Lượng sữa thỏ mẹ của NT C125 là 63,7
g/ngày, cao có ý nghĩa với C0 là 52,1 g/ngày,
nhưng thấp không có ý nghĩa với C250, C375
và C500 tương ứng 65,9; 68,0 và 72,3 g/ngày.
Kết quả nghiên cứu của Nguyen Thi Kim
Dong và Nguyen Van Thu (2009) là 72,4-96,3
g/ngày nếu tăng lượng CP 27-35 g/con/ngày.
Lượng sữa thỏ cái nuôi con C125, C250 và
C375 có xu hướng cao nhất vào lứa thứ 2 và
bắt đầu giảm ở lứa thứ 3, phù hợp với nghiên
cứu của Nguyen Thi Kim Dong và ctv (2008)
với mức CP tiêu thụ 28 g/con/ngày là 59,3;
80,3 và 63,5 theo lứa 1, 2 và 3 nhưng C500
vẫn tăng đến lứa 3. Kết quả sinh sản của thỏ
ở lứa 1 cho thấy, các chỉ tiêu SCSS, KLSS/ổ,
SCCS, KLCS/ổ và lượng sữa thỏ mẹ đều được
cải thiện có ý nghĩa (P<0,05) khi tăng các mức
vitamin C trong khẩu phần. Tỷ lệ sống đến cai
là 74,2-83,3%. Tuy nhiên, ở lứa đẻ thứ 2, các
chỉ tiêu này được cải thiện từ NT C0 đến C375
và có xu hướng giảm ở C500 (P>0,05). Vì việc
sử dụng vitamin C hàm lượng cao và trong
thời gian dài nên kết quả sinh sản của thỏ thí
nghiệm ở lứa 3 của các NT C250, C375 và C500
cho những kết quả hạn chế. Số phôi chết tăng
dần, SCSS và SCCS giảm dần khi tăng vitamin
C trong khẩu phần. Bởi vì, sử dụng với liều
lượng thích hợp thì vitamin C là chất chống
oxy hóa, chống viêm, tái tạo collagen, tham gia
vào quá trình chuyển hóa các chất đạm, mỡ,
đường, tăng cường sức đề kháng làm giảm sự
ảnh hưởng của stress nhiệt. Khi sử dụng liều
lượng cao trong thời gian dài gây sỏi thận do
sự tích lũy oxalate và axit uric trong nước tiểu
và làm mất cân bằng dinh dưỡng (Martin và
ctv, 2009; De Blas và Wiseman, 2010).
Khi so sánh năng suất sinh sản của thỏ
qua 3 lứa đẻ cho thấy SCSS ở lứa thứ 3 khác
biệt có ý nghĩa (P<0,05) so với ở lứa 1 và 2. Việc
sử dụng vitamin C trong thời gian dài dẫn đến
kết quả số con sơ sinh/ổ ở các nghiệm thức có
bổ sung vitamin C ở mức cao (C250, C375 và
C500) ở lứa 3 thấp. Điều này cho thấy cần có
sự cẩn trọng trong việc sử dụng vitamin C
trong khẩu phần của thỏ sinh sản.
12 trang |
Chia sẻ: hachi492 | Lượt xem: 14 | Lượt tải: 0
Bạn đang xem nội dung tài liệu Sử dụng chế phẩm mt - Enterga thay thế kháng sinh trong thức ăn cho lợn, để tải tài liệu về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
CHĂN NUÔI ĐỘNG VẬT VÀ CÁC VẤN ĐỀ KHÁC
KHKT Chăn nuôi số 259 - tháng 9 năm 2020 65
cứu trên lợn L và Y nuôi tại Vĩnh Phúc, Mai
Lâm Hạc và Lê Công Cảnh (2009) cho biết tỷ
lệ tinh trùng kỳ hình ở hai giống này tương
ứng là 5,89-6,17 và 5,51-6,65%, thấp hơn ở đực
giống nuôi tại Thái Bình trong nghiên cứu này.
So với công bố của Jaishkar và ctv (2018)
về tỷ lệ tinh trùng kỳ hình dao động trong
khoảng 9,32-9,79 % ở lợn Y, L và Du, cao hơn
kết qủa trong nghiên cứu của chúng tôi.
Như vậy, kết quả nghiên cứu của chúng
tôi nằm trong khoảng mà các tác giả đã công
bố, đáp ứng được yêu cầu trong thụ tinh
nhân tạo (K<15%) như tiêu chuẩn của Bộ
NN&PTNT (2002).
3.2.3. Giá trị pH tinh dịch
Kết quả bảng 2 cho thấy pH của tinh dịch
ở các giống lợn nuôi tại Công ty đều có tính
kiềm yếu và đạt tiêu chuẩn đặt ra (6,8-8,1).
Không có sự sai khác về pH tinh dịch giữa
các đực giống. Kết quả trên lợn L, Y, PiDu đạt
khoảng 7,26 (P>0,05). Kết quả trong nghiên
cứu này tương tự như Mai Lâm Hạc và Lê
Công Cảnh (2009) công bố ở đực giống L
(7,21-7,22) và Y (7,24-7,25) nuôi tại Vĩnh Phúc.
4. KẾT LUẬN
Các chỉ tiêu về chất lượng tinh dịch của
lợn đực giống L, Y và PiDu nuôi tại Công ty cổ
phần giống Chăn nuôi Thái Bình đều đạt tiêu
chuẩn theo quyết định số 67/2002/QĐ-BNN
của Bộ NN&PTNT. Lợn L có thể tích tinh dịch,
nồng độ tinh trùng, chỉ tiêu tổng hợp VAC
và sức kháng tinh trùng cao hơn so với Y và
PiDu. Thể tích tinh dịch và VAC ở Y cao hơn
so với PiDu (P˂0,05). Không có sự sai khác về
nồng độ tinh trùng giữa Y và PiDu; ba giống
có hoạt lực tinh trùng và pH tinh dịch tương
đương nhau (P˃0,05).
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn (2002). Quyết
định 67/2002/ QĐ-BNN về việc ban hành qui định tạm
thời các chỉ tiêu kinh tế kỹ thuật đối với giống vật nuôi.
2. Hà Xuân Bộ, Đỗ Đức Lực, Bùi Văn Định, Bùi Hữu
Đoàn, Vũ Đình Tôn và Đặng Vũ Bình (2013). Khả
năng sinh trưởng và phẩm chất tinh dịch lợn đực
Pietrain kháng stress nuôi tại Trung tậm giống lợn chất
lượng cao – Trường Đại học Nông nghiệp Hà Nội. Tạp
chí KHPT, 11(2): 194-99.
3. Caisin L. and T. Snitco (2016). The influence of the
seasonality on boars sperm production - breeder of
different species. Bul. J. Agr. Sci., 22(Suppl. 1): 118-22.
4. Mai Lâm Hạc và Lê Công Cảnh (2009). Phẩm chất tinh
dịch của lợn đực giống ngoại Yorkshire và Landrace
nuôi tại Vĩnh Phúc. Tạp chí KHCN Chăn nuôi, 17(tháng
4/2009): 11.
5. Jaishkar S., M. Murugan and H. Gopi (2018). Semen
characteristics of exotic pig breeds. Inter. J. Sci. Env.
Tec., 7(2): 659-62.
6. Kondracki S. (2003). Breed differences in semen
characteristics of boars used in artificial insemination
in Poland. Pig News and Information, 24(4): 119-22.
