Một số lƣu ý khi xử lý mẫu vật
Ở giai đoạn xử lý ban đầu, đối với những
mẫu có cơ dày, nên lạng bớt ở bên phần thân
trái để hóa chất thấm nhanh và quá trình làm
trong cũng được rút ngắn lại, điều này đã được
đề cập trong chỉ dẫn của Helland (1988) [15] và
kiểm chứng qua quá trình thực hiện.
Ở giai đoạn tẩy trắng bằng oxy già và kali
hydroxit, cần theo dõi sát sao vì hóa chất sử
dụng có tác dụng tẩy rất mạnh, nếu để quá thời
gian, có thể làm hỏng mẫu như nổ mắt thậm chí
rã toàn bộ thân cá. Quá trình này nếu thực hiện
tốt thì sau khi hoàn tất, một số mẫu nhỏ đã đạt
đủ độ trong, có thể bỏ qua bước xử lý tiếp theo.
Ở giai đoạn làm trong, đối với những mẫu
nhỏ, men trypsin có thể không cần dùng đến,
nhưng với mẫu lớn, nhất thiết phải bổ sung vào
nhằm thúc đẩy quá trình phân giải chất đạm,
làm cho mẫu nhanh trong.
Đối với những mẫu trưng bày, sau khi hoàn
tất qui trình, mẫu vật chưa hoàn toàn trong hẳn
mà nhờ hiệu ứng thị giác khi đặt mẫu trong
glycerin sẽ cho hình ảnh trong suốt hơn mẫu
thực, chính vì vậy, chất lượng glycerin và lọ
thủy tinh đóng góp vai trò quan trọng đối với
tính thẩm mỹ của mẫu.
Mẫu vật trải qua hai lần nhuộm sụn màu
xanh và nhuộm xương màu hồng tím nhưng
trong thực tế đối với cả 3 loại cá, màu xanh
hầu như không đáng kể, có thể do 3 nhóm đều
là cá xương, phần sụn không còn nhiều trong
cơ thể đủ để tạo ra ấn tượng về màu xanh. Từ
thực tế trên, khi tiến hành xử lý mẫu nên cân
nhắc có hay không thực hiện bước nhuộm sụn
đối với các nhóm cá xương, bởi nếu bỏ qua
giai đoạn này sẽ giảm được thời gian và cả chi
phí hóa chất.
8 trang |
Chia sẻ: hachi492 | Lượt xem: 2 | Lượt tải: 0
Bạn đang xem nội dung tài liệu Some methods to stain cartilage and bone of vertebrates and application on small fish in museum of oceanography, để tải tài liệu về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
115
Vietnam Journal of Marine Science and Technology; Vol. 19, No. 4A; 2019: 115–122
DOI: https://doi.org/10.15625/1859-3097/19/4A/14594
https://www.vjs.ac.vn/index.php/jmst
Some methods to stain cartilage and bone of vertebrates and application
on small fish in museum of oceanography
Nguyen Thi My Ngan
*
, Bui Quang Nghi, Nguyen Kha Phu, Hoang Xuan Ben
Institute of Oceanography, VAST, Vietnam
*
E-mail: myngan.ion@gmail.com
Received: 30 July 2019; Accepted: 6 October 2019
©2019 Vietnam Academy of Science and Technology (VAST)
Abstract
In a natural scientific museum as Museum of Oceanography, a specimen should be not only awesome but
also scientific in order to attract visitors and introduce knowledge to them. One of the methods satisfying
those requirements is “Method of staining cartilages and bones for small vertebrates”. This method was
applied to handle small fish: Anchovies (Encrasicholina devisi (Whitley, 1940)), amphiprions (Amphiprion
ocellaris (Cuvier 1830)) and ponyfish (Leiognathus sp.), which is highly efficient, not only used in studying
fish bones and cartilages but also attractive to visitors. This paper also gives details on experiences during
handling process of this method.
Keywords: Staining of cartilage and bone, Amphiprion ocellaris, vertebrates.
