Kết quả so sánh 2 phương pháp xét nghiệm 10 con cua bắt tại xã An Lạc, huyện Lục Yên,
tỉnh Yên Bái được trình bày ở bảng 3. Kết quả cho thấy metacercaria thu được từ phương pháp
giã-lọc cua (902 metacercaria) cao hơn nhiều so với phương pháp ép cua (252 metacercaria), số
lượng metacercaria thu được ở phương pháp ép cua chỉ tương đương với 28,0% của phương
pháp giã-lọc cua.
Tính riêng từng bộ phận cơ thể cua thì thấy phương pháp ép cua thu được số lượng
metacercaria ở cơ thân, cơ chân và gạch thấp hơn so với phương pháp giã-lọc cua, ngược lại số
lượng metacercaria ở mang thì thu được nhiều hơn. Vì khi ép mang cua giữa 2 tấm kính có thể
quan sát được toàn bộ metacercaria, không bị sót, ngược lại khi giã mang cua thì một số
metacercaria dính ở giữa mang sẽ bị mất đi khi lọc. Trái lại, các bộ phận cơ thì khó tách hết
phần thịt ra khỏi thân và chân, nên bị sót nhiều đặc biệt là phần cơ chân. Phần gạch cua khó dàn
mỏng trên tấm kính để quan sát hết metacercaria. Đo đó ở phương pháp ép cua thu được ít
metacercaria hơn so với phương pháp giã-lọc cua. Vì vậy, để thu được số lượng metacercaria
chính xác nhất thì ép mang cua giữa 2 tấm kính, còn phần cơ và gạch cua thì áp dụng phương
pháp giã-lọc cua.
Với phương pháp ép cua thì số lượng metacercaria thu được nhiều nhất ở mang (38,5%),
sau đó đến cơ thân (25,4%), gạch (20,6%) và thấp nhất ở cơ chân (15,5%). Kết quả này cũng
tương tự với công bố của Nguyễn Thị Lê và cs (1997). Ngược lại, với phương pháp giã-lọc cua
thì số lượng metacercaria thu được nhiều nhất ở cơ chân (41,9%) và cơ thân (39,7%), ở mang
(9,3%) và gạch cua (9,1%) thấp hơn. Kết quả này tương tự với nghiên cứu của Habe et al.
(1993) về phân bố metacercria sán lá phổi ở cơ thể cua thu tại Malaysia. Các tác giả thu được
metacercaria nhiều nhất ở phần cơ, sau đó đến mang và gạch cua. Tại Việt Nam, Hứa Văn
Thước và cs. (2007) phân tích số lượng metacercaria ở cua suối thu tại Lương Sơn, tỉnh Lào Cai
cũng thu được nhiều nhất ở cơ chân (41,08%), tiếp đến cơ thân (35,34%), và nội tạng (23,57%).
Tác giả không trình bày xét nghiệm cua theo phương pháp nào, nhưng kết quả này cho thấy có
thể tác giả đã sử dụng phương pháp giã-lọc cua. Tóm lại, phương pháp giã-lọc cua thu được số
lượng metacercaria nhiều hơn và chính xác hơn, phương pháp này cũng đơn giản, dễ thực hiện
và nhanh hơn so với phương pháp ép cua.