SỬ DỤNG CHẾ PHẨM MT - ENTERGA THAY THẾ KHÁNG SINH
TRONG THỨC ĂN CHO LỢN
Nguyễn Thi Hương1*, Nguyễn Long Gia1 và Ngô Văn Tấp1
Ngày nhận bài báo: 26/04/2020 - Ngày nhận bài phản biện: 16/05/2020
Ngày bài báo được chấp nhận đăng: 29/05/2020
TÓM TẮT
Nghiên cứu được tiến hành trên 405 lợn thương phẩm DuLY và DuYL từ cai sữa đến xuất
chuồng, tại Công ty TNHH MTV Hưng Tuyến, Tam Điệp, Ninh Bình nhằm đánh giá hiệu quả của
việc sử dụng chế phẩm MT-Enterga bổ sung vào thức ăn cho lợn thương phẩm. Lợn thí nghiệm
được chia đều thành 3 lô theo phương pháp ngẫu nhiên, đảm bảo đồng đều về khối lượng, tuổi và
giống, mỗi lô lặp lại 3 lần, mỗi lần lặp lại là 45 con. Lô 1: lợn được ăn khẩu phần cơ sở (KPCS) có bổ
sung chế phẩm MT-Enterga. Lô 2: KPCS có bổ sung kháng sinh (KS) phòng viêm phổi và tiêu chảy
1 Trung tâm Nghiên cứu lợn Thuỵ Phương, Viện Chăn nuôi
* Tác giả liên hệ: TS. Nguyễn Thi Hương, Trung tâm Nghiên cứu lợn Thuỵ Phương – Viện Chăn nuôi. P.Thụy Phương, Q. Bắc
Từ Liêm, TP. Hà Nội. ĐT: 01694308019. Email: huongty34@gmail.com
CHĂN NUÔI ĐỘNG VẬT VÀ CÁC VẤN ĐỀ KHÁC
KHKT Chăn nuôi số 259 - tháng 9 năm 202066
1. ĐẶT VẤN ĐỀ
Việt Nam đang đẩy mạnh chăn nuôi theo
hướng hiện đại, an toàn và xuất khẩu sản
phẩm chăn nuôi ra các nước. Vì vậy, vấn đề
kiểm soát dư lượng kháng sinh trong chăn
nuôi là rất cấp thiết. Bộ Nông nghiệp và Phát
triển nông thôn đã đề xuất triển khai kế hoạch
hành động quốc gia về quản lý và sử dụng các
loại kháng sinh trong chăn nuôi và nuôi trồng
thủy sản ở Việt Nam. Theo lộ trình, từ năm
2020, nước ta sẽ dừng hẳn việc sử dụng kháng
sinh trong thức ăn chăn nuôi. Vì thế một số
giải pháp nhằm giảm thiểu sử dụng kháng
sinh trong chăn nuôi như: bổ sung enzyme
vào thức ăn, bổ sung các chế phẩm trợ sinh
(Probiotic), bổ sung axit hữu cơ vào thức ăn,
bổ sung các chế phẩm giàu kháng thể hay sử
dụng thảo dược đã được ứng dụng triển khai.
Chế phẩm MT-Enterga là chế phẩm sinh
học của Công ty TNHH Công nghệ sinh học
MINTU Việt Nam sản xuất theo công nghệ
Nhật Bản và Mỹ. Chế phẩm MT-Enterga
bao gồm ngũ cốc lên men, các axit hữu cơ và
vitamin có khả năng chịu nhiệt. Axít hữu cơ
làm tăng hiệu quả sử dụng thức ăn thông qua
hoạt hóa nhanh chóng pepsinogen trong dạ
dày, taọ nhiều nhũ chấp axit trong ruột non,
kích thích tiết enzym tuyến tụy và làm chậm
quá trình đẩy thức ăn qua dạ dày. Ngoài ra,
chúng còn làm giảm vi khuẩn gây bệnh ở dạ
dày, giúp quá trình tiêu hóa tốt hơn do giảm
cung cấp dinh dưỡng cho các micro-flora ở
sau cai sữa 15 ngày và từ 75 ngày đến 85 ngày. Lô 3: chỉ sử dụng KPCS. Kết quả cho thấy lợn sử
dụng MT-Enterga có khả năng phòng bệnh tiêu chảy và bệnh viêm phổi tương đương với lợn được
sử dụng kháng sinh Amox và Betalin. Sử dụng chế phẩm MT-Enterga làm tăng khả năng thu nhận
thức ăn và khả năng TKL: Khả năng thu nhận thức ăn lô 1 là 1,76 kg/ngày, cao hơn lô 2 KPCS có
bổ sung KS (1,74kg/ngày) và lô 3 chỉ sử dụng KPCS (1,73 kg/ngày); khả năng TKL lô 1 (753 g/ngày)
cao hơn lô 2 (741 g/ngày) và lô 3 (738 g/ngày) (P<0,05). Tiêu tốn thức ăn của lợn nuôi thịt ở các lô
tương đương nhau (P>0,05). Bổ sung chế phẩm MT-Enterga cho lợn lai thương phẩm từ cai sữa
đến xuất chuồng nâng cao hiệu quả kinh tế chăn nuôi do giảm chi phí cho 1 kg tăng khối lượng và
tăng tổng số kg khối lượng lợn so với lợn sử dụng KS và KPCS. MT-Enterga có thể thay thế kháng
sinh bổ sung trong thức ăn chăn nuôi lợn thương phẩm.
Từ khóa: Chế phẩm MT-Enterga, thay thế kháng sinh, lợn lai nuôi thịt.
ABSTRACT
Evaluation for MT-Enterga probiotic supplement on commercial pigs
Study conducted from 405 commercial pigs including DuLY and DuYL crossbred, which
were from weaning to finishing in Hung Tuyen Ltd, Tam Diep district, Ninh Binh province in
order to evaluate MT-Enterga probiotic supplement for commercial pigs. The experimental pigs
were devided randomly into 3 groups, ensuring equally of weight, ages, and breed, each group
contained 45 pigs, and 3 times repeated. Group 1: Pigs were feeding by basic portion (KPCS) with
MT-Enterga supplement. Group 2: KPCS adding Antibiotics (KS) for pneumonia and diarrhea
prevention aging from 15th post-weaning, and from 75th-85th days. Group 3: only basic portion
(KPCS). Results indicated that experimental pigs using MT-Enterga had the ability to prevent
diarrhea and pneumonia equivalent to pigs treated with Amox and Betalin antibiotictv In addition,
using MT-Enterga also increased feed intake ability and daily weight gain: for feed intake parameter,
Group 1 (1.76 kg/day) was better than Group 2 (1.74 kg/day) using antibiotics and Group 3 (1.73
kg/day) with basic portion; for daily weight gain, Group 1 was higher than Group 2 and Group 3
as well, with 753 g/day, 741 g/day and 738 g/day, respectively. When it comes to feed convertion
ratio (FCR), there were the insignificant different between groups (P>0.05). Using MT-Enterga for
commercial pigs from post-weaning to finishing also improved the economic efficiency because of
reducing the cost for 1 kg weight gain and increased the total of kg during this period compared
to Group 2 and 3. It, therefore, MT-Enterga can bee replaced antibiotics in feed of commercial pigs.
Keyword: MT-Enterga, using antibiotics in livestock replacement, commercial pigs.
CHĂN NUÔI ĐỘNG VẬT VÀ CÁC VẤN ĐỀ KHÁC
KHKT Chăn nuôi số 259 - tháng 9 năm 2020 67
phần cuối ruột non. Vì vậy, làm giảm rối loạn
tiêu hóa cho vật nuôi, nâng cao tăng khối
lượng và giảm tiêu tốn thức ăn. Ngũ cốc lên
men bao gồm các enzyme tiêu hóa có tác dụng
giúp hấp thu triệt để đạm, khoáng và chất
dinh dưỡng có trong thức ăn.
Nghiên cứu của chúng tôi nhằm xác định
hiệu quả sử dụng chế phẩm sinh học MT-
Enterga thay thế kháng sinh bổ sung vào thức
ăn cho lợn lai thương phẩm từ cai sữa đến
xuất chuồng.
2. VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1. Vật liệu
MT- Enterga do công ty Công ty TNHH
Công nghệ sinh học MINTU Việt Nam sản xuất.
Thức ăn 551S, 552S do Công ty Cổ phần
thức ăn CP Việt Nam sản xuất.
Lợn lai thương phẩm 3 giống (DuLY và
DuYL) từ cai sữa đến xuất chuồng.
Thời gian: Từ tháng 8 năm 2018 đến tháng
5 năm 2019.
Địa điểm: Công ty TNHH MTV Hưng
Tuyến, Tam Điệp, Ninh Bình.
2.2. Phương pháp
2.2.1. Bố trí thí nghiệm
Thí nghiệm được tiến hành trên 405 lợn
con cai sữa, chia đều thành 3 lô theo phương
pháp ngẫu nhiên, đảm bảo đồng đều về khối
lượng, tuổi và giống, mỗi lô được lặp lại 3 lần,
mỗi lần lặp lại là 45 con. Chế độ cho ăn ở 3 lô
như sau:
Lô 1: Khẩu phần cơ sở (KPCS) + bổ sung
chế phẩm MT-ENTERGA.
Lô 2: KPCS + bổ sung kháng sinh (KS)
phòng viêm phổi và tiêu chảy sau cai sữa 15
ngày và từ 75 ngày đến 85 ngày (đầu giai đoạn
chuyển lên chuồng Finisher).
Lô 3: Chỉ sử dụng KPCS.