Citation: Nguyen Thi My Ngan, Bui Quang Nghi, Nguyen Kha Phu, Hoang Xuan Ben, 2019. Some methods to stain
cartilage and bone of vertebrates and application on small fish in museum of oceanography. Vietnam Journal of Marine
Science and Technology, 19(4A), 115–122.
116
Tạp chí Khoa học và Công nghệ Biển, Tập 19, Số 4A; 2019: 115–122
DOI: https://doi.org/10.15625/1859-3097/19/4A/14594
https://www.vjs.ac.vn/index.php/jmst
Một số phƣơng pháp nhuộm màu động vật có xƣơng sống và kết quả
thực nghiệm trên một số loài cá kích thƣớc nhỏ
Nguyễn Thị Mỹ Ngân*, Bùi Quang Nghị, Nguyễn Khả Phú, Hoàng Xuân Bền
n d n c, n àn lâm K oa c và Côn n t Nam, t Nam
*
E-mail: myngan.ion@gmail.com
Nhận bài: 30-7-2019; Chấp nhận đăng: 6-10-2019
Tóm tắt
Đối với một bảo tàng khoa học tự nhiên, hình thức trưng bày mẫu vật ngoài tính chất thẩm mỹ thu hút sự
chú ý, thì tính khoa học cũng luôn được lưu tâm nhằm giúp người xem có thể tiếp cận kiến thức khoa học.
Một trong những phương pháp đáp ứng được nhu cầu trên đó là “Nhuộm màu xương và sụn mẫu sinh vật có
xương sống”. Phương pháp trên được ứng dụng trên 3 loài cá có kích thước nhỏ (cá lầm tròn nhẳng -
Spratelloides gracilis (Temminck & Schlegel, 1846), cá khoang cổ - Amphiprion ocellaris (Cuvier 1830) và
cá liệt - Leiognathhus sp.) đã cho hiệu quả cao, vừa có thể được dùng trong nghiên cứu xương, sụn các loài
cá đồng thời đạt tính thẩm mỹ, thu hút người xem. Bài báo cũng đề cập đến một số kinh nghiệm trong quá
trình xử lý mẫu theo phương pháp này.
Từ khóa: Nhuộm màu sụn và xương, cá khoang cổ Nemo, động vật có sương sống.
GIỚI THIỆU
Đối với một bảo tàng khoa học tự nhiên,
việc tìm hiểu, ứng dụng và làm chủ những
phương pháp chế tác mẫu mang tính khoa học
đồng thời đủ tính thẩm mỹ để có thể thu hút
công chúng là việc làm cần thiết. Vì vậy, bảo
tàng luôn không ngừng tìm hiểu những phương
pháp mới, áp dụng vào việc chế tác mẫu vật
nhằm tạo ra những sản phẩm khoa học độc đáo,
thỏa mãn nhu cầu ngày càng cao của du khách
tham quan. Một trong những phương pháp đáp
ứng được cả hai yêu cầu trên là chế tác mẫu
bằng cách làm trong và nhuộm màu hai lần áp
dụng cho động vật có xương sống.
TỔNG QUAN CÁC PHƢƠNG PHÁP
NHUỘM MÀU SỤN VÀ XƢƠNG ĐỘNG
VẬT CÓ XƢƠNG SỐNG
Mặc dù được sử dụng lần đầu tiên trong
thí nghiệm nhuộm xương bằng chất được chiết
xuất từ cây thiên thảo từ thế kỷ 18 [1], phương
pháp nhuộm màu xương, sụn và làm trong cơ
và các mô khác được biết đến trong nghiên
cứu của Taylor (1967) [2] - thực hiện trên
động vật có xương sống kích thước nhỏ. Sau
đó, phương pháp nhuộm màu và làm trong
xương và sụn được phát triển bởi Dingerkus &
Uhler, 1977 [3]; Potthoff (1984) [4];
Kawamura & Hosoya (1991) [5], phương pháp
này được sử dụng khá phổ biến trong các
nghiên cứu về động vật có xương sống, góp
phần làm sáng tỏ cây phả hệ các loài cá [6],
cũng như nghiên cứu cấu trúc, sự hình thành
xương và sụn trong các giai đoạn phát triển
của ấu trùng cá [7–11]; hoặc áp dụng cho mẫu
lưu trữ bảo tàng đối với bào thai hoặc những
động vật có xương sống cỡ nhỏ [12]. Phương
pháp được phát triển khi nhuộm enzym đối
với các dây thần kinh (phương pháp nhuộm 3
lần) [13]) nhờ đó, những nghiên cứu có thể
thực hiện trên cả xương, sụn và hệ thần kinh
của cá.