5 trang |
Chia sẻ: hachi492 | Lượt xem: 2 | Lượt tải: 0
Bạn đang xem nội dung tài liệu So sánh hai phương pháp xét nghiệm cua suối tìm ấu trùng sán lá phổi, để tải tài liệu về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
HỘI NGHỊ KHOA HỌC TOÀN QUỐC VỀ SINH THÁI VÀ TÀI NGUYÊN SINH VẬT LẦN THỨ 7
1999
SO SÁNH HAI PHƢƠNG PHÁP XÉT NGHIỆM CUA SUỐI
TÌM ẤU TRÙNG SÁN LÁ PHỔI
Lƣu Anh Tú1,2, Hoàng Văn Hiền3, Bùi Khánh Linh4, Phạm Ngọc Doanh2,3
1
Bệnh viện phổi Trung ương
2
Học viện Khoa học và Công nghệ,
Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam
3
Viện Sinh thái và tài nguyên sinh vật,
Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam
4
Học viện Nông nghiệp Việt Nam
Các loài sán lá thuộc giống Paragonimus gây bệnh sán lá phổi ở người và động vật. Nguyên
nhân nhiễm bệnh là do ăn phải cua suối bị nhiễm ấu trùng sán lá phổi ở giai đoạn cảm nhiễm -
metacercaria. Vì vậy, xét nghiệm cua suối tìm ấu trùng sán lá phổi rất cần thiết cho nghiên cứu
dịch tễ học bệnh sán lá phổi. Cho đến nay, 2 phương pháp xét nghiệm cua suối được sử dụng
phổ biến là ép cua giữa hai tấm kính (Nguyễn Thị Lê và cs., 1997; Phạm Ngọc Doanh và cs.,
2002; Cheng et al., 2010; Sugiyama et al., 2012) và giã-lọc cua (Habe et al., 1993; Iwagami et
al., 2003; Sohn et al., 2009; Cheng et al., 2010). Tuy nhiên chưa có tác giả nào mô tả kỹ phương
pháp giã-lọc cua cần lọc bao nhiêu lần, thời gian để lắng giữa các lần lọc là bao nhiêu phút,
cũng như chưa có nghiên cứu so sánh phương pháp nào dễ thực hiện hơn. Bài báo này trình bày
kết quả nghiên cứu các vấn đề này.
I. NGUYÊN LIỆU VÀ PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
1. Nguyên liệu
Cua suối Indochinamon tannanti bắt tại xã An Lạc, huyện Lục Yên, tỉnh Yên Bái và
Vietopotamon aluoiense bắt tại xã Hướng Sơn, huyện Hướng Hóa, tỉnh Quảng Trị, là 2 địa điểm
bị nhiễm sán lá phổi P. heterotremus và P. westermani với tỷ lệ nhiễm cao (Doanh et al., 2013).
Cua suối Indochinamon tannanti bắt tại xã Yên Quang, huyện Lương Sơn, tỉnh Hòa Bình - vùng
không bị nhiễm ấu trùng sán lá phổi (Phạm Ngọc Doanh và cs, 2002).
2. Phƣơng pháp nghiên cứu
Phương pháp giã-lọc cua: Để xác định số lần gạn lọc và thời gian lắng cặn giữa các lần lọc,
dùng chày cối giã một cá thể cua suối có kích thước trung bình (chiều ngang mai cua 30 mm)
bắt ở xã Yên Quang, huyện Lương Sơn, tỉnh Hòa Bình - vùng không nhiễm sán lá phổi và cho
vào 50 metacercaria của sán lá phổi P. westermani thu từ cua suối bắt tại Quảng Trị. Cho vào
250 ml nước, khuấy đều và lọc qua lưới lọc kích thước 1 x 1 mm vào cốc nhựa thể tích 300 ml.
Tiến hành gạn-lọc đến khi phần cặn trong có thể xem dưới kính hiển vi soi nổi. Thử nghiệm thời
gian lắng cặn giữa các lần lọc là: 3 phút, 2 phút và 1 phút bằng cách dùng đồng hồ bấm giờ. Từ
dịch lọc ban đầu, để lắng cặn trong thời gian thử nghiệm 3 phút, gạn ½ phần nước trong ở phía
trên sang một cốc khác (giữ lại để kiểm tra), cho thêm nước vào phần cặn đến đầy cốc, để lắng
và lặp lại quy trình gạn-lọc đến khi dung dịch trong. Đem phần cặn ở lần cuối cùng kiểm tra
dưới kính hiển vi soi nổi tìm ấu trùng sán lá phổi. Nếu đếm đủ 50 metacercaria thì thực hiện thí
nghiệm với thời gian gạn lọc ngắn hơn (2 phút, 1 phút). Nếu đếm không đủ 50 metacercaria thì
kiểm tra phần nước lọc của tất cả các bước trước đó. Từ đó xác định thời gian lắng cặn thích
hợp nhất là thời gian ngắn nhất mà vẫn thu lại đủ 50 metacercaria ở phần cặn của lần lọc cuối
cùng. Thí nghiệm với mỗi thời gian lắng cặn lặp lại 3 lần. Làm tương tự như vậy với
metacercaria của loài P. heterotremus.
.
