Sơ đồ phân loại hình cây dựa trên kết quả so
sánh trình tự nucleotide của đoạn gen rbcL
(Hình 4) cho thấy, 15 loài thuộc chi
Paphiopedilum được chia thành 2 nhóm
chính. Nhóm thứ nhất chỉ gồm loài P.
sukhakulii và nhóm thứ 2 gồm 13 loài còn lại,
trong đó có Hài Hương lan. Cây phân loại di
truyền dựa trên trình tự gen rbcL cho thấy,
Hài Hương lan có quan hệ gần gũi với Hài
Hồng (P. delenatii), hài Mốc vàng (P.
armeniacum), Hài Mốc hồng (P. micranthum)
và Hài Việt (P. vietnamense).
Như vậy, kết quả phân tích dựa vào trình tự
gen rbcL đã chỉ ra sự sai khác giữa các loài
lan Hài khác nhau. Điều này cho thấy vùng
gen rbcL là trình tự DNA mã vạch có tiềm
năng để nhận diện loài nhanh và chính xác
loài lan Hài Hương lan. Kết hợp giữa phân
tích DNA mã vạch và đặc điểm hình thái sẽ
cung cấp thông tin chính xác hơn trong định
danh cũng như đánh giá đa dạng của các loài
lan Hài.
Sử dụng mã vạch DNA có vai trò quan trọng
trong việc nhận diện các mẫu thực vật. Đối với
họ Lan (Orchidaceae), mã vạch DNA cũng đã
được áp dụng để nhận diện nhiều loài trong các
chi Dendrobium [15], [16], Phalaenopsis [3],
[12], [17], Cypripedium [18],
Grammatophyllum, Cymbidium [14], Vanda
[19] và Spathoglottis [20]. Đối với chi Lan Hài,
nghiên cứu nhận dạng các loài dựa vào mã vạch
lần đầu được tiến hành bởi nhóm tác giả
Parveen và cs (2012). Thí nghiệm trên tám loài
Paphiopedilum của Ấn Độ, sử dụng năm mã
vạch tiềm năng (rpoB, rpoC1, rbcL, matK, và
ITS) [21]. Khi nghiên cứu về DNA barcode ở
thực vật, Hollingsworth và cs 2009 đã xác
nhận rbcL và matK có hiệu quả phân biệt tốt
khi sử dụng đơn lẻ [6]. rbcL có ưu điểm dễ
dàng khuếch đại tuy nhiên lại khá bảo thủ;
trong khi đó, matK có sự biến đổi rộng nhưng
khuếch đại kém [6]. Tại Việt Nam, các nghiên
cứu về sử dụng mã vạch DNA trong nhận
diện lan Hài cũng đã được tiến hành với một
số chỉ thị khác nhau như ITS, LEAFY, ACO,
matK, trnL, rpoB, rpoC1, trnH-psbA [22].
Tuy nhiên, thông tin về trình tự gen rbcL của
lan Hài cũng như ứng dụng chỉ thị rbcL trong
nhận diện lan Hài vẫn chưa được công bố.
Trong nghiên cứu này, chúng tôi xác định
trình tự rbcL trên mẫu Hài Hương lan và phân
tích khả năng nhận diện lan Hài của chỉ thị
này. Kết quả nghiên cứu này nhằm đóng góp
thêm vào cơ sở dữ liệu về trình tự DNA mã
vạch trong nghiên cứu các loài lan Hài của
Việt Nam.