Một số p n p áp n uộm màu độn vật
117
Tùy vào nhu cầu và mục đích nghiên cứu,
phương pháp nhuộm màu và làm trong 2–3 lần
sẽ được áp dụng. Đối với mẫu vật ở bảo tàng,
phương pháp nhuộm màu hai lần có lẽ là
phương pháp thích hợp vì đáp ứng yêu cầu
thẩm mỹ bên cạnh mục đích nghiên cứu.
Phương pháp này được tổng hợp bởi Taylor &
Dyke (1985) [14], các tác giả đã khảo sát
những qui trình nhuộm màu và làm trong tại
thời điểm đó, áp dụng trên nhiều loài cá kích
thước từ 10–175 mm, thậm chí cả trên lưỡng
cư, thú và xương chim. Tác giả đã đề xuất qui
trình nhuộm 2 lần gồm 12 bước dành cho ấu
trùng cá. Căn cứ trên qui trình này, Potthoff
(1984) [4] đưa ra qui trình 7 bước sau khi kinh
nghiệm từ thực tế xử lý nhiều mẫu cá kích
thước từ 3 mm đến hơn 500 mm. Qui trình tiếp
tục được hoàn thiện gồm 9 bước bởi Helland
(1988) [15] và 10 bước bởi Ambruster (1989)
[1]. Cho đến nay, các qui trình này vẫn được sử
dụng rộng rãi trong nhiều nghiên cứu xương ấu
trùng cá.
Dù được cải tiến, bổ sung bởi nhiều tác giả
nhưng về chi tiết các bước thực hiện, qui trình
nhuộm màu và làm trong xương 2 lần vẫn giữ
nguyên tắc như sau: Mẫu khi cố định sẽ được
nhuộm sụn bằng Alcian blue
(C56H68Cl4CuN16S4), sau đó “làm trong” các mô
cơ bằng trypsin, tiếp tục nhuộm xương bằng
thuốc nhuộm Alizarin red S (C₁₄H7NaO7S), tẩy
thuốc nhuộm bằng dung dịch borax và trypsin
trong nước cất hoặc dùng kali hydroxit 1%,
cuối cùng bảo quản mẫu trong glycerin. Qui
trình này có thể áp dụng cả mẫu cá, lưỡng cư,
hoặc các động vật có xương sống nhỏ. Đối với
cá, kích thước mẫu có thể lên đến 500 mm, áp
dụng được cho cả mẫu tươi và mẫu đã lưu trữ
hàng chục năm trước [14], vì vậy thích hợp với
mẫu lưu trữ tại bảo tàng. Thực tế, qui trình đã
được thực hiện trên mẫu vật cá, bào thai trong
các bảo tàng [12, 14].
Trong nghiên cứu ấu trùng cá, phương pháp
trên tuy được áp dụng phổ biến nhưng cũng thể
hiện nhược điểm: Môi trường axit trong quá
trình nhuộm sụn lại gây khử khoáng xương
trong bước nhuộm xương tiếp theo. Để khắc
phục điều này, Walker & Kimmel (2006) [14]
đã phát triển phương pháp dùng clorua magie
(MgCl2) thay cho axit, nhờ đó, không gây tổn
hại đến xương ấu trùng, phương pháp này còn
có ưu điểm mẫu sau khi nhuộm vẫn có thể
dùng trong các nghiên cứu kiểu gen bằng
phương pháp PCR.