TIỂU BAN SINH THÁI HỌC VÀ MÔI TRƯỜNG
2000
Phương pháp ép cua giữa 2 tấm kính: Loại bỏ mai cứng, dùng panh gắp riêng phần mang và
gạch cua ép giữa 2 tấm kính để kiểm tra dưới kính hiển vi. Đối với phần thân và chân, dùng kéo
và dao để nạo phần cơ rồi ép giữa 2 tấm kính, quan sát dưới kính hiển vi tìm ấu trùng sán lá
phổi. Đếm số lượng metacercaria ở từng bộ phận cơ thể cua.
So sánh 2 phương pháp ép cua và giã-lọc cua:
So sánh 2 phương pháp xét nghiệm cua về thời gian xét nghiệm và số nang sán thu được từ
10 cá thể cua suối bắt tại Yên Bái - nơi có tỷ lệ nhiễm P. heterotremus cao.
Xét nghiệm từng bộ phận (mang, gạch cua, cơ thân và cơ chân) của từng cá thể cua bằng
phương pháp ép giữa 2 tấm kính trước. Đếm số lượng metacercaria ở từng bộ phận. Sau đó
chuyển sang giã-lọc cua theo quy trình mô tả như trên với số lần lọc và thời gian để lắng thích
hợp nhất đã được xác định. Đếm số lượng metacercaria ở từng bộ phận cơ thể cua. So sánh thời
gian xét nghiệm và số lượng metacercaria thu được từ 2 phương pháp trên.
II. KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN
1. Xác định thời gian lắng cặn và số lần lọc của phƣơng pháp giã-lọc cua.
Kết quả thí nghiệm xác định thời gian lắng cặn giữa các lần lọc được trình bày ở bảng 1.
Sau 8 lần lọc thì dung dịch lọc đã trong có thể quan sát dưới kính hiển vi soi nổi để tìm ấu trùng
sán lá phổi. Đối với metacercaria của loài P. westermani, nếu thời gian lắng cặn là 3 và 2 phút
đều thu đủ 50 metacercaria ở lần lọc cuối cùng. Với thời gian lắng cặn 1 phút chỉ có một lần thí
nghiệm thu được 50 metacercaria ở lần lọc cuối cùng, ở 2 đợt thí nghiệm lặp lại chỉ thu được 48
và 49 metacercaria, 1 - 2 metacercaria thu được ở nước lọc của các lần lọc trước (Bảng 1).
Đối với metacercaria của loài P. heterotremus, thời gian lắng cặn 3 phút cũng thu đủ 50
metacercaria ở lần lọc cuối cùng. Nhưng với thời gian lắng cặn 2 phút chỉ thu được 46-47
metacercaria ở lần lọc cuối cùng, 3-4 metacercaria thu được ở nước lọc các lần lọc thứ 1-7.
Bảng 1
Metacercaria thu đƣợc với thời gian lắng cặn khác nhau
Metacercaria Lần lọc Số lượng metacercaria thu được ở thời gian lắng cặn
3 phút 2 phút 1 phút
P. westermani 1 đến 7 0 0 0 - 2 (1,0)
Cuối cùng 50 50 48-50 (49,0)
Tổng số 50 50 50
P. heterotremus 1 đến 7 0 3 - 4 (3,3)
Cuối cùng 50 46-47 (46,7)
Tổng số 50 50
Ghi chú: số trong ngoặc đơn là giá trị trung bình.
Phương pháp giã-lọc cua đã và đang được sử dụng phổ biến để thu metacercaria sán lá phổi
ở nhiều nước, như Nhật Bản, Hàn Quốc, Trung Quốc, Thái Lan, Malaysia và Việt Nam (Habe et
al., 1993; Iwagami et al., 2003; Sohn et al., 2009; Cheng et al., 2010). Nguyên tắc của phương
pháp này là giã cua để tách metacercaria khỏi phần cơ (thịt) và các nội quan của cua, sau đó
dùng nước để lọc qua lưới lọc có kích thước 1 x 1mm (vì metacercaria sán lá phổi lớn nhất có
đường kính khoảng 0,8 mm; Kong et al. 2015) để loại bỏ bớt phần cặn có kích thước lớn. Sau
đó gạn-lọc để loại bỏ những cặn có tỷ trọng nhỏ hơn metacercaria còn lơ lửng ở trên khi
metacercaria đã lắng xuống đáy. Vì vậy, nếu thời gian để lắng quá lâu thì các cặn nhỏ cũng lắng
xuống, do đó khó lọc được đến khi dung dịch trong để có thể quan sát dưới kính hiển vi thu ấu
trùng. Ngược lại, nếu thời gian để lắng quá ngắn thì metacercaria vẫn còn lơ lửng ở trên sẽ bị
.
