tổng số pha tan; F: dịch thu
trong khi bơm mẫu lên cột; W1-W2: lần lượt là
dịch rửa cột bằng đệm phosphate chứa 50 và 100
mM imidazol; E1-E6: các phân đoạn thu
endoglucanseở nồng độ 300 mM imidazol; M:
thang protein chuẩn (Fermentas, SM0431).
Đệm phosphate chứa nồng độ muối cao có
thể ảnh hưởng đến ái lực của enzyme với chất
giá và cũng ảnh hưởng đến hoạt tính enzyme
sau khi tinh chế. Vì vậy, chúng tôi đã thử
nghiệm tinh chế SEGC2 bằng đệm không
chứa muối NaCl. Mẫu sau khi đưa lên cột
được rửa bằng đệm phosphate có chứa 50 và
100 mM imidazol, enzyme được thu lại bằng
đệm có chứa 300 mM imidazol. Kết quả so
với đệm có chứa NaCl 500 mM thì đệm này
đã cho khả năng thu hồi enzyme tốt hơn, và
enzyme có độ sạch cao hơn (hình 2). Tuy
nhiên, hình ảnh điện di cho thấy enzyme vẫn
còn lẫn khá nhiều protein khác của chủng chủ
mặc dù enzyme trên cột đã được rửa với đệm
có chứa nồng độ imidazol tăng dần từ 50 đến
cao nhất là 100 mM. Với độ sạch này thì
enzyme chưa đảm bảo cho nghiên cứu tính
chất, do vậy chúng tôi đã thử phương pháp
tiếp theo đó là khảo sát tủa phân đoạn muối
amonium phosphate trước khi đưa protein lên
cột sắc ký ái lực.
Sơ chế SEGC2 bằng ammonium sulphate
và tinh chế bằng sắc ký ái lực His-tag
Đầu tiên, chúng tôi sơ chế dịch pha tan
nhằm loại bớt protein tạp trước khi đưa
endoglucanase lên cột sắc ký. Dịch protein
tổng số được bổ sung muối (NH4)2SO4 tới
nồng độ 35%. Sau khi ly tâm loại tủa, pha tan
được bổ sung tiếp (NH4)2SO4 đến nồng độ
65%. Kết quả điện di protein trên hình 3a cho
thấy khi bổ sung 35% muối, khá nhiều protein
tạp đã tủa lại và tách khỏi pha tan chứa
SEGC2 (giếng P35). Khi nâng nồng độ muối
lên 65%, SEGC2 và những protein khác lắng
xuống tách khỏi pha tan. Chúng được hòa tan
lại bằng đệm gắn mẫu, chứa phần lớn là
SEGC2 (giếng T65). Dung dịch này được bơm
lên cột sắc ký và rửa bằng đệm có chứa từ
50mM đến 300 mM imidazol. Kết quả cho
thấy ở lần tinh chế thứ nhất SEGC2 bám chưa
hiệu quả nên một số phân tử bị thôi ra khỏi cột
(giếng F). Khi nâng đệm có nồng độ imidazol
lên 500 mM, SEGC2 được thôi ra ở phân
đoạn E1 và tập trung nhất ở E6-E7 (hình 3a).
Như vậy, bằng phương pháp tủa muối phân
đoạn, nhiều protein tạp đã được loại bớt t rước
khi tiến hành sắc ký ái lực để thu được
SEGC2 tái tổ hợp. Tuy nhiên, khi lặp lại quá
trình sắc ký này lần thứ hai, chúng tôi nhận
thấy rằng hiệu quả thu hồi SEGC2 giảm đi
đáng kể, SEGC2 không bám lên cột và phần
lớn bị rửa trôi (Giếng F, hình 3b). Do đó, băng
SEGC2 ở các phân đoạn E2-E9 rất mờ nhạt.
Hiện tượng này xảy ra tương tự ở các lần t inh
chế tiếp theo. Nguyên nhân có thể do các
bước tiền xử lý mẫu bằng (NH4)2SO4 đã làm
cho một số protein ở trạng thái không ổn định,
chúng dễ bị tủa và gây ách tắc trong cột, cản
trở độ bám của SEGC2. Do đó SEGC2 bị rửa
trôi trong lúc bơm mẫu.
Nguyen Thi Quy et al.