Như đã nêu trên, phương pháp nhuộm màu
2 lần phù hợp với nhu cầu đa dạng hóa mẫu
vật trưng bày đồng thời phục vụ mục đích
nghiên cứu ở Bảo tàng Hải dương học. Tuy
nhiên, để đáp ứng thị hiếu của công chúng,
mẫu vật cần được chú trọng chọn lựa nhằm
đạt tính thẩm mỹ cao sau khi chế tác. Trong
khi đó, phương pháp nhuộm màu hai lần liên
quan đến cấu tạo xương và sụn của động vật,
đặc điểm này khác biệt ở từng nhóm cá, có
nhóm cá xương và các tia vây cứng, thân dẹp
như cá liệt, cá giò, có nhóm cá mình tròn, các
tia vây ngắn như cá cơm. Ngoài ra, các nhóm
cá còn khác nhau ở sự hiện diện của lớp vẩy
bên ngoài. Tất cả những đặc điểm cấu tạo trên
có thể ảnh hưởng đến chất lượng và cảm quan
thẩm mỹ về mẫu vật. Điều này chưa được đề
cập trong các nghiên cứu đã có, cũng có thể vì
nhu cầu trưng bày không được chú trọng ở các
thí nghiệm khoa học trước đây. Bài báo được
thực hiện dựa trên những kết quả thực nghiệm
đối với một số loài cá kích thước nhỏ, trình
bày quy trình nhuộm và những điều cần lưu ý
trong quá trình tiến hành nhằm đạt được
những mẫu vật vừa có tính thẩm mỹ vừa đạt
được tính khoa học.
VẬT LIỆU VÀ PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN
CỨU
Vật liệu
Mẫu vật
Ngày 7/6/2018, tiến hành thu mẫu: Cá lầm
tròn nhẳng - Spratelloides gracilis (Temminck
& Schlegel, 1846), cá khoang cổ - Amphiprion
ocellaris (Cuvier 1830), cá liệt Leiognathhus
sp., Cá chọn làm mẫu đều tươi hoặc còn
sống, chiều dài toàn thân không quá 8 cm:
Cá liệt: Đại diện cho nhóm cá không có
vẩy, thân mỏng dẹp, các tia vây cứng, có thể
tạo hình đẹp; số lượng 3 mẫu, chiều dài từ 5,5–
6,5 cm.
Cá lầm tròn nhẳng: Đại diện cho nhóm cá
thân tròn, dài, vẩy mỏng, các tia vây nhỏ; số
lượng 5 mẫu, chiều dài từ 6–6,7 cm.
Cá khoang cổ Nemo: Đại diện cho nhóm
cá nhiều vẩy; số lượng 3 mẫu, chiều dài từ 4–
4,4 cm.
N uyễn T ị Mỹ N ân và nnk.
118
Hóa chất
Formalin (H2CO), cồn ethanol (C2H5OH), a
xít acetic (CH3COOH), thuốc nhuộm sụn Alcial
Blue 8X, thuốc nhuộm xương Alizarin Red S,
sodium borate, oxy già (H2O2), kali hidroxit
(KOH), nước cất, men trypsin.
Dụng cụ
Lọ thủy tinh 25 đến 500 ml, cốc đong 50 ml
và 500 ml, bình thủy tinh pha hóa chất, đũa
khuấy, ống nghiệm và lọ thủy tinh đựng mẫu,
giấy nhôm, lọ thủy tinh đựng mẫu.
Nhuộm màu mẫu vật
Tiến hành xử lý mẫu theo qui trình 9 bước
của Helland (1988) [15]:
B1. Làm chết cá: Đối với cá khoang cổ,
cho vào nước một ít formol, tăng dần nồng độ
cho đến khi cá chết hoàn toàn, định hình mẫu,
căng vây.
B2. Cố định mẫu trong Formalin 4% có
dung dịch đệm Phosphat: Tỉ lệ formalin/cá:
10/1; Thời gian cố định mẫu: 2 ngày.
B3. Nhuộm sụn: Vớt mẫu từ dung dịch cố
định, rửa kỹ bằng nước ngọt, ngâm vào dung
dịch ethanol 50% trong 4 ngày, tiếp tục ngâm
trong ethanol 95% trong 2 ngày, sau đó tiến
hành nhuộm sụn bằng thuốc nhuộm Alcian blue
8X. Dung dịch nhuộm gồm 35 ml Ethanol 95%
+15 mil axit axetic +10 mg Alcian Blue 8X.