8 trang |
Chia sẻ: hachi492 | Lượt xem: 6 | Lượt tải: 0
Bạn đang xem nội dung tài liệu Sử dụng đặc điểm hình thái và mã vạch DNA để định danh lan hài hương lan (paphiopedilum emersonii), để tải tài liệu về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
TNU Journal of Science and Technology 225(11): 18 - 25
18 Email: jst@tnu.edu.vn
SỬ DỤNG ĐẶC ĐIỂM HÌNH THÁI VÀ MÃ VẠCH DNA
ĐỂ ĐỊNH DANH LAN HÀI HƯƠNG LAN (Paphiopedilum emersonii)
Nguyễn Thị Hải Yến1, Chu Hoàng Mậu2, Đỗ Tiến Phát3,4*
1Trường Đại học Khoa học – ĐH Thái Nguyên, 2Trường Đại học Sư phạm – ĐH Thái Nguyên,
3Viện Công nghệ Sinh học, Viện Hàn Lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam,
4Học viện Khoa học và Công nghệ, Viện Hàn Lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam
TÓM TẮT
Họ Lan (Orchidacea) là một họ thực vật rất lớn với nhiều loài cho hoa đẹp, giá trị cao. Trong họ
Lan, chi lan Hài (Paphiopedilum) có nhiều loài cho hoa đẹp đặc biệt được yêu thích. Hiện nay, chi
lan này đang bị đe dọa nghiêm trọng do khai thác không kiểm soát, nhiều loài trong chi có nguy cơ
tuyệt chủng. Việt Nam có 22 trong tổng số khoảng 80 loài Paphiopedilum. Nhiều loài trong chi có
hình thái tương đồng về thân lá, rất dễ nhầm lẫn khi phân biệt bằng mắt thường khi cây không có
hoa. Chính vì vậy, phát triển các phương pháp để nhận diện lan Hài là rất cần thiết. Bài báo trình
bày kết quả phân tích hình thái cấu tạo thân, rễ, lá, đặc biệt là chi tiết hoa của lan Hài Hương lan
(P. emersonii) có nguồn gốc tại Thái Nguyên, Việt Nam, kết hợp với việc xác định trình tự gen lục
lạp rbcL để nhận diện P. emersonii. Kết quả cho thấy, đoạn gen rbcL được phân lập từ mẫu Hài
Hương lan có kích thước 683 bp. Trình tự nucleotide của đoạn gen rbcL được phân tích và so sánh
với các trình tự trên ngân hàng gen NCBI . Độ tương đồng về trình tự nucleotide của mẫu nghiên
cứu so với một số loài trong chi Paphiopedilum dao động từ 99,13% đến 99,98% (GenBank:
NC_045278.1, KT388109.1, NC_041309.1, MK161066.1, MF983795.1, KJ524105.1, AB176547.1,
JQ182212.1, JN181467.1, JN181466.1, JN181465.1, JQ182209.1, JN181468.1, AF074209.1). Trên sơ
đồ phân loại hình cây thiết lập dựa trên trình tự gen rbcL, Hài Hương lan (P. emersonii) có quan
hệ gần gũi với Hài Hồng (P. delenatii).
Từ khóa: DNA mã vạch; P. emersonii; hình thái thực vật; gen rbcL; Orchidacea
Ngày nhận bài: 25/7/2020; Ngày hoàn thiện: 16/9/2020; Ngày đăng: 21/10/2020
USING MORPHOLOGICAL CHARACTERISTICS AND DNA BARCODE
TO IDENTIFY THE Paphiopedilum emersonii
.
Nguyen Thi Hai Yen1, Chu Hoang Mau2, Do Tien Phat3,4*
1TNU - University of Sciences, 2TNU - University of Education,
3VAST - Institute of Biotechnology, 4VAST - Graduate University of Sciences and Technology
ABSTRACT
Orchid genus Paphiopedilum is one of the special genus of the orchid family having beautiful
flowers, vibrant colors and a unique structure. Recently, this orchid genus is seriously threatened
due to overexploitation causing some of them to be endangered. About 22 specieses of
Paphiopedilum have been discovered in Vietnam. Of which, many specieses are similar in leaf
characteristics causing challenges and confusion for classification by morphological methods.
Therefore, development of potential methods to identify species of this orchid genus is essential.
In this study, we provided the details in characteristics of stem and leave morphological structures
as well asflowers of species P. emersonii collected from Thai Nguyen province, Vietnam. In
addition, the sequence of rbcL gene was also analyzed for the tested P. Emersonii species. In this
result, a 683 bp fragment of the rbcL gene was amplified from the tested P. emersonii sample. The
rbcL nucleotide sequence analysis using the BLAST software in the NCBI indicated that this orchid
sample is belong to the Paphiopedilum genus. The similarity in the rbcL nucleotide sequences of this
sample as compared to some species in genus Paphiopedilum ranged from 99.15% to 99.98%
(GenBank: NC_045278.1, KT388109.1, NC_041309.1, MK161066.1, MF983795.1, KJ524105.1,
AB176547.1, JQ182212.1, JN181467.1, JN181466.1, JN181465.1, JQ182209.1, JN181468.1,
AF074209.1). According to the dendrogram tree of a the rbcL gene sequences, P. emersonii species
was closely related to P. delenatii species.