78
(a)
T P35 T65 M F W E1 E2 E3 E4 E5 E6 E7
14,4
18,4
25,0
35,0
45,0
66,2
116,0
kDa
14,4
18,4
25,0
35,0
45,0
66,2
116,0
kDa
T65 F M W1 W2 E1 E2 E3 E4 E5 E6 E7 E8 E9
(b)
Hình 3. Ảnh minh họa endoglucanase được xử lý bằng muối ammonium sulphate và tinh chế
bằng sắc ký ái lực ởlần thứ nhất và thứ hai (a và b)
Ghi chú: M: thang protein chuẩn (Fermentas, SM0431); T: protein ở pha tan; P35: protein tủa ở nồng độ
35% (NH4)2SO4; T65: protein tủa ở 65% (NH4)2SO4 được hòa tan bằng đệm gắn mẫu; F: d ịch thu trong
khi bơm mẫu lên cột; W-W1-W2: lần lượt là dịch rửa cột bằng đệm chứa 50, 100 và 300 mM imidazol;
E1-E9: các phân đoạn thu mẫu bằng đệm chứa 500 mM imidazol.
Tinh chế SEGC2 bằng cột sắc ký ái lực
Histag, đệm rửa chứa 150 mM imidazol và
đệm thu chứa 400 mM imidazol
Do sơ chế mẫu bằng (NH4)2SO4 không
hiệu quả nên chúng tôi tinh chế lại
endoglucanase bằng cách bơm trực tiếp mẫu
lên cột và rửa protein tạp bằng đệm chứa 150
mM imidazol. Ở lần tinh chế này, SEGC2
bám khá tốt nhưng vẫn còn thôi ra trong lúc
bơm mẫu và rửa mẫu (Giếng F và W1, hình
4a). Khi tăng imidazol lên 400 mM, SEGC2
bị đẩy ra, băng SEGC2 rất tập trung và khá
sạch (E2-E7). Quá trình tinh chế này được lặp
lại thêm 2 lần vẫn thu được sắc ký đồ tương
tự. Như vậy, qua thí nghiệm tinh chế có thể
thấy rằng việc tiền xử lý mẫu bằng
ammonium sulfate có thể ảnh hưởng đến độ
bền của endoglucanase. Enzyme dễ bị tủa và
gây ách tắc trong cột. Do đó chúng tôi đã sử
dụng đệm chứa imidazol có nồng độ tăng dần
từ 300 mM đến 500 mM nhưng enzyme vẫn
thôi ra một cách không tập trung (hình 3).
Việc không xử lý mẫu protein tổng số
bằng cách tủa muối có thể hạn chế sự thay đổi
cấu trúc của enzyme và enzyme ở trạng thái
đồng nhất hơn. Do đó, chỉ cần tăng nồng độ
imidazol tới 400 mM, endoglucanase đã được
thôi ra tập trung hơn và thu được nhiều
protein hơn (hình 4a). Kết quả đánh giá độ
sạch của enzyme sau tinh chế bằng phần mềm
QuantityOne cho thấy enzyme cũng có độ
sạch trên 99% (hình 4b). Như vậy enzyme
endoglucanase đã được tinh chế thành công và
có độ sạch cao.
Các phân đoạn thu mẫu được gộp lại và
loại muối bằng cột PD-10. Ảnh điện di các
phân đoạn sau khi loại muối trên hình 4c cho
thấy băng SEGC2 có độ sạch cao, tập trung
dần từ phân đoạn 3−6 và giảm dần ởphân
đoạn 9 (hình 4c). Như vậy, endoglucanase tái
tổ hợp đã được tinh chế và loại muối thành
công trước khi kiểm tra sơ bộ hoạt tính của
enzyme này.
Tinh chế protein là bước cần thiết để có
protein tinh sạch làm nguyên liệu cho các
nghiên cứu tiếp theo. Tuy nhiên, tùy mục đích
có những nghiên cứu tập trung vào tinh chế
protein, còn số khác lại không quan tâm nhiều
đến độ sạch của chúng. Dựa vào đặc điểm và
các thiết kế của protein, nghiên cứu tập t rung
tinh chế chúng theo nhiều cách khác nhau.
Wei et al. (2015) đã tinh chế endoglucanase
bằng sắc ký trao đổi ion. Tuy nhiên, các tác
giả không đề cập đến hiệu suất thu hồi và độ
tinh khiết của enzyme. Amore et al. (2012)
cũng tinh chế cellulase tái tổ hợp của
Streptomyces G12 sau khi biểu hiện ở
Escherichia coli. Trước đó, nhóm tác giả đã
tủa cellulase bằng (NH4)2SO4 ở nồng độ 80%
bão hòa rồi mới tinh chế thu enzyme bằng sắc
Selection of purification condition for recombinant
79
ký trao đổi ion. Cano-Ramírez et al. (2016)
tinh chế endoglucanase tái tổ hợp trực t iếp từ
dịch pha tan của tế bào Escherichia coli bằng
sắc ký ái lực. Seneesrisakul et al. (2017) lại
chỉ xác định hoạt tính thô của endoglucanase
tái tổ hợp chứ không tinh chế chúng. Trong
nghiên cứu tinh chế endoglucanase tái tổ hợp
của mình, chúng tôi từng xử lý loại bớt
protein tạp từ dịch protein tổng số rồi mới
đưaenzymelên cột. Tuy nhiên, việc làm trên
đã không đem lại hiệu quả như mong muốn.