Nhuộm sụn trong 22 h.
B4. Trung hòa mẫu đã nhuộm bằng
Sodium borate bão hòa trong 2 ngày.
B5. Tẩy trắng 15 ml 3% oxy già và 85 ml
1% kali hydroxit. Thời gian tẩy 6 h.
B6. Làm trong bằng dung dịch pha theo tỉ
lệ 35 ml Sodium borax bão hòa + 65 ml nước
cất + bột trypsin. Sau 5 ngày, mẫu đạt độ trong
khoảng 70%.
B7. Nhuộm xương bằng Alizarin Red S
pha trong Kali hydroxit 1% theo tỉ lệ 100 ml
kali hydroxit và 1 mg Alizarin Red S. Thời gian
nhuộm trong vòng 1 ngày.
B8. Tẩy chất nhuộm dung dịch pha theo tỉ
lệ 35 ml sodium borax bão hòa +65 ml nước
cất. Thời gian tẩy: 2 ngày.
B9. Bảo quản trong dung dịch glycerin và
kali hydroxit lần lượt theo tỉ lệ 30% glycerin +
70% kali hydroxit 1% trong 10 ngày, tiếp tục
với dung dịch 2 theo tỉ lệ 60% glycerin + 40%
kali hydroxit 1% trong 10 ngày, cuối cùng giữ
mẫu lâu dài trong 100% glycerin.
Đánh giá hiệu quả việc ứng dụng phƣơng
pháp nhuộm màu và làm trong
Đánh giá hiệu quả của việc ứng dụng kỹ
thuật nhuộm màu và làm trong sinh vật trong
việc chế tác mẫu bằng cách phát phiếu khảo sát
ý kiến nhận xét về các mẫu đã thực hiện.
KẾT QUẢ THỰC NGHIỆM TRÊN MỘT
SỐ LOÀI CÁ KÍCH THƢỚC NHỎ
Nhuộm màu mẫu vật
Kết quả quá trình nhuộm màu và làm trong
mẫu vật theo qui trình của Helland (1988) [6]
cho ra sản phẩm với các bước cụ thể như sau:
B n 1. Các bước thực hiện phương pháp nhuộm màu và làm trong mẫu vật
Nội
dung
Cá liệt Cá lầm tròn nhẳng Cá khoang cổ
Mẫu cá Cá tươi Cá tươi
Cá còn sống, làm chết cá từ
từ trong formol
Xử lý
mẫu ban
đầu
Hình 1: Mẫu cá liệt cố định, thƣớc 1 cm
Hình 1. Mẫu cá liệt cố định, thước
1 cm
Hình 2: Mẫu cá lầm tròn nhẳng cố định, thƣớc 1 cm
Hình 2. Mẫu cá lầm tròn nhẳng cố
định, thước 1 cm
Cá còn sống, là chết cá
từ từ trong formol
Hình 3: Mẫu cá khoang
cổ cố định, thước 1 cm
Hình 3. Mẫu cá khoang cổ
cố định, thước 1 cm
Cá được cố định hoàn toàn, đuôi và các vây xòe ra, căng cứng
Một số p n p áp n uộm màu độn vật
119
Nhuộm
sụn
Hình 4. Mẫu cá liệt nhuộm sụn
Hình 5. Mẫu cá lầm tròn nhẳng
nhuộm sụn
Hình 6. Mẫu cá khoang cổ
nhuộm sụn
Bắt màu xanh thấy rõ nhất ở vùng viền mắt và các đầu vây
Trung
hòa và
tẩy trắng
Hình 7. Các mẫu đang được trung hòa và tẩy trắng
Trước và sau khi tẩy trắng, màu xanh trên mẫu cá thay đổi không đáng kể, nhưng phần cơ đã khá trong,
có thể thấy xương sống ở cá liệt
Làm
trong
Sau 6 ngày, phần cơ khá trong,
riêng ruột cá vẫn giữ màu đục
Sau 6 ngày, cá trong hoàn toàn kể
cả phần ruột
Sau 7 ngày, cá khá trong
Nhuộm
xương
Sau 1 ngày ngâm trong dung dịch nhuộm, cá bắt màu hồng đậm ở các tia
vây, đuôi và xương sống, toàn thân cá đã trong suốt
Xương, tia vây và cả vẩy
đều bắt màu tím hồng, mắt
cá vàng, cá chưa trong