Bảng 1. Sơ đồ thiết kế thí nghiệm
Nội dung Lô 1 Lô 4 Lô 5
Yếu tố thí nghiệm KPCS+MT-Enterga KPCS + Kháng sinh KPCS
Tỷ lệ bổ sung chế phẩm 2kg/tấn thức ăn 1kg Betalin+1kg AMOX 50)/tấn thức ăn Không bổ sung
Tổng số lợn thí nghiệm (con) 135 135 135
Số lợn thí nghiệm/lần (con) 45 45 45
Số lần lặp lại (lần) 3 3 3
2.2.2. Chế độ chăm sóc nuôi dưỡng
Lợn con sau cai sữa được ăn thức ăn hỗn
hợp hoàn chỉnh, uống nước tự do bằng núm
uống tự động. Thức ăn của đàn lợn thí nghiệm
trong giai đoạn từ cai sữa (23 ngày tuổi) đến
75 ngày tuổi có Protein thô 19% và năng lượng
trao đổi 3.150 Kcalo; giai đoạn từ 75 ngày tuổi
đến xuất chuồng có Protein thô 18,5% và năng
lượng trao đổi 3.000 KCalo.
2.2.3. Các chỉ tiêu theo dõi
Khối lượng lợn bắt đầu thí nghiệm (KL,
kg); khối lượng lợn kết thúc thí nghiệm (KL,
kg); tăng khối lượng trung bình ngày (TKL,
g/con/ngày); tổng lượng thức ăn thu nhận
(LTATN, kg); tiêu tốn thức ăn/kg TKL (TTTA,
kg); tỷ lệ mắc các bệnh (%); hiệu quả kinh tế
(đồng/kg).
2.3. Xử lý số liệu
Số liệu được xử lý bằng phần mềm Excel
và Minitab 16.1. Tỷ lệ phần trăm xử lý bằng
phần mềm SPSS theo phương pháp kiểm định
Khi bình phương.
Các số liệu thí nghiệm được xử lý thống kê
ANOVA-GLM bằng phần mềm Minitab phiên
bản 16.0. Tukey-Test được sử dụng để so sánh
các giá trị trung bình với độ tin cậy 95%. Các
giá trị trung bình được coi là khác nhau có ý
nghĩa thống kê khi giá trị P nhỏ hơn 0,05.
Mô hình xử lý thống kê như sau: yij = μ+
Pi + eij. Trong đó: yij là các chỉ tiêu theo dõi, μ giá
trị trung bình, Pi ảnh hưởng của các yếu tố thí
nghiệm, eij sai số ngẫu nhiên.
CHĂN NUÔI ĐỘNG VẬT VÀ CÁC VẤN ĐỀ KHÁC
KHKT Chăn nuôi số 259 - tháng 9 năm 202068
3. KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN
3.1. Ảnh hưởng của MT-Enterga đến tỷ lệ
mắc tiêu chảy và viêm đường hô hấp ở lợn
nuôi thịt
Kết quả tại Bảng 2 cho thấy đàn lợn thí
nghiệm ở lô bổ sung MT-Enterga và lô bổ
sung kháng sinh không có sự sai khác về tỷ
lệ mắc bệnh tiêu chảy và bệnh viêm phổi: sử
dụng MT-Enterga có khả năng thay thế kháng
sinh bổ sung vào thức ăn phòng bệnh một số
bệnh thông thường cho lợn. Kết quả nghiên
cứu này của chúng tôi đạt hiệu quả cao hơn
so với nghiên cứu của Nguyễn Quang Tuyên
và ctv (2000) khi sử dụng chế phẩm vi sinh
vật Probiotic lactobacillus acidophilus trong việc
phòng và điều trị bệnh tiêu chảy ở lợn con
giai đoạn 21-60 ngày tuổi cho thấy 13,3% tỷ lệ
mắc bệnh tiêu chảy. Như vậy, kết quả này cao
hơn so với thí nghiệm của chúng tôi chỉ với
4,44% tỷ lệ mắc bệnh. Phạm Tất Thắng (2010)
cho biết khi sử dụng chế phẩm Probiotic có sự
kết hợp các chủng Lactobacillus acidophilus và
Streptococcus faecium vào thức ăn kết quả cho
thấy giảm tỷ lệ tiêu chảy giảm tới 41,5% so
với lô đối chứng, và không có sự khác biệt với
việc sử dụng kháng sinh trong thức ăn. Kết
quả này của chúng tôi cho thấy hiệu quả sử
dụng chế phẩm MT-Enterga tương đương với
sử dụng kháng sinh trong thức ăn trong các
kết quả nghiên cứu của Tạ Thị Vịnh và Đặng
Thị Hòe (2002); Trần Thị Mỹ Trang (2006);
Bạch Quốc Thắng và ctv (2010) đều cho tỷ lệ
mắc bệnh tiêu chảy của lợn con giai đoạn sau
cai sữa giảm từ 11% đến 62%. Sự sai khác rất
lớn từ các kết quả này một phần lý do đến từ
các yếu tố ảnh hưởng khác như mùa vụ, quy
trình chăn nuôi hay điều kiện chuồng trại.
Tuy nhiên, có thể nhận thấy việc sử dụng chế
phẩm vi sinh vật trong nghiên cứu trước đó và
của chúng tôi đều cho hiệu quả tương đương
với sử dụng kháng sinh trong thức ăn. Điều
này khẳng định rằng sử dụng MT-Enterga
thay thế kháng sinh trong thức ăn chăn nuôi
lợn thịt là hoàn toàn khả thi do kết quả tương
đương nhau mà các tiêu chí về an toàn sinh
học trong chăn nuôi cũng đạt được.
Bảng 2. Hiệu quả sử dụng MT-Enterga đến tỷ
lệ mắc tiêu chảy và viêm đường hô hấp
Chỉ tiêu theo dõi Lô 1 Lô 2 Lô 3
Số con theo dõi 135 135 135
Bệnh
tiêu
chảy
Số con mắc (con) 6 7 13
Tỷ lệ mắc (%) 4,44 5,19 9,63
Tỷ lệ khỏi (%) 100 100 0,74
Bệnh
viêm
phổi
Số con mắc (con) 4 4 7
Tỷ lệ mắc (%) 2,96 2,96 5,19
Tỷ lệ khỏi (%) 100 100 100
Tỷ lệ nuôi sống 100 100 99,26
3.2. Ảnh hưởng của MT-Enterga đến thu
nhận và tiêu tốn thức ăn của lợn nuôi thịt
Bảng 3. Ảnh hưởng của MT-Enterga đến thu
nhận và tiêu tốn thức ăn
Chỉ tiêu theo dõi Lô 1 Lô 2 Lô 3
Số lợn TN, con 135 135 135
Số ngày TN, ng 125 125 125
KLbắt đầu, kg 6,42±0,51 6,39±0,56 6,48±0,52
KLkết thúc, kg 100,63±2,32 99,08±2,49 98,77±2,21
LTATN, kg/c/ng 1,76a±0,08 1,74b±0,09 1,73c±0,08
TTTA, kg 2,33±0,12 2,35±0,12 2,36±0,12
Ghi chú: Các chữ số mũ khác nhau trong cùng một hàng
là sai khác có ý nghĩa thống kê (P<0,05)
Kết quả ở Bảng 3 cho thấy lợn sử dụng
thức ăn trộn MT-Enterga và kháng sinh có
khả năng thu nhận thức ăn cao hơn so với chỉ
sử dụng khẩu phần cơ sở. Tuy nhiên, lợn sử
dụng thức ăn có trộn MT-Enterga có khả năng
thu nhận thức ăn cao hơn sử dụng kháng sinh
và lợn sử dụng khẩu phần cơ sở (P<0,05). Kết
quả này cũng tương đương với các kết quả
nghiên cứu của Phạm Kim Đăng và Trần Hiệp
(2016), lợn khi bổ sung chế phẩm sinh học có
lượng thức ăn thu nhận tăng lên 9% so với
thức ăn không bổ sung chế phẩm cũng như
bổ sung kháng sinh. Tuy nhiên, tiêu tốn thức
ăn/kg tăng khối lượng giữa các lô không có
sự sai khác (P>0,05). Tiêu tốn thức ăn của lợn
ở lô 1, 2, 3 lần lượt là 2,33; 2,35; 2,35kg. Các
nghiên cứu của Trần Quốc Việt và ctv (2007);
Trần Quốc Việt và ctv (2010); Phạm Tất Thắng
(2010); Nguyễn Thị Minh Thuận (2011) đều
cho rằng khi bổ sung chế phẩm sinh học vào
thức ăn kết quả đã làm giảm tiêu tốn thức ăn
từ 1 đến 3%. Kết quả của chúng tôi cũng đạt
CHĂN NUÔI ĐỘNG VẬT VÀ CÁC VẤN ĐỀ KHÁC
KHKT Chăn nuôi số 259 - tháng 9 năm 2020 69
tương đương, tuy nhiên sự sai khác là không
mang ý nghĩa thống kê.
Kết quả này cho thấy sử dụng chế phẩm
MT-Enterga bổ sung vào thức ăn làm tăng khả
năng thu nhận thức ăn hơn so với bổ sung
kháng sinh (P<0,05), nhưng không ảnh hưởng
đến tiêu tốn thức ăn trong chăn nuôi lợn thịt
(P>0,05).