Lý do có thể là một số protein trong mẫu có
cấu trúc không bền vững khi tiền xử lý bằng
muối (NH4)2SO4. Chúng tủa và gây ách tắc
cột, ảnh hưởng đến độ bám của enzyme ở các
lần tinh chế tiếp theo. Chỉ khi xử lý lại cột và
thay đổi cách thức tinh chế, chúng tôi mới thu
được endoglucanase tái tổ hợp có độ tinh sạch
cao, từ đó có thể đánh giá sơ bộ hoạt t ính của
cellulase trên cơ chất CMC hoặc nghiên cứu
các tính chất sâu hơn.
E3 E4 E5 E3 E4 E5
(b)
T P F M W1 E1 E2 E3 E4 E5 E6 E7
kDa
116,0 −
66,2 −
45,0 −
35,0 −
25,0 −
(a)
M 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 kDa
116,0 −
66,2 −
45,0 −
35,0 −
25,0 −
(c)
Hình 4. Ảnh minh họa endoglucanase tái tổ hợp được tinh chế trực tiếp từ dịch tổng số pha tan
bằng sắc ký ái lực (a), độ tinh sạch của enzyme được đánh giá bằng phần mềm Quantity One (b)
và enzyme sau khi loại muối (c)
Ghi chú: M: Thang protein chuẩn (Fermentas, SM0431); T: Protein tổng số pha tan; P: Protein pha tủa; F:
dịch thu trong khi bơm mẫu lên cột; W1: dịch rửa cột bằng đệm chứa 150 mM imidazol; E1-E7 : các phân
đoạn thu mẫu bằng đệm chứa 400 mM imidazol; 1−10: các phân đoạn enzymesau khi loại muối bằng cộ t
PD-10.
Kết quả thử hoạt tính của cellulase tái tổ
hợp trên đĩa thạch
Cellulase chủ yếu xúc tác thủy phân mối
liên kết β-1,4 glucoside của cellulose để giải
phóng đường glucose. CMC là một dạng hòa
tan của cellulose, được dùng làm cơ chất thử
hoạt tính của cellulase. Khi chưa bị thủy phân,
CMC bắt màu với thuốc nhuộm Congo tạo
thành màu đỏ đồng nhất. Dưới tác dụng của
cellulase, vùng CMC bị thủy phân sẽ không
bắt màu với thuốc nhuộm nữa, tạo thành một
vòng sáng (halo) có thể quan sát bằng mắt
thường. Kết quả thử hoạt tính của ba mẫu gồm
đối chứng dương (cellulase của Sigma), đối
chứng âm (dịch pha tan của chủng mang gen
không cảm ứng IPTG) và endoglucanasesau
khi tinh chế và loại muối trên đĩa thạch chứa
CMC đã cho thấy quanh giếng EGC2 (E) xuất
hiện vòng thủy phân màu sáng giống như ở
Nguyen Thi Quy et al.
80
giếng đối chứng dương (+) mặc dù đường
kính vòng phân giải không lớn bằng (h ình 5).
Trong khi đó ở mẫu đối chứng âm (-) không
có vòng thủy phân này. Như vậy, có thể khẳng
định endoglucanase tái tổ hợp thu được có
hoạt tính thủy phân cơ chất CMC.
thu đươc̣ có hoạt tính thủy phân cơ c ất CMC.
+ -
E
Hình 5. Ảnh thử hoạt tính của endoglucanase
tái tổ hợp trên đĩa thạch chứa cơ chất CMC
bằng phương pháp nhuộm Congo red
Ghi chú: (+): Cellulase của Sigma (1 U); (-): Dịch
pha tan của chủng tái tổ hợp không cảm ứng IPTG;
(E): endoglucanase tái tổ hợp.
Kết quả thử hoạt tính ở trên cũng giống
với các nghiên cứu khác về cellulase tái tổ
hợp biểu hiện ở vi khuẩn của Pandey et al.