Tẩy chất
nhuộm
Không tẩy
Giữ trong dung dịch kali
hydroxit trong 2 ngày trước
khi tiến hành bảo quản
Bảo
quản
Dung dịch 1: B o qu n bằn kali hydroxit 1% và lycer n t eo tỉ l 70/30
Cá khá trong, xương cá bắt màu
tím hồng rõ nét, tất cả mẫu đều có
bọt khí trong bụng, màu xanh của
sụn còn lại rất ít, chỉ còn lại viền
mảnh quanh mắt
Cá trong suốt, xương vá tia vây có
màu tím hồng, màu xanh sụn còn ở
viền mắt, gốc vây hậu môn, gốc
vây ngực
Cá chưa trong hoàn toàn,
không còn màu xanh sụn,
Xương, tia vây và vẩy màu
hồng nhạt
Dung dịch 2: B o qu n bằn kali hydroxit 1% và lycer n t eo tỉ l 60/40
Cá trong suốt, xương hồng tím, màu xanh của sụn có thể thấy ở viền mắt
và các gốc mang
Cá tương đối trong, xương
và vẩy còn lại màu hồng tím,
gốc mang màu xanh
Hình 8. Mẫu cá liệt đã xử lý xong
Hình 9. Mẫu cá lầm tròn nhẳng đã
xử lý xong
Hình 10. Mẫu cá khoang cổ
đã xử lý xong
N uyễn T ị Mỹ N ân và nnk.
120
Dung dịch 3: B o qu n tron lycer n
Mẫu vật
hoàn
thiện
Hình 11. Mẫu vật hoàn thiện
Đánh giá hiệu quả việc ứng dụng kỹ thuật
nhuộm màu trong xử lý và chế tác mẫu
Hình 12. Biểu đồ về kết quả khảo sát mức độ ưa thích mẫu vật
Hình 12. Biểu đồ về kết quả khảo sát mức độ
ưa thích mẫu vật
Hình 13. Biểu đồ về kết quả quả khảo sát mức
độ ưa thích đối với từng mẫu vật
Hình 14. Biểu đồ về kết quả khảo sát lý do ưa
thích mẫu vật
Kết quả khảo sát ý kiến của 53 khách tham
quan (25 nam và 28 nữ) ở độ tuổi từ 18 đến 58
thể hiện trong hình 12–14.
THẢO LUẬN
Về qui trình xử lý mẫu vật
Đối với mẫu động vật có xương sống, qui
trình thực hiện theo Helland (1988) [15] có thể
xem là hướng dẫn chi tiết nhất, áp dụng cho 3
kích thước mẫu 10–80 mm, 80–200 mm và lớn
hơn 200 mm. Đây là chỉ dẫn rất quan trọng liên
quan đến thời gian xử lý mẫu bởi với các chất
tẩy mạnh như kali hydroxit hoặc oxy già, thời
gian xử lý chỉ cần thay đổi vài giờ cũng có thể
dẫn đến tình trạng mẫu bị phân rã hoặc không
chưa đủ độ mềm của cơ. Mặc dù vậy, hướng
dẫn trong qui trình cũng có một số nội dung
được định lượng một cách tương đối như
Một số p n p áp n uộm màu độn vật
121
“không được tẩy quá lâu” hoặc “ngâm mẫu có
đến khi độ trong đạt 60%”. Đối với những
người lần đầu tiên áp dụng, rất khó có thể chắc
chắn mẫu đã đủ độ tẩy trắng và độ trong hay
chưa, do vậy, qui trình cần được thực hiện
nhiều lần để rút ra kinh nghiệm cụ thể cho
những lần xử lý mẫu sau.
Sự khác biệt giữa các nhóm mẫu trong quá
trình xử lý
Cá thí nghiệm được chọn thuộc 3 nhóm có
những đặc điểm khác biệt như: Cá lầm tròn
nhẳng thân tròn, dài, không có vẩy; cá liệt thân
dẹp, mỏng, da trơn láng; cá khoang cổ thân
dẹp, mỏng, có vẩy, viền các vây tròn và rõ nét.