3.3. Ảnh hưởng của MT-Enterga đến tăng
khối lượng của lợn nuôi thịt
Khối lượng lợn vào thí nghiệm và kết
thúc thí nghiệm không có sự sai khác ở các lô
(P>0,05). Khối lượng lợn vào thí nghiệm và kết
thúc thí nghiệm của các lô tương ứng là 6,39;
6,42; 6,48kg và 100,63; 99,08; 98,77kg.
Tăng khối lượng của lô lợn sử dụng
MT- Enterga đạt cao nhất so với 2 lô sử dụng
kháng sinh và lô sử dụng khẩu phần cơ sở
(P<0,05). Lợn ở lô được sử dụng MT-Enterga
có tăng khối lượng là 753,68 g/ngày, cao hơn
lợn sử dụng kháng sinh (741,51 g/ngày) và lô
sử dụng khẩu phần cơ sở (738,32 g/con/ngày).
Kết quả của chúng tôi tương đương với kết
quả nghiên cứu của Đậu Ngọc Hào và Phạm
Minh Hằng (2001); Trần Quốc Việt và ctv
(2007); Nguyễn Thị Minh Thuận (2011) khi bổ
sung chế phẩm sinh học trong thức ăn cho lợn
từ sau cai sữa đến giai đoạn 20kg đã cải thiện
khả năng tăng khối lượng lên 2-9%.
Bảng 4. Ảnh hưởng của MT-Enterga đến tăng khối lượng
Chỉ tiêu theo dõi Lô 1 Lô 2 Lô 3
Số lợn TN, con 135 135 135
Số ngày TN, ngày 150 150 150
KLbắt đầu, kg 6,42±0,51 6,39±0,56 6,48±0,52
KLkết thúc, kg 100,63± 2,32 99,08± 2,49 98,77±2,21
TKL, g/con/ngày 753,68a±18,87 741,51b±19,32 738,32b±18,76
Kết quả này cho thấy sử dụng MT-Enterga
bổ sung vào thức ăn cho lợn nuôi thịt làm khả
năng tăng khối lượng cao hơn so với lợn bổ
sung kháng sinh và chỉ sử dụng khẩu phần
ăn cơ sở.
3.4. Hiệu quả kinh tế khi sử dụng chế
phẩm MT-Enterga cho lợn từ cai sữa đến
xuất chuồng
Trong thí nghiệm này, các chi phí tiền
lương, khấu hao chuồng trại, con giống ở các
lô thí nghiệm là giống nhau. Vì thế chúng tôi
chỉ so sánh các khoản chi phí thức ăn, thuốc
thú y, chất bổ sung cho 1 kg tăng khối lượng.
Kết quả thí nghiệm được trình bày ở bảng 5.
Kết quả này cho thấy chi phí cho 1 kg
tăng khối lượng ở lô sử dụng chế phẩm MT-
Enterga là 22.930 đồng/kg, thấp hơn so với lô
sử dụng kháng sinh là 23.076 đồng/kg và lô sử
dụng khẩu phần cơ sở là 23.010 đồng/kg.
Bảng 5. Hiệu quả kinh tế khi sử dụng chế phẩm MT-Enterga cho lợn thương phẩm từ cai sữa
đến xuất chuồng
Các chỉ tiêu theo dõi Lô 1 Lô 2 Lô 3
Chi phí thức ăn (đ/kg) 22.717,5 22.912,5 22.912,5
Số lượng (kg) 2,33 2,35 2,35
Đơn giá (đ) 9.750 9.750 9.750
Chi phí chất BS (đ/kg) 165 110
Số lượng (kg) 0,0011 0,000138
Đơn giá (đ) 150.000 800.000
Chi phí thú y (đ/kg) 47,18 52,74 96,31
Cả đợt thí nghiệm (đ) 600.000 660.000 1.200.000
∑chi phí cho 1kg TKL 22.930 23.076 23.010
Số kg lợn tăng lên (kg) 12.718 12.513 12.367
CHĂN NUÔI ĐỘNG VẬT VÀ CÁC VẤN ĐỀ KHÁC
KHKT Chăn nuôi số 259 - tháng 9 năm 202070
Như vậy, sử dụng MT-Enterga bổ sung
vào thức ăn cho lợn thương phẩm giai đoạn
từ sau cai sữa đến xuất chuồng làm giảm chi
phí cho 1kg tăng khối lượng và tăng tổng số
kg khối lượng lợn tăng lên.
4. KẾT LUẬN
Sử dụng chế phẩm MT-Enterga bổ sung
vào thức ăn đảm bảo sức khỏe đàn lợn nuôi
thịt, tăng khả năng thu nhận thức ăn, tăng khả
năng tăng khối lượng mà không ảnh hưởng
đến tiêu tốn thức ăn của lợn nuôi thịt so với
lợn sử dụng kháng sinh phòng bệnh.
Bổ sung chế phẩm MT-Enterga cho lợn
thương phẩm từ sau cai sữa đến xuất chuồng
nâng cao hiệu quả kinh tế chăn nuôi do giảm
chi phí cho 1 kg tăng khối lượng và tăng tổng
số kg khối lượng lợn tăng lên so với lợn sử
dụng kháng sinh và khẩu phần thông thường.
MT-Enterga có thể thay thế kháng sinh bổ
sung trong thức ăn chăn nuôi.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Đậu Ngọc Hào và Phạm Minh Hằng (2000). Ảnh
hưởng của chế phẩm Saccharomyces cervisiae đối với
lợn con đang bú mẹ và lợn con sau cai sữa. Tạp chí
KHKT Thú y, VII(34): 55-68.
2. Nguyễn Thị Minh Thuận (2011). Nghiên cứu ảnh
hưởng của một số hỗn hợp probiotic đến tiêu hóa, sinh
trưởng, phòng chống tiêu chảy ở lợn con giai đoạn sau
cai sữa (21-56 ngày tuổi). Luận văn Thạc sĩ nông nghiệp,
Đại học Thái Nguyên – Trường Đại học Nông Lâm.
3. Phạm Kim Đăng và Trần Hiệp (2016). Ảnh hưởng của
việc bổ sung chế phẩm Bacillus Pro đến một số chỉ tiêu
kinh tế kỹ thuật của lợn sinh trưởng. Tạp chí KHKT
Chăn nuôi, 205(04.16): 88-96.
4. Phạm Tất Thắng (2010). Nghiên cứu sử dụng Probiotic,
axit hữu cơ, chế phẩm thảo dược làm chất bổ sung thay
thế kháng sinh trong thức ăn cho lợn thịt. Luận án Tiến
sĩ nông nghiệp. Viện Khoa học Kỹ thuật Nông nghiệp
Miền Nam.
5. Tạ Thị Vịnh và Đặng Thị Hòe (2002). Một số kết quả
sử dụng các chế phẩm sinh học để phòng trị bệnh tiêu
chảy ở lợn con, Tạp chí KHKT Thú y, IX(4): 61-68.
6. Trần Quốc Việt, Bùi Thị Thu Huyền, Ninh Thị Len,
Nguyễn Thị Phụng, Lê Văn Huyên và Đào Đức Kiên
(2008). Ảnh hưởng của việc bổ sung probiotic vào
khẩu phần đến khả năng tiêu hóa thức ăn, tốc độ sinh
trưởng, hiệu quả sử dụng thức ăn và tỷ lệ mắc bệnh
tiêu chảy của lợn con và lợn thịt”. Tạp chí KHCN Chăn
nuôi, 11: 34-40.
7. Trần Quốc Việt, Ninh Thị Len, Bùi Thị Thu Huyền
và Lê Thị Huyền (2010). Ảnh Hưởng của việc sử
dụng Probiotic và Enzyme tiêu hóa vào khẩu phần
thức ăn đến sinh trưởng và hiệu quả sử dụng thức ăn
lợn thịt giai đoạn từ sau cai sữa (21 ngày) đến xuất
chuồng. Viện Chăn nuôi – Tạp chí KHCN Chăn nuôi,
22(02/2010): 46-53.