HỘI NGHỊ KHOA HỌC TOÀN QUỐC VỀ SINH THÁI VÀ TÀI NGUYÊN SINH VẬT LẦN THỨ 7
2001
mất đi khi gạn lọc. Vì vậy, xác định thời gian lắng cặn thích hợp để thu được metacercaria
nhanh và chính xác nhất là rất cần thiết trong nghiên cứu dịch tễ sán lá phổi. Tuy nhiên, cho đến
nay, chưa có tác giả nào thử nghiệm để tìm ra thời gian để lắng giữa các lần lọc bao nhiêu phút
là thích hợp nhất. Khi trình bày phương pháp nghiên cứu trong các công bố trước đây, các tác
giả chỉ mô tả để lắng trong vài phút, duy nhất Sohn et al. (2009) ghi rõ để lắng trong 15 phút.
Tuy nhiên, áp dụng thời gian này chúng tôi thấy quá lâu, khó lọc được đến dịch trong. Kết quả
nghiên cứu của chúng tôi cho thấy bằng phương pháp giã-lọc cua với cá thể cua có kích thước
trung bình (chiều ngang mai cua 30mm) thì lọc khoảng 8 lần có thể xem dưới kính. Về thời gian
để lắng giữa các lần lọc, đối với metacercaria của loài P. westermani là 2 phút, và P.
heterotremus là 3 phút thì metacercaria sẽ lắng hết xuống đáy. Điều này được lý giải là kích
thước metacercaria của P. westermani (khoảng 400 µm) lớn hơn so với P. heterotremus (≤ 300
µm) (Kong et al., 2015), vì vậy thời gian lắng xuống nhanh hơn. Metacercaria của loài P.
heterotremus là nhỏ nhất so với các loài sán lá phổi khác (Doanh et al., 2015), vì vậy trong
phương pháp giã-lọc cua thì thời gian lắng giữa các lần lọc 3 phút là thích hợp nhất để thu được
metacercaria của tất cả các loài sán lá phổi.
2. So sánh hai phƣơng pháp xét nghiệm cua
Thời gian x t nghiệm bằng phương pháp p cua và giã-lọc cua.
Để so sánh thời gian xét nghiệm bằng 2 phương pháp, cùng một người tiến hành xét nghiệm
3 cá thể cua bị nhiễm ấu trùng sán lá phổi. Thực hiện phương pháp ép cua trước, sau đó chuyển
sang phương pháp giã-lọc cua với thời gian lắng cặn 3 phút. Kết quả cho thấy thời gian xét
nghiệm một cá thể cua bằng phương pháp ép giữa hai tấm kính hết 76-85 phút (trung bình 80,3
phút), trong khi đó phương pháp giã-lọc cua mất 33-38 phút (trung bình 35,3 phút) (bảng 2).
Như vậy, xét nghiệm cua bằng phương pháp giã-lọc cua nhanh hơn so với phương pháp ép cua.
Hơn nữa, khi xét nghiệm bằng phương pháp giã-lọc cua thì dễ thu metacercaria hơn, vì chúng
đã được tách khỏi thịt cua, có thể hút bằng pipet, còn với phương pháp ép cua thì khó thu
metacercaria vì chúng vẫn còn lẫn trong thịt cua.
Bảng 2
So sánh thời gian xét nghiệm bằng phƣơng pháp ép và giã-lọc cua
Cá thể cua thứ Thời gian xét nghiệm (phút) bằng phương pháp
p cua Giã-lọc cua
1 80 35
2 85 38
3 76 33
Trung bình 80,3 35,3
So sánh số lượng metacercaria thu được của 2 phương pháp p cua vàgiã-lọc cua
Kết quả so sánh 2 phương pháp xét nghiệm 10 con cua bắt tại xã An Lạc, huyện Lục Yên,
tỉnh Yên Bái được trình bày ở bảng 3. Kết quả cho thấy metacercaria thu được từ phương pháp
giã-lọc cua (902 metacercaria) cao hơn nhiều so với phương pháp ép cua (252 metacercaria), số
lượng metacercaria thu được ở phương pháp ép cua chỉ tương đương với 28,0% của phương
pháp giã-lọc cua.