Thực tế trong quá trình thực hiện hầu như
không có khác biệt lớn giữa các nhóm mẫu. Ở
cá khoang cổ, thời gian xử lý một số giai đoạn
hơi dài hơn so với 2 mẫu còn lại như: Mẫu bắt
màu chậm hơn khi nhuộm sụn, quá trình làm
trong mẫu cũng lâu hơn và kết quả cảm quan
cũng cho thấy cá ít trong hơn. Có thể cấu tạo
xương và thịt của cá khoang cổ cứng, chắc hơn
hai nhóm còn lại nên thời gian đáp ứng với các
loại hóa chất chậm hơn, điều này để kết luận,
cần được kiểm chứng. Tuy nhiên, có một điều
chắc chắn là mỗi loại mẫu sẽ cần thời gian xử
lý khác nhau. Vì vậy, dù đã có qui trình hướng
dẫn cụ thể, các bước thực hiện cũng cần được
theo dõi một cách thận trọng, đảm bảo chất
lượng mẫu qua từng giai đoạn xử lý.
Một số lƣu ý khi xử lý mẫu vật
Ở giai đoạn xử lý ban đầu, đối với những
mẫu có cơ dày, nên lạng bớt ở bên phần thân
trái để hóa chất thấm nhanh và quá trình làm
trong cũng được rút ngắn lại, điều này đã được
đề cập trong chỉ dẫn của Helland (1988) [15] và
kiểm chứng qua quá trình thực hiện.
Ở giai đoạn tẩy trắng bằng oxy già và kali
hydroxit, cần theo dõi sát sao vì hóa chất sử
dụng có tác dụng tẩy rất mạnh, nếu để quá thời
gian, có thể làm hỏng mẫu như nổ mắt thậm chí
rã toàn bộ thân cá. Quá trình này nếu thực hiện
tốt thì sau khi hoàn tất, một số mẫu nhỏ đã đạt
đủ độ trong, có thể bỏ qua bước xử lý tiếp theo.
Ở giai đoạn làm trong, đối với những mẫu
nhỏ, men trypsin có thể không cần dùng đến,
nhưng với mẫu lớn, nhất thiết phải bổ sung vào
nhằm thúc đẩy quá trình phân giải chất đạm,
làm cho mẫu nhanh trong.
Đối với những mẫu trưng bày, sau khi hoàn
tất qui trình, mẫu vật chưa hoàn toàn trong hẳn
mà nhờ hiệu ứng thị giác khi đặt mẫu trong
glycerin sẽ cho hình ảnh trong suốt hơn mẫu
thực, chính vì vậy, chất lượng glycerin và lọ
thủy tinh đóng góp vai trò quan trọng đối với
tính thẩm mỹ của mẫu.
Mẫu vật trải qua hai lần nhuộm sụn màu
xanh và nhuộm xương màu hồng tím nhưng
trong thực tế đối với cả 3 loại cá, màu xanh
hầu như không đáng kể, có thể do 3 nhóm đều
là cá xương, phần sụn không còn nhiều trong
cơ thể đủ để tạo ra ấn tượng về màu xanh. Từ
thực tế trên, khi tiến hành xử lý mẫu nên cân
nhắc có hay không thực hiện bước nhuộm sụn
đối với các nhóm cá xương, bởi nếu bỏ qua
giai đoạn này sẽ giảm được thời gian và cả chi
phí hóa chất.
Lời cảm ơn: Tập thể tác giả xin chân thành
cảm ơn Viện Hải dương học đã hỗ trợ kinh phí
để thực hiện đề tài này, xin cảm ơn các đồng
nghiệp đã có những đóng góp ý kiến rất chân
thành trong quá trình thực hiện đề tài cũng như
hoàn thiện bài báo trên.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
[1] Pramod, K. L., and Vaswani, V. R., 2011.
Museum preservation of skeleton of fetus
& small vertebrates. Recent Research in
Science and Technology, 3(2), 54–58.