ẢNH HƯỞNG MỨC BỔ SUNG VITAMIN C ĐẾN NĂNG SUẤT
SINH SẢN CỦA THỎ CÁI LAI
Trương Thanh Trung1* và Nguyễn Bình Trường2
Ngày nhận bài báo: 23/04/2020 - Ngày nhận bài phản biện: 07/05/2020
Ngày bài báo được chấp nhận đăng: 18/05/2020
TÓM TẮT
Nghiên cứu này nhằm đánh giá ảnh hưởng của việc bổ sung vitamin C trong khẩu phần lên
các chỉ tiêu sinh sản của thỏ cái lai. Thí nghiệm (TN) được bố trí hoàn toàn ngẫu nhiên với 5 nghiệm
thức (NT) là 5 mức vitamin C trong khẩu phần gồm: 0, 125, 250, 375 và 500mg tương ứng với các
NT C0, C125, C250, C375 và C500 và 4 lần lặp lại. Mỗi đơn vị TN là 1 thỏ cái lai hậu bị 4,0-4,5 tháng
tuổi, khối lượng 2.500g. Kết quả cho thấy lượng thức ăn và dưỡng chất ăn vào tăng có ý nghĩa
(P<0,05) khi tăng các mức bổ sung vitamin C trong khẩu phần qua 3 lứa đẻ. Ở lứa 1, số con sơ sinh
sống, khối lượng sơ sinh/ổ, số con cai sữa/ổ, lượng sữa thỏ mẹ tăng dần theo sự gia tăng của các
mức độ bổ sung vitamin C trong khẩu phần giữa các NT có ý nghĩa thống kê (P<0,05): cao nhất ở
NT C500 (tương ứng 7,00 con, 361g, 6,50 con và 72,3 g/ngày). Tuy nhiên, ở lứa 2 và 3, mặc dù cũng
có sự cải thiện về năng suất sinh sản qua việc tăng các mức độ vitamin C trong khẩu phần nhưng
1 Trường Đại học Cần Thơ
2 Trường Đại học An Giang, Đại học Quốc Gia TP Hồ Chí Minh
* Tác giả liên hệ: TS. Trương Thanh Trung - Trường Đại học Cần Thơ, Khu II, đường 3/2, P. Xuân Khánh, Q. Ninh Kiều, TP. Cần
Thơ. Điện thoại: 0988 911 650. Email: tttrung@ctu.edu.vn
CHĂN NUÔI ĐỘNG VẬT VÀ CÁC VẤN ĐỀ KHÁC
KHKT Chăn nuôi số 259 - tháng 9 năm 2020 71
1. ĐẶT VẤN ĐỀ
Trong những năm gần đây, ngành chăn
nuôi thỏ của nước ta đã và đang phát triển, là
nghề mưu sinh của một số hộ dân ở ĐBSCL.
Thỏ là loài khá nhạy cảm với môi trường nên
khi nhiệt độ thay đổi sẽ bị stress nhiệt dẫn đến
giảm ăn, bỏ ăn, giảm sinh trưởng, giảm lượng
sữa đối với thỏ mẹ đang cho bú. Theo Morsy
và ctv (2012), khẩu phần bổ sung 250mg axít
ascorbic cho kết quả tốt hơn về số con sơ sinh/ổ
(SCSS) và giảm tỷ lệ chết từ 36,2% xuống
20,2%. Bên cạnh đó, Lebas (2000) bổ sung 25-
30mg vitamin C/ngày giúp thỏ cái sinh sản
giảm ảnh hưởng của stress nhiệt. Sử dụng
vitamin C trong nước uống đã giảm đáng kể
ảnh hưởng của stress nhiệt trong mùa hè đối
với thỏ sinh sản (Yassien và ctv, 2008). Tương
tự, bổ sung 400mg vitamin C trên 1kg thức
ăn trong khẩu phần thỏ sinh sản đã cải thiện
được lượng thức ăn ăn vào (LTAAV), SCSS,
khối lượng sơ sinh/ổ (KLSS) và lượng sữa của
thỏ mẹ (Abdel-Khalek và ctv, 2008). Nghiên
cứu sử dụng thức ăn từ rau cỏ tự nhiên có
bổ sung vitamin C trong khẩu phần thỏ sinh
sản chưa được thực hiện nhiều tại ĐBSCL. Vì
thế, nghiên cứu này được thực hiện nhằm xác
định mức vitamin C tối ưu trong khẩu phần
thỏ sinh sản và giúp người chăn nuôi thỏ đạt
hiệu quả kinh tế cao hơn.
2. VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1. Vật liệu
Thí nghiệm được tiến hành trên 20 thỏ
cái lai sinh sản khoảng 4-4,5 tháng tuổi và
khối lượng (KL) 2.500g, thỏ được tiêm phòng
đầy đủ các bệnh ký sinh trùng và bại huyết
trước khi bắt đầu thí nghiệm, tại Trại Thỏ
Cẩm Nhung: khu Hòa An, P. Thới Hòa, Q. Ô
Môn, TP. Cần Thơ và Phòng thí nghiệm Bộ
môn Chăn nuôi, Khoa Nông nghiệp, Trường
Đại học Cần Thơ, từ tháng 09/2019 đến tháng
05/2020.
khi sử dụng mức C375 và C500 làm giảm kết quả về sinh sản. Từ kết quả này có thể kết luận việc
bổ sung vitamin C trong khẩu phần thức ăn của thỏ sinh sản có cải thiện được năng suất sinh sản.
Nhưng việc bổ sung vitamin C trong thời gian dài với mức độ cao sẽ ảnh hưởng đến năng suất sinh
sản của thỏ và bổ sung vitamin C nên ở mức 125 mg/kg DM thức ăn.
Từ khóa: Thỏ lai, vitamin C, thỏ sinh sản.
ABSTRACT
Effects of vitamin C supplement levels in diets on reproductive performances of female
crossbred rabbits
An experiment was carried out to evaluate the effects of different supplement levels of axít
ascorbic (vitamin C) in diets on the reproductive performance of crossbred (Newzealand White x
local) rabbits in three litters. The experiment was a completely randomized design with five treat-
ments and four replications. One female rabbit at 4-4.5 months of age with average live weight at
2,500g was an experimental unit. The five treatments were different supplement levels of Vitamin
C (mg vitamin C/kg DM diet) at 0, 125, 250, 375 and 500mg corresponding to C0, C125, C250, C375
and C500 treatments. The results showed that feeds and nutrients intake of rabbits in three litters
were significantly increase (P<0.05) by increasing the supplement levels of vitamin C in the diets.
In the first litter, the litter size at birth, litter weight at birth, litter size at weaning and milk yield
were significantly improved (P<0.05) by increasing supplement levels of vitamin C in the diets
with the highest values for the C500 treatment (7.00 kids, 361g, 6.50 kids and 72.3 g/day, respecti-
vely). For the second and third litters, the reproductive performance as the litter size at birth, the
litter size at weaning, litter weight at weaning and milk yield were significantly improved (P<0.05)
by gradually using vitamin C levels in the diets but they gave a negative result for the C375 and
C500 treatments. It could be concluded that using vitamin C at 125 mg/kg DM diet could improve
reproductive performance of does.
Keywords: Crossbred rabbits, ascorbic acid, reproductive performances.
CHĂN NUÔI ĐỘNG VẬT VÀ CÁC VẤN ĐỀ KHÁC
KHKT Chăn nuôi số 259 - tháng 9 năm 202072
2.2. Phương pháp
Thí nghiệm được bố trí hoàn toàn ngẫu
nhiên với 5 nghiệm thức (NT) là 5 mức độ
vitamin C khác nhau trong khẩu phần (%DM)
và 4 lần lặp lại. Các mức vitamin C được bổ
sung (mg/kgDM TA) lần lượt là 0, 125, 250,
375 và 500 mg/kgDM TA tương ứng với NT
C0, C125, C250, C375 và C500. Khẩu phần ăn
của thỏ hậu bị gồm có đậu nành ly trích (40g),
bã đậu nành (200g) và cỏ Voi lùn cho ăn tự do.
Thí nghiệm được theo dõi trong 3 lứa đẻ: lứa
1, 2 và 3. Mỗi con thỏ cái hậu bị chờ phối được
nuôi riêng trong một ô chuồng có kích thước
0,5x0,5x0,3m.
Thức ăn được sử dụng gồm: cỏ Voi lùn,
đậu nành ly trích, bã đậu nành, vitamin C
(Ascorbic Acid, nồng độ ≥99% của công ty
Ningxia Yuan Pharmaceutical Co., Ltd). Thỏ
được cho ăn 3 lần/ngày: sáng, chiều và tối.
Thức ăn được cân trước khi cho ăn, thức ăn
thừa được thu và cân lại vào sáng hôm sau để
tính LTAAV. Mẫu TA cho ăn và TA thừa được
lấy 1 tuần một lần để phân tích thành phần
dưỡng chất, từ đó tính được lượng dưỡng
chất ăn vào trong thời gian thí nghiệm. Giai
đoạn mang thai tăng thêm các loại TA trong
khẩu phần tương ứng 20% (tuần thứ 2), 30%
(tuần thứ 3) và 40% (tuần thứ 4) so với giai
đoạn chờ phối. Giai đoạn nuôi con tăng thêm
các loại TA trong khẩu phần ở mức độ là 40%
so với giai đoạn chờ phối.