Tính riêng từng bộ phận cơ thể cua thì thấy phương pháp ép cua thu được số lượng
metacercaria ở cơ thân, cơ chân và gạch thấp hơn so với phương pháp giã-lọc cua, ngược lại số
lượng metacercaria ở mang thì thu được nhiều hơn. Vì khi ép mang cua giữa 2 tấm kính có thể
quan sát được toàn bộ metacercaria, không bị sót, ngược lại khi giã mang cua thì một số
.
TIỂU BAN SINH THÁI HỌC VÀ MÔI TRƯỜNG
2002
metacercaria dính ở giữa mang sẽ bị mất đi khi lọc. Trái lại, các bộ phận cơ thì khó tách hết
phần thịt ra khỏi thân và chân, nên bị sót nhiều đặc biệt là phần cơ chân. Phần gạch cua khó dàn
mỏng trên tấm kính để quan sát hết metacercaria. Đo đó ở phương pháp ép cua thu được ít
metacercaria hơn so với phương pháp giã-lọc cua. Vì vậy, để thu được số lượng metacercaria
chính xác nhất thì ép mang cua giữa 2 tấm kính, còn phần cơ và gạch cua thì áp dụng phương
pháp giã-lọc cua.
Bảng 3
So sánh số lƣợng metacercaria thu đƣợc từ 2 phƣơng pháp xét nghiệm cua
Các bộ
phận cơ
thể cua
Metacercariae thu được theo hai phương pháp
Ép cua Giã-lọc cua Tỷ lệ ép/giã-lọc
(%) Số lượng Tỷ lệ (%) Số lượng Tỷ lệ (%)
Mang 97 38,5 84 9,3 115,5
Gạch 52 20,6 82 9,1 63,4
Cơ thân 64 25,4 358 39,7 17,9
Cơ chân 39 15,5 378 41,9 10,3
Tổng số 252 100,0 902 100,0 28,0
Với phương pháp ép cua thì số lượng metacercaria thu được nhiều nhất ở mang (38,5%),
sau đó đến cơ thân (25,4%), gạch (20,6%) và thấp nhất ở cơ chân (15,5%). Kết quả này cũng
tương tự với công bố của Nguyễn Thị Lê và cs (1997). Ngược lại, với phương pháp giã-lọc cua
thì số lượng metacercaria thu được nhiều nhất ở cơ chân (41,9%) và cơ thân (39,7%), ở mang
(9,3%) và gạch cua (9,1%) thấp hơn. Kết quả này tương tự với nghiên cứu của Habe et al.
(1993) về phân bố metacercria sán lá phổi ở cơ thể cua thu tại Malaysia. Các tác giả thu được
metacercaria nhiều nhất ở phần cơ, sau đó đến mang và gạch cua. Tại Việt Nam, Hứa Văn
Thước và cs. (2007) phân tích số lượng metacercaria ở cua suối thu tại Lương Sơn, tỉnh Lào Cai
cũng thu được nhiều nhất ở cơ chân (41,08%), tiếp đến cơ thân (35,34%), và nội tạng (23,57%).
Tác giả không trình bày xét nghiệm cua theo phương pháp nào, nhưng kết quả này cho thấy có
thể tác giả đã sử dụng phương pháp giã-lọc cua. Tóm lại, phương pháp giã-lọc cua thu được số
lượng metacercaria nhiều hơn và chính xác hơn, phương pháp này cũng đơn giản, dễ thực hiện
và nhanh hơn so với phương pháp ép cua.
III. KẾT LUẬN
Với phương pháp giã-lọc cua, thời gian để lắng giữa các lần lọc 3 phút là thích hợp nhất để
thu được metacercaria sán lá phổi nhanh và chính xác nhất.
Phương pháp giã-lọc có nhiều ưu điểm hơn so với phương pháp ép cua tìm ấu trùng sán lá
phổi: dễ thu metacercaria hơn, thời gian xét nghiệm nhanh hơn và chính xác hơn.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Cheng Y. Z., Li L. S., Lin G. H., Zhou P. C., Jiang D. W., Fang Y. Y., Lin C. X., Li Y.