Keywords: DNA barcode; P. emersonii; botanical morphology; rbcL gene; Orchidacea
Received: 25/7/2020; Revised: 16/9/2020; Published: 21/10/2020
* Corresponding author. Email: dtphat@ibt.ac.vn
Nguyễn Thị Hải Yến và Đtg Tạp chí KHOA HỌC & CÔNG NGHỆ ĐHTN 225(11): 18 - 25
Email: jst@tnu.edu.vn 19
1. Mở đầu
Họ Lan (Orchidacea) là một họ thực vật rất
lớn với nhiều loài cho hoa đẹp, giá trị cao.
Trong họ Lan thì chi lan Hài (Paphiopedilum)
được đặc biệt yêu thích vì hoa đẹp với màu
sắc rực rỡ và cấu trúc độc đáo. Việt Nam là
nước có sự đa dạng về lan Hài lớn nhất thế
giới với 22 trên tổng số khoảng 80 loài, trong
đó có nhiều loài đặc hữu [1]. Hiện nay, hầu
hết các loài lan Hài của Việt Nam đang trong
nguy cơ tuyệt chủng [2], trong đó một số loài
đặc biệt nguy cấp như Hài Việt (P.
vietnamense), hài Mốc vàng (P. armeniacum),
hài Mốc hồng (P. micranthum) do vùng phân
bố hẹp và khai thác không kiểm soát. Do đó
việc bảo tồn các giống lan Hài là rất cần thiết
và cấp bách. Để thực hiện điều đó, ngoài việc
thiết lập các khu vực bảo tồn và xây dựng ra
các quy định để cấm khai thác buôn bán bất
hợp pháp thì việc trang bị những kiến thức
nhằm định danh, phân biệt giữa các loại lan
Hài là rất cần thiết. Với số lượng trên hai
mươi loài bản địa, lan Hài Việt Nam phân bố
ở tất cả các miền đất nước, thời điểm nở hoa
lại rải rác trong năm. Việc phân biệt được các
loài lan Hài khi cây chưa có hoa gặp nhiều
hạn chế, nhất là đối với các loài có độ tương
đồng cao về hình thái. Trong số 22 loài lan
Hài của Việt Nam, có tới gần một nửa các
loài mang các đặc điểm về thân lá tương
đồng, rất dễ nhầm lần. Ví dụ như P.
micranthum và P. armeniacum, P. concolor
và P. delenatii, P. callosum và P.
purpuratum, P. tranlienianum và P.
henryanum, P. helenae và P. x hermannii, P.
hangianum và P. emersonii.
Hài Hương lan (P. emersonii) là loài đặc hữu
của Việt Nam, phân bố hẹp ở một số vùng núi
thuộc tỉnh Bắc Kạn, Thái Nguyên. Đây là loài
cho hoa rất đẹp, có hương thơm và rất được
yêu thích. Tuy nhiên, chúng lại rất dễ nhầm
lẫn với Hài Hằng (P. hangianum) do mức độ
tương đồng cao về đặc điểm hình thái thân lá.
Trong tự nhiên rất khó phân biệt khi cây chưa
có hoa hoặc còn nhỏ. Do đó, để phân biệt
được từng loài cần phát triển các phương
pháp định danh hiệu quả hơn. Hiện nay, sự
kết hợp giữa việc nhận diện thông qua hình
thái học [3] với việc phát triển các phương
pháp định danh phân tử đang được quan tâm.
Sử dụng mã vạch DNA (DNA barcode) là
một trong những phương pháp phục vụ định
danh loài chính xác, nhanh chóng, tự động
hóa bằng cách thông qua một vùng DNA đặc
hiệu hay còn gọi là chỉ thị DNA mã vạch.