Khi thỏ cái lên giống, bắt thỏ cái nhẹ
nhàng sang lồng thỏ đực. Quan sát thỏ phối
giống để biết thỏ có phối được hay không,
thỏ cái sau khi phối xong được ghi ngày phối
trên phiếu theo dõi và cân KL, sau 10 ngày
tiến hành khám thai. Nếu có thai thì tiếp tục
theo dõi, nếu không mang thai thì cho phối
lại vào lần lên giống tiếp theo. Sau khi thỏ cái
sinh sản, cân thỏ cái, đếm và cân thỏ sơ sinh,
ghi nhận lại số con sống, chết, cho thỏ con bú
được sữa đầu, sau đó được đặt vào lồng riêng.
Theo dõi lượng sữa của thỏ mẹ hàng ngày
bằng cách cân thỏ con trước và sau khi cho
bú. Thỏ con được cho bú mỗi ngày một lần
vào một giờ nhất định để tránh làm mất phản
xạ tiết sữa của thỏ mẹ. Thỏ cái được phối lại
khoảng 15 ngày sau khi sinh.
Thỏ con thường mở mắt khoảng 10-15
ngày tuổi, tiến hành cân và cho thỏ con tập
ăn bằng rau mơ, rau lang, bã đậu nành, đậu
nành ly trích. Thỏ con được cân từng con lúc
21 ngày tuổi và cho uống thuốc cầu trùng để
phòng bệnh. Thỏ con được cai sữa ở 30 ngày
tuổi, cân lúc cai sữa và nuôi nhốt chung trong
một chuồng khác biệt lập với con mẹ và cho
ăn rau mơ, rau muống, rau lang và bã đậu
nành. Nhiệt độ của chuồng nuôi được ghi
nhận vào lúc 6.00 hàng ngày, giữa 2 lần ghi
cách nhau 2 tiếng và kết thúc ghi nhận vào
lúc 18.00 hàng ngày.
Mẫu TA cho ăn, TA thừa và phân được
sấy ở 550C trong 24h và được nghiền mịn
để phân tích thành phần dưỡng chất: vật
chất khô (DM), vật chất hữu cơ (OM), đạm
thô (CP), béo thô (ether extract), xơ thô (CF)
và khoáng được phân tích theo phương
pháp của AOAC (1990). NDF được phân
tích theo phương pháp của Van Soest và ctv
(1991), ADF phân tích theo phương pháp của
Robertson và Van Soest (1981). ME được tính
theo công thức của Maertens và ctv (2002):
ME=DE*[0,995-0,0048*(DCP/DE)]. Trong đó:
DCP=(%CPxTLTH CP), DE=13,932-0,196*CF.
Chỉ tiêu theo dõi: nhiệt độ chuồng nuôi;
thành phần dưỡng chất của TA: DM, OM, CP,
EE, CF, NDF, ADF, Ash, ME; TA và dưỡng chất
ăn vào của thỏ qua 3 lứa đẻ; thời gian mang
thai (ngày); SCSS (con); SCSSS (con); KLSS/ổ
(g); KLSS/con (g); lượng sữa tiêu thụ của thỏ
con/ngày (g); SCCS (con); KLCS/ổ (g); KLCS/
con (g); TKL/ngày (g); lượng sữa thỏ mẹ/ngày
(g); lượng sữa/ TKL và hiệu quả kinh tế.
2.3. Xử lý số liệu
Số liệu thô được xử lý sơ bộ trên phần
mềm Microsoft Office Excel 2010, sau đó phân
tích phương sai theo mô hình GLM trên phần
mềm Minitab 16.1 (Minitab, 2014). Dùng phép
thử Tukey để tìm sự khác biệt từng cặp NT
(P<0,05). So sánh sự khác biệt về chỉ tiêu sinh
sản qua các lứa đẻ bằng phương pháp Paired
T-Test.
CHĂN NUÔI ĐỘNG VẬT VÀ CÁC VẤN ĐỀ KHÁC
KHKT Chăn nuôi số 259 - tháng 9 năm 2020 73
3. KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN
3.1. Thành phần hóa học của thức ăn dùng
trong thí nghiệm
Bảng 1 thể hiện giá trị DM của đậu nành
ly trích là 92,5% phù hợp với kết quả của Đoàn
Hiếu Nguyên Khôi (2012) và Phạm Thị Cẩm
Nhung (2014) là 92,8 và 93,0%. Bã đậu nành
với CP là 20,2% thấp hơn kết quả của Đoàn
Hiếu Nguyên Khôi (2012) là 23,5%, nhưng
phù hợp với Phạm Thị Cẩm Nhung (2014) là
20,2%. Cỏ Voi lùn có NDF là 63,5% gần với cỏ
Voi 25 ngày tuổi của Nguyễn Bình Trường và
Nguyễn Văn Thu (2019) là 64,6%, nhưng CP
của tác giả là 9,85% thấp hơn nghiên cứu này
(11,3%). Vì vậy, bã đậu nành và đậu nành ly
trích là nguồn cung cấp protein và cỏ Voi lùn
là nguồn cung cấp chất xơ trong khẩu phần
thỏ thí nghiệm.
Bảng 1. Thành phần hóa học (%DM) và giá trị năng lượng của thức ăn dùng trong thí nghiệm
Thức ăn DM% OM% CP% EE% NDF% ADF% CF% Ash% ME, MJ/kgDM
Đậu nành ly trích 92,5 93,4 42,0 3,45 25,7 16,2 5,75 6,60 12,8
Bã đậu nành 12,5 96,0 20,2 8,65 29,4 19,3 11,0 4,00 10,9
Cỏ Voi lùn 13,2 89,2 11,3 3,87 63,5 40,9 30,6 10,8 7,90
3.2. Lượng thức ăn và dưỡng chất ăn vào
giai đoạn mang thai và nuôi con của thỏ
theo lứa đẻ
DM tiêu thụ ở lứa thứ 1 của NT C500
là 119g, cao không ý nghĩa với C375 là 117g,
nhưng có ý nghĩa so với C0, C125 và C250
tương ứng với 111, 112 và 113g. Kết quả này
cao so với nghiên cứu của Dư Thanh Hằng và
Lê Trần Tịnh Quyên (2012) là 100-102 gDM với
thỏ lai có KL 2,80-3,10kg. Đối với thỏ sinh sản
lứa 1, khẩu phần sử dụng TAHH, rau lang và
cỏ lông tây của Nguyễn Thị Kim Đông (2009)
là 134-167g, cao hơn kết quả này. Lứa thứ 2, NT
C500 là 105g, cao không có ý nghĩa với C125,
C250 và C375 là 99,4; 104 và 108g, nhưng có ý
nghĩa so với C0 là 89,0g. Lứa thứ 3 tương tự
như lứa 2, NT C500 vẫn cao hơn không có ý
nghĩa với C125, C250 và C375 là 100; 102 và
104g, nhưng có ý nghĩa với C0 là 97,4g. Vì
lượng bã đậu nành, đậu nành ly trích tiêu thụ
khác biệt không ý nghĩa (P>0,05) giữa các NT
trong khẩu phần với giá trị cao hơn ở các NT
C375 và C500. Sự gia tăng mức vitamin C trong
khẩu phần đã cải thiện so với cỏ Voi tiêu thụ
tăng có ý nghĩa (P<0,05). Lượng DM ăn vào
khác biệt có ý nghĩa (P<0,05) qua cả 3 lứa đẻ.
Tiêu thụ CP lứa 1 khác biệt có ý nghĩa
(P<0,05), cao ở C500 là 29,5g so với C0 là 28,1g
(P<0,05), nhưng không có ý nghĩa với giá trị
28,5; 28,3 và 28,6g tương ứng với C125, C250
và C375. Tiêu thụ CP khác biệt không có ý
nghĩa ở lứa 2 là 25,7-28,8g và lứa 3 là 26,4-
27,6g. Lượng đạm thô và năng lượng tiêu thụ
khác biệt có ý nghĩa (P<0,05) ở lứa 1, nhưng
không có ý nghĩa ở lứa 2 và 3. Kết quả CP của
thí nghiệm phù hợp với mức CP trong nghiên
cứu của Nguyễn Thị Kim Đông (2009) là 27,2-
29,2 g/con/ngày. Thành phần NDF và ADF
tiêu thụ ở NT thỏ có sử dụng vitamin C cao có
ý nghĩa (P<0,05) so với ở khẩu phần không sử
dụng vitamin C. Năng lượng tiêu thụ thỏ qua
3 lứa đẻ là 1,03-1,22 MJ/con/ngày, thấp so với
của Nguyễn Thị Kim Đông (2009) là 1,43-2,06
MJ/con/ngày.