R., 2010. Survey on the foci of Paragonimus in Youxi, Yongtai and Pinghe Counties of
Fujian Province. Chinese Journal of parasitology & parasitic diseases, 28(6):406-10.
2. Phạm Ngọc Doanh, Nguyễn Thị Lê, Đặng Tất Thế, 2002. Phân bố của loài sán lá phổi
Paragonimus heterotremus và vật chủ trung gian của nó tại vùng núi Tây Bắc. Tạp chí sinh
học, 24(1):14-22.
3. Doanh P. N., Thaenkham U., AnP. T., Hien H. V., Horii Y., Nawa Y., 2015.
Metacercarial polymorphism and genetic variation of Paragonimus heterotremus
.
HỘI NGHỊ KHOA HỌC TOÀN QUỐC VỀ SINH THÁI VÀ TÀI NGUYÊN SINH VẬT LẦN THỨ 7
2003
(Digenea: Paragonimidae), and a re-appraisal of the taxonomic status of Paragonimus
pseudoheterotremus. Journal of Helminthology, 89(2):182-188.
4. Nguyễn Thị Lê, Đặng Tất Thế, Phạm Ngọc Doanh, 1997. Tình hình nhiễm
metacercariae của sán lá phổi (giống Paragonimus, 1899) ở cua suối thuộc huyện Sìn Hồ -
Lai Châu. Tạp chí Y học Việt Nam, 213(2):35-40.
5. Habe S., Lai K. P. F., Agatsuma T., Yang O. C. K., Kawashima K., 1993. Crab hosts
for Paragonimus westermani (Kerbert, 1878) in Malaysia. Japanese Journal of Tropical
Medicine and Hygiene, 21(3)137-142.
6. Iwagami M., Rajapakse R. P. V. J., Paranagama W., Agatsuma T., 2003. Identities of
two Paragonimus species from Sri Lanka inferred from molecular sequences. Journal of
Helminthology 77:239–245.
7. Kong Y., Doanh P. N., Nawa Y., 2015. Paragonimus. In Xiao L, Ryan U and Feng Y,
eds. Biology of Foodborne Parasites. CRC Press, pp.445-462.
8. Sohn W. M., Ryu J. S., Min D. Y., Song H. O., Rim H. J., Vonghachack Y.,
Bouakhasith D., Banouvong V., 2009. Indochinamon ou (Crustacea: Potamidae) as a new
second intermediate host for Paragonimus harinasutai in Luang Prabang Province, Lao
PDR. Korean Journal of Parasitology, 47(1):25-29.
9. Sugiyama H., Shibata K., Morishima Y., Muto M., Yamasaki H., Kawakami Y., 2012.
Current status of lung fluke metacercarial infection in freshwater crabs in
he Kawane area of Shizuoka Prefecture, Japan. Journal of Veterinary Medical Science,
75(3):249-53.
10. Hứa Văn Thƣớc và cs., 2007. Nghiên cứu một số đặc điểm dịch tễ, hình thái, sinh thái của
ấu trùng sán lá phổi trong trung gian tryền bệnh (cua suối) tại một số tỉnh phía Bắc giáp
Trung Quốc. Tạp chí Y học TP. Hồ Chí Minh, 11(2):136-142.
COMPARISON OF TWO METHODS OF CRAB EXAMINATION FOR
PARAGONIMUS METACERCARIA
Luu Anh Tu, Hoang Van Hien,
Bui Khanh Linh, Pham Ngoc Doanh
SUMMARY
Examination of freshwater crabs for Paragonimus metacercaria are essential for the study of
the epidemiology of paragonimiasis. So far, two methods of crab examination (pressing between
two glasses and grinding-filtering) are commonly used. However, there has been no detail
description of grinding-filtering method, and there has been no report on the comparison of
these two methods as well. The results of the present study indicated that in grinding- filtering
method, the best interval time between two filtrations is 3 minutes to examine crabs fastest and
to collect metacercaria accurately. The method of grinding-filtering has some advantages
(easier, faster and more accurate) over the method of pressing crabs.
.
Các file đính kèm theo tài liệu này:
so_sanh_hai_phuong_phap_xet_nghiem_cua_suoi_tim_au_trung_san.pdf