(2014), Seneesrisakul et al. (2017). Trong
nghiên cứu này, chúng tôi chưa đánh giá được
hoạt tính củaenzyme cao hay thấp, enzyme có
bền nhiệt không, hoạt động tốt trong điều kiện
axit hay kiềm và có ảnh hưởng thế nào đến
các vùng chưa biết chức năng của enzyme.
Những đặc điểm này sẽ được nghiên cứu kỹ
hơn trong thời gian tới.
KẾT LUẬN
Chúng tôi đã tinh chế được endoglucanase
tái tổ hợp có nguồn gốc từ hệ vi khuẩn sống
trong dạ cỏ dê ở tế bào Escherichia coli
Rosetta2 bằng sắc ký ái lực. Enzyme thu hồi
có độ tinh sạch lên tới 99%. Sau khi loại
muối, endoglucanase đã thể hiện hoạt tính
thủy phân cơ chất CMC. Kết quả trên là cơ sở
để nghiên cứu sâu hơn về endoglucanase tái tổ
hợp nhằm định hướng cho ứng dụng của
enzyme tái tổ hợp trong thực tiễn.
Lời cảm ơn: Bài báo được thực hiện từ nguồn
kinh phí của đề tài cấp Viện Hàn lâm Khoa
học và Công nghệ Việt Nam “Nghiên cứu vai
trò của vùng chưa biết chức năng trong cấu
trúc module của cellulase” giai đoạn
2018−2019 do TS. Đỗ Thị Huyền, Viện Công
nghệ sinh học chủ nhiệm. Công trình có sử
dụng trang thiết bị của Phòng thí nghiệm
Trọng điểm Công nghệ gen tại Viện Công
nghệ sinh học, Viện Hàn lâm Khoa học và
Công nghệ Việt Nam (VAST).
TÀI LIỆU THAM KHẢO
Amore A., Pepe O., Ventorino V., Birolo L.,
Giangrande C., Faraco V., 2012. Cloning
and recombinant expression of a cellulase
from the cellulolytic strain Streptomyces
sp. G12 isolated from compost. Microb.
Cell Factories, 11: 164.
Cano-Ramírez C., Santiago-Hernández A.,
Rivera-Orduña F.N., García-Huante Y.,
Zúñiga G., Hidalgo-Lara M.E., 2016.
Expression, purification and
characterization of an endoglucanase from
Serratia proteamaculans CDBB-1961,
isolated from the gut of Dendroctonus
adjunctus (Coleoptera: Scolytinae). AMB
Express6.
Chuan Wei K.S., Teoh T.C., Koshy P.,
Salmah I., Zainudin A., 2015. Cloning,
expression and characterization of the
endoglucanase gene from Bacillus subtilis
UMC7 isolated from the gut of the
indigenous termite Macrotermes
malaccensis in Escherichia coli.
Electron.J. Biotechnol., 18: 103–109.
Lynd L.R., Weimer P.J., van Zyl W.H.,
Pretorius I. S.,2002. Microbial cellulose
utilization: fundamentals and
biotechnology. Microbiol. Mol. Biol. Rev.
MMBR, 66: 506–577.
Maki M., Leung K.T., Qin W., 2009. The
prospects of cellulase-producing bacteria
Selection of purification condition for recombinant
81
for the bioconversion of lignocellulosic
biomass. Int. J. Biol. Sci., 5: 500–516.
Nguyen K.H.V., Nguyen T.T., Truong N.H.,
Do T.H., 2019. Application of
bioinformatic tools for prediction of active
pH and temperature stability of
endoglucanases based on coding
sequences from metagenomic DNA data.
Biological Forum, 11: 14–20.
Nguyen T.Q., Duong T.H., Dang T.N.H., Le
N.G., Le Q.G., Do T.H., Nguyen V.D., Le
T.T.H., Truong N.H., 2018. Enhanced
soluble expression and efective
purification of recombinant human
interleukin-11 by SUMO fusion in
Escherichia coli. Indian Journal of
Biotechnology, 17: 579–585.
Pandey S., Kushwah J., Tiwari R., Kumar R.,
Somvanshi V.S., Nain L., Saxena A.K.,
2014. Cloning and expression of β-1, 4-
endoglucanase gene from Bacillus subtilis
isolated from soil long term irrigated with
effluents of paper and pulp mill.
Microbiol. Res., 169: 693–698.
Seneesrisakul K., Guralp S.A., Gulari E.,
Chavadej S., 2017. Escherichia coli
expressing endoglucanase gene from Thai
higher termite bacteria for enzymatic and
microbial hydrolysis of cellulosic
materials. Electron. J. Biotechnol., 27:
70–79.
Các file đính kèm theo tài liệu này:
selection_of_purification_condition_for_recombinant_endogluc.pdf