3.3. Năng suất sinh sản của thỏ ở lứa 1, 2 và 3
Bảng 3 thể hiện lứa 1, SCSSS cao nhất tại
C500 (7,00 con), không có ý nghĩa (P<0,05)
so với C125, C250 và C375 (5,75; 6,00 và 6,25
con), nhưng có ý nghĩa với C0 (5,00 con). Kết
quả này phù hợp với nghiên cứu của Nguyễn
Thị Kim Đông (2009) là 5,67-7,00 con; Saidj và
ctv (2012) là 5,78-7,00 con. KLCS/con C125 là
357g, thấp không có ý nghĩa với C250, C375
và C500 tương ứng 370, 389 và 388g, nhưng có
ý nghĩa với C0 là 353g. Kết quả về KLCS lứa 1
là 313-406, lứa 2 là 309-393 g/con (Nguyễn Thị
Kim Đông, 2009).
CHĂN NUÔI ĐỘNG VẬT VÀ CÁC VẤN ĐỀ KHÁC
KHKT Chăn nuôi số 259 - tháng 9 năm 202074
Bảng 2. Lượng thức ăn và dưỡng chất tiêu thụ thỏ cái sinh sản
Chỉ tiêu, gDM
Nghiệm thức
±SE/P
C0 C125 C250 C375 C500
Lứa đẻ
thứ 1
Bã đậu nành 29,1 28,9 28,9 29,3 29,2 0,21/0,474
Đậu nành ly trích 42,2 43,2 42,6 41,7 43,8 0,61/0,192
Cỏ Voi lùn 40,1b 39,9b 41,4b 46,0a 45,9a 0,92/0,001
Vitamin C, mg 0,00e 14,1d 27,7c 44,8b 58,4a 1,21/0,001
DM 111c 112bc 113bc 117ab 119a 1,13/0,002
OM 103c 104bc 104bc 108ab 110a 1,02/0,002
CP 28,1b 28,5ab 28,3ab 28,6ab 29,5a 0,28/0,042
EE 8,63b 8,71ab 8,69b 8,82ab 9,04a 0,07/0,018
NDF 44,8b 44,9b 45,7b 48,5a 49,0a 0,61/0,001
ADF 28,8b 28,9b 29,4b 31,2a 31,5a 0,39/0,001
Ash 8,28c 8,32c 8,43bc 8,89ab 9,01a 0,11/0,001
ME, MJ/con/ngày 1,17b 1,18b 1,19b 1,22ab 1,24a 0,01/0,006
Lứa đẻ
thứ 2
Bã đậu nành 29,5 31,2 30,4 30,8 30,2 0,71/0,549
Đậu nành ly trích 42,7 43,8 44,2 45,2 44,4 1,18/0,654
Cỏ Voi lùn 16,7b 24,3ab 29,5ab 32,1a 30,2ab 3,07/0,026
Vitamin C, mg 0,00e 13,3d 26,8c 41,0b 54,4a 1,68/0,001
DM 89,0b 99,4ab 104ab 108ab 105ab 4,00/0,041
OM 83,2b 92,6ab 96,8ab 101a 97,6ab 3,64/0,043
CP 25,7 27,4 28,0 28,8 28,1 0,78/0,133
EE 78,1 8,38 8,55 8,80 8,59 0,24/0,114
NDF 30,3b 35,9ab 39,0ab 41,1a 39,5ab 2,15/0,028
ADF 19,4b 23,1ab 25,1ab 26,4a 25,4ab 1,38/0,029
Ash 5,81b 6,77ab 7,32ab 7,69a 7,41ab 0,37/0,029
ME, MJ/con/ngày 1,03 1,12 1,15 1,19 1,16 0,03/0,074
Lứa đẻ
thứ 3
Bã đậu nành 29,9 30,1 29,2 29,6 30,6 0,41/0,257
Đậu nành ly trích 41,6 41,6 41,9 41,8 42,2 0,70/0,971
Cỏ Voi lùn 25,9b 28,7ab 30,6ab 32,1a 33,4a 1,25/0,009
Vitamin C, mg 0,00e 13,5d 26,3c 39,8b 54,1a 0,90/0,001
DM 97,4b 100ab 102ab 104ab 106a 1,70/0,034
OM 90,7b 93,4ab 94,6ab 96,2ab 98,6a 1,55/0,036
CP 26,4 26,8 27,0 27,1 27,6 0,37/0,251
EE 8,08 8,21 8,25 8,32 8,50 0,11/0,165
NDF 35,9b 37,8ab 38,8ab 39,8ab 41,0a 0,89/0,015
ADF 23,1b 24,3ab 24,9ab 25,6ab 26,4a 0,57/0,015
Ash 6,74b 7,05ab 7,25ab 7,42ab 7,62a 0,16/0,017
ME, MJ/con/ngày 1,09 1,11 1,12 1,13 1,16 0,02/0,086
Lượng sữa thỏ mẹ của NT C125 là 63,7
g/ngày, cao có ý nghĩa với C0 là 52,1 g/ngày,
nhưng thấp không có ý nghĩa với C250, C375
và C500 tương ứng 65,9; 68,0 và 72,3 g/ngày.
Kết quả nghiên cứu của Nguyen Thi Kim
Dong và Nguyen Van Thu (2009) là 72,4-96,3
g/ngày nếu tăng lượng CP 27-35 g/con/ngày.
Lượng sữa thỏ cái nuôi con C125, C250 và
C375 có xu hướng cao nhất vào lứa thứ 2 và
bắt đầu giảm ở lứa thứ 3, phù hợp với nghiên
cứu của Nguyen Thi Kim Dong và ctv (2008)
với mức CP tiêu thụ 28 g/con/ngày là 59,3;
80,3 và 63,5 theo lứa 1, 2 và 3 nhưng C500
vẫn tăng đến lứa 3. Kết quả sinh sản của thỏ
ở lứa 1 cho thấy, các chỉ tiêu SCSS, KLSS/ổ,
SCCS, KLCS/ổ và lượng sữa thỏ mẹ đều được
cải thiện có ý nghĩa (P<0,05) khi tăng các mức
vitamin C trong khẩu phần. Tỷ lệ sống đến cai
CHĂN NUÔI ĐỘNG VẬT VÀ CÁC VẤN ĐỀ KHÁC
KHKT Chăn nuôi số 259 - tháng 9 năm 2020 75
Bảng 3. Năng suất sinh sản thỏ cái qua 3 lứa sinh sản
Chỉ tiêu
Nghiệm thức
±SE/P
C0 C125 C250 C375 C500
Lứa đẻ
thứ 01
Thời gian mang thai, ngày 30,0 30,3 30,5 30,5 30,5 0,32/0,736
Số con sơ sinh sống/ổ, con 5,00b 5,75ab 6,00ab 6,25ab 7,00a 0,31/0,010
Số phôi chết, phôi 1,00 0,00 0,30 0,00 1,00 0,27/0,035
Khối lượng sơ sinh/con, g 50,5 49,4 56,5 53,6 51,6 4,16/0,754
Khối lượng sơ sinh/ổ, (g) 253b 281ab 337ab 336ab 361a 22,0/0,023
Số con cai sữa/ổ, con 4,75b 5,50ab 6,00ab 6,00ab 6,50a 0,37/0,053
Khối lượng cai sữa/con, g 353b 357ab 370ab 389a 388a 7,37/0,011
Khối lượng cai sữa/ổ, g 1669b 1964ab 2216ab 2334a 2526a 127/0,004
Lượng sữa thỏ mẹ, g/ngày 52,1b 63,7ab 65,9a 68,0a 72,3a 3,06/0,006
Lượng sữa thỏ con bú, g/con/ngày 11,1 11,8 11,1 11,6 11,2 0,96/0,976
Tăng khối lượng thỏ con, g/ngày 10,1b 10,3ab 10,5ab 11,2a 11,2a 0,22/0,008
Lượng sữa/TKL, g/g 1,10 1,15 1,06 1,04 1,00 0,09/0,777
Tỷ lệ sống sơ sinh - cai sữa, % 95,0 95,8 100 96,4 92,9 4,15/0,810
Khối lượng mở mắt, g 107 123 128 130 132 6,50/0,114
Khối lượng 21 ngày tuổi, g 196 208 213 223 226 18,6/0,805
Lứa đẻ
thứ 02
Thời gian mang thai, ngày 30,2 31,8 30,8 31,5 31,8 0,55/0,275
Số con sơ sinh sống/ổ, con 5,50 5,75 6,00 6,25 5,50 0,43/0,696
Số phôi chết, phôi 1,00ab 0,25b 0,00b 0,00b 2,00a 0,23/0,001
Khối lượng sơ sinh/con, g 45,2b 56,5a 57,9a 55,6a 56,8a 1,80/0,002
Khối lượng sơ sinh/ổ, g 248 327 346 350 314 28,8/0,153
Số con cai sữa/ổ, con 5,00 5,25 5,75 6,00 5,50 0,44/0,554
Khối lượng cai sữa/con, g 301 296 290 334 290 24,0/0,679
Khối lượng cai sữa/ổ, g 1504 1511 1695 1981 1590 149/0,206
Lượng sữa thỏ mẹ, g/ngày 57,0b 66,7ab 70,2a 73,9a 64,4ab 2,63/0,007
Lượng sữa thỏ con bú, g/con/ngày 11,4 13,3 12,4 12,5 11,8 1,26/0,850
Tăng khối lượng thỏ con, g/ngày 8,52 7,95 7,77 9,28 7,79 0,81/0,642
Lượng sữa/TKL, g/g 1,43 1,72 1,57 1,38 1,53 0,18/0,720