[2] Armbruster, J. W. 1989. Clearing and
staining method. (
edia.org/FileLibrary/27/Diagnostics%20-
-‐%20Staining.pdf).
[3] Dingerkus, G., and Uhler, L. D., 1977.
Enzyme clearing of alcian blue stained
whole small vertebrates for demonstration
of cartilage. Stain Technology, 52(4),
229–232.
[4] Bensimon-Brito, A., Cardeira, J.,
Dionísio, G., Huysseune, A., Cancela, M.
L., and Witten, P. E., 2016. Revisiting in
vivo staining with alizarin red S-a
valuable approach to analyse zebrafish
skeletal mineralization during
development and regeneration. BMC
Developmental Biology, 16(1), 1–10.
N uyễn T ị Mỹ N ân và nnk.
122
[5] Lewis, L. M., Lall, S. P., and Witten, P.
E., 2004. Morphological descriptions of
the early stages of spine and vertebral
development in hatchery-reared larval and
juvenile Atlantic halibut (Hippoglossus
hippoglossus). Aquaculture, 241(1–4),
47–59. doi: 10.1016/j.aquaculture.2004.
08.018.
[6] Gavaia, P. J., Sarasquete, C., and Cancela,
M. L., 2000. Detection of mineralized
structures in early stages of development of
marine Teleostei using a modified alcian
blue-alizarin red double staining technique
for bone and cartilage. Biotechnic &
Histochemistry, 75(2), 79–84.
[7] Taylor, W. R., 1967. Outline of a method
of claring tissues with pancreatic enzymes
and staining bones of small vertebrates.
Turtox News, 45, 308–309.
[8] Potthoff, T., 1984. Clearing and staining
techniques. In: Moser, H. G. (Ed.),
Ontog-eny and Systematics of Fishes.
Special Publication-American Society of
Ichthyolo-gists and Herpetologists,
Vol. 1. Allen Press, Lawrence, KS, USA,
pp. 35–37.
[9] Kawamura, K., and Hosoya, K., 1991. A
modified double staining technique for
making a transparent fish-skeletal
specimen. Bulletin of National Research
Institute of Aquaculture (Japan), 20,
11–18.
[10] Fjelldal, P. G., Totland, G. K., Hansen, T.,
Kryvi, H., Wang, X., Søndergaard, J. L.,
and Grotmol, S., 2013. Regional changes
in vertebra morphology during ontogeny
reflect the life history of A tlantic cod (G
adus morhua L.). Journal of Anatomy,
222(6), 615–624.
[11] Song, J., and Parenti, L. R., 1995.
Clearing and staining whole fish
specimens for simultaneous demonstration
of bone, cartilage, and nerves. Copeia,
114–118.
[12] Rosa-Molinar, E., Proskocil, B. J., Ettel,
M., and Fritzsch, B., 1999. Whole-mount
procedures for simultaneous visualization
of nerves, neurons, cartilage and bone.
Brain Research Protocols, 4(2), 115–123.
[13] Taylor, W. R., 1985. Revised procedures
for staining and clearing small fishes and
other vertebrates for bone and cartilage
study. Cybium, 9, 107–119.
[14] Walker, M. B., and Kimmel, C. B., 2007.
A two-color acid-free cartilage and bone
stain for zebrafish larvae. Biotechnic &
Histochemistry, 82(1), 23–28.
[15] Helland, I. S., 1988. On the structure of
partial least squares regression.
Communications in statistics -Simulation
and Computation, 17(2), 581–607.
[16] Johnson, G. D., and Anderson Jr, W. D.,
1993. Proceedings of the Symposium on
Phylogeny of Percomorpha, June 15-17,
1990, held in Charleston, South Carolina
at the 70th Annual Meeting of the
American Society of Ichthyologists and
Herpetologists.
[17] Summer, A., 2013. On the clarity of
animals: the art and science of clearing
and staining.
science.com/on-the-clarity-of-animals-the-
art-and-science-of-clearing-and-staining.
Truy cập ngày 12/9/2018.
Các file đính kèm theo tài liệu này:
some_methods_to_stain_cartilage_and_bone_of_vertebrates_and.pdf