Tỷ lệ sống sơ sinh - cai sữa, % 94,7 90,8 95,8 96,4 100 4,10/0,529
Khối lượng mở mắt, g 123b 124b 135ab 144a 124b 5,04/0,047
Khối lượng 21 ngày tuổi, g 194 193 212 229 210 18,0/0,623
Lứa đẻ
thứ 03
Thời gian mang thai, ngày 30,8 31,3 31,3 30,8 31,5 0,461/0,132
Số con sơ sinh sống/ổ, con 5,75 6,00 5,00 4,50 4,00 0,376/0,652
Số phôi chết, phôi 0,50 0,50 0,75 1,00 2,00 0,403/0,698
Khối lượng sơ sinh/con, g 63,9 61,0 55,2 55,9 56,1 2,803/0,138
Khối lượng sơ sinh/ổ, g 367 366 276 252 226 27,23/0,813
Số con cai sữa/ổ, con 5,75 6,00 5,00 4,50 4,00 0,376/0,652
Khối lượng cai sữa/con, g 316 318 302 277 296 14,29/0,051
Khối lượng cai sữa/ổ, g 1811 1905 1512 1247 1172 135,0/0,908
Lượng sữa thỏ mẹ, g/ngày 60,9 62,7 63,3 64,0 68,4 1,959/0,916
Lượng sữa thỏ con bú, g/con/ngày 10,7 10,5 12,7 14,6 17,7 1,238/0,541
Tăng khối lượng thỏ con, g/ngày 8,40 8,59 8,24 7,37 8,01 0,490/0,085
Lượng sữa/TKL, g/g 1,27 1,26 1,55 2,00 2,22 0,145/0,760
Khối lượng mở mắt, g 124b 128b 125b 132ab 143a 4,102/0,005
Khối lượng 21 ngày tuổi, g 199 196 198 201 203 13,87/0,224
CHĂN NUÔI ĐỘNG VẬT VÀ CÁC VẤN ĐỀ KHÁC
KHKT Chăn nuôi số 259 - tháng 9 năm 202076
sữa là 92,9-100%, cao so với Saidj và ctv (2012)
là 74,2-83,3%. Tuy nhiên, ở lứa đẻ thứ 2, các
chỉ tiêu này được cải thiện từ NT C0 đến C375
và có xu hướng giảm ở C500 (P>0,05). Vì việc
sử dụng vitamin C hàm lượng cao và trong
thời gian dài nên kết quả sinh sản của thỏ thí
nghiệm ở lứa 3 của các NT C250, C375 và C500
cho những kết quả hạn chế. Số phôi chết tăng
dần, SCSS và SCCS giảm dần khi tăng vitamin
C trong khẩu phần. Bởi vì, sử dụng với liều
lượng thích hợp thì vitamin C là chất chống
oxy hóa, chống viêm, tái tạo collagen, tham gia
vào quá trình chuyển hóa các chất đạm, mỡ,
đường, tăng cường sức đề kháng làm giảm sự
ảnh hưởng của stress nhiệt. Khi sử dụng liều
lượng cao trong thời gian dài gây sỏi thận do
sự tích lũy oxalate và axit uric trong nước tiểu
và làm mất cân bằng dinh dưỡng (Martin và
ctv, 2009; De Blas và Wiseman, 2010).
Khi so sánh năng suất sinh sản của thỏ
qua 3 lứa đẻ cho thấy SCSS ở lứa thứ 3 khác
biệt có ý nghĩa (P<0,05) so với ở lứa 1 và 2. Việc
sử dụng vitamin C trong thời gian dài dẫn đến
kết quả số con sơ sinh/ổ ở các nghiệm thức có
bổ sung vitamin C ở mức cao (C250, C375 và
C500) ở lứa 3 thấp. Điều này cho thấy cần có
sự cẩn trọng trong việc sử dụng vitamin C
trong khẩu phần của thỏ sinh sản.
Bảng 4. So sánh năng suất sinh sản của thỏ thí nghiệm qua các lứa đẻ
Chỉ tiêu
Lứa đẻ ±SE/P
1 2 3 Lứa 1 vs 2 Lứa 1 vs 3 Lứa 2 vs 3
Số con sơ sinh/ổ (con) 6,00 5,80 5,05 0,26/0,447 0,36/0,016 0,29/0,018
Số phôi chết (phôi) 0,45 0,65 0,95 0,20/0,330 0,24/0,047 0,18/0,110
Khối lượng sơ sinh/ổ (g) 314 317 297 15,4/0,828 25,8/0,536 23,6/0,414
Số con cai sữa/ổ (con) 5,75 5,50 5,05 0,24/0,309 0,356/0,064 0,30/0,154
Khối lượng cai sữa/ổ (g) 2142 1656 1529 90,8/0,001 146/0,001 115/0,283
Lượng sữa thỏ mẹ (g) 64,4 66,5 63,9 1,84/0,272 1,77/0,758 1,75/0,147
4. KẾT LUẬN
Bổ sung vitamin C vào trong khẩu phần
của thỏ lai sinh sản đã có sự cải thiện về
LTAAV, dưỡng chất ăn vào, năng lượng tiêu
thụ hằng ngày và hiệu quả kinh tế. Mức bổ
sung vitamin C 125 cho kết quả sinh sản tốt.
Bổ sung vitamin C 250, 375 và 500 g/kgDM
suốt 3 lứa đẻ, thỏ có dấu hiệu tăng số phôi
chết, giảm SCSS, giảm về lượng sữa và giảm
SCCS. Vì thế cần có nghiên cứu sâu hơn về
cơ chế ảnh hưởng của vitamin C lên quá trình
sinh sản của thỏ.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Abdel-Khalek A.M., Selim N.A., El-Medany Sh.A. and
Nada S.A. (2008). Response of doe rabbits to dietary
antioxidant vitamins E and C during pregnancy and
lactation. 9th World Rabbit Congress – June 10-13, Verona
– Italy.
2. AOAC (1990). Official Methods of Analysis. Association
of Official Analytical Chemists. Washington, DC. 1: 69-90.
3. De Blas C. and J. Wiseman (2010). Nutrition of the rabbit,
2nd ed, CAB International
4. Nguyễn Thị Kim Đông (2009). Ảnh huởng các mức độ
đạm thô lên nang suất sinh sản của thỏ lai. Tạp chí Khoa
học Truờng Ðại học Cần Thơ, 11: 287-94.
5. Nguyen Thi Kim Dong, Nguyen Van Thu and T.R.
Preston (2008). Effect of dietary protein supply on
reproductive performace for crossbred rabbits. Liv. Res.
Rur. Dev., 20:
htm.
6. Nguyen Thi Kim Dong and Nguyen Van Thu (2009).
Effect of crude protein supplied by sweet potato vine and
pellets on reproductive for crossbred rabbits in Vietnam.
Pro: Second Internatinal Conference on Sustainable
Animal Agriculture for Developing Countries, 8-11
November. Kuala Lumpur, Malaysia, Pp: 156-58.
7. Dư Thanh Hằng và Lê Trần Tịnh Quyên (2012). Ảnh
huởng tỷ lệ phối trộn các nguyên liệu trong thức an viên
tới khả nang tiêu hóa, tích luy nito, sinh truởng và hiệu
quả kinh tế ở thỏ nuôi thịt tại Thừa Thiên Huế. Tạp chí
KH, ÐH Huế, 71(2): 93-07.
8. Đoàn Hiếu Nguyên Khôi (2012). Ảnh hưởng của các mức
độ bổ sung bánh dầu dừa trong khẩu phần lên các chỉ
tiêu năng suất sinh sản của giống California. Luận văn tốt
nghiệp Đại học ngành chăn nuôi Đại học Cần Thơ.
9. Maertens L., J.M. Perez, M. Villamide, C. Cervera, T.
Gidenne and G. Xiccato (2002). Nutritive value of raw
materials for rabbits: EGRAN Tables 2002, World Rabbit
Sci., 10: 157-66.
Các file đính kèm theo tài liệu này:
su_dung_che_pham_mt_enterga_thay_the_khang_sinh_trong_thuc_a.pdf