DNA barcode được biết đến lần đầu với công
bố của Hebert và cs năm 2003 [4]. Hiện nay,
nhiều nghiên cứu đã chỉ ra rằng việc xác định
loài bằng chỉ thị DNA có hiệu quả cao trong
việc phân biệt các loài thực vật [5]. Để nhận
diện loài hiệu quả, phụ thuộc rất nhiều vào
việc lựa chọn và sử dụng trình tự phù hợp. Ở
thực vật, hệ gen lục lạp mang nhiều đặc điểm
thích hợp đối với chỉ thị DNA. Chỉ thị rbcL
mã hóa ribulose-1, 5- ribuloza carboxylase
oxygenase là trình tự gen lục lạp, cùng với chỉ
thị MatK là hai locus được nhiều tác giả sử
dụng và cho thấy có hiệu quả tốt khi sử dụng
đơn lẻ trong các nghiên cứu [6]. Do vậy,
chúng được đánh giá là các chỉ thị tiềm năng
trong việc nhận dạng thực vật. Trong nghiên
cứu này, chúng tôi cho thấy độ tin cậy cao
trong nhận diện lan Hài Hương lan (P.
emersonii) trên cơ sở kết hợp nghiên cứu sử
trình tự DNA mã vạch rbcL với các đặc điểm
mô tả hình thái.
2. Vật liệu và phương pháp nghiên cứu
2.1. Vật liệu
Mẫu lan Hài Hương lan (P. emersonii) thu
thập tại huyện Đồng Hỷ, tỉnh Thái Nguyên.
Cặp mồi nhân gen rbcL, hóa chất thiết bị
dùng trong nghiên cứu được cung cấp bởi
Phòng thí nghiệm Công nghệ Tế bào Thực
vật, Viện Công nghệ sinh học, Viện Hàn lâm
khoa học và Công nghệ Việt Nam.
2.2. Phương pháp nghiên cứu
2.2.1. Phương pháp nghiên cứu đặc điểm
hình thái
Sử dụng phương pháp quan sát mô tả trực tiếp
đối tượng lựa chọn đại diện kết hợp với
Nguyễn Thị Hải Yến và Đtg Tạp chí KHOA HỌC & CÔNG NGHỆ ĐHTN 225(11): 18 - 25
Email: jst@tnu.edu.vn 20
phương pháp đối chiếu, so sánh với các tài
liệu, khóa định loại đã có. Đây là phương
pháp thông dụng được dùng trong nghiên cứu
thực vật học. Dụng cụ và thiết bị hỗ trợ: máy
ảnh, thước dây, thước kẹp (palme).
2.2.2. Phương pháp sinh học phân tử
Tách chiết DNA tổng số theo phương pháp
dùng CTAB (Collins & Symons, 1992) [7] có
cải tiến cho phù hợp với điều kiện thí nghiệm
tại Việt Nam. Mẫu lá được nghiền nhanh
trong nitơ lỏng, bổ sung đệm tách và ủ 65oC
trong 2 giờ. Dùng phenol : chloroform :
isoamylalchohol (25:24:1) để loại bỏ tạp chất
và dùng isopropanol để tủa DNA. Gen rbcL
được khuếch đại với cặp mồi đặc hiệu (trình
tự mồi xuôi/mồi ngược: 5’-
GTTATGCATGAACGTAATGCTC-3’/5’-
CGCGCATGGTGGATTCACAATCC-3’).
Thành phần phản ứng PCR bao gồm 12 µl
H2O; 2 µl đệm 10x; 2µl MgCl2 25 mM, 1,6
µl dNTPs 2,5 mM; 0,8 µl mồi 10 pmol mỗi
loại; 3 µl DNA tổng số và 0,4 µl Taq DNA
polymerase 1u/µl. Phản ứng được tiến hành
trong máy PCR với chu trình nhiệt bao gồm
các bước: 94oC/5 phút; 30 chu kỳ (94oC/1
phút; 52oC/1 phút; 72oC/1 phút); kết thúc ở
72oC/10 phút. Sản phẩm PCR được tinh sạch
và sử dụng để xác định trình tự trên máy xác
định trình tự nucleotid tự động ABI PRISM
3100 Avant Genetic Analyzer. Các trình tự
được xử lý bằng các phần mềm DNAstar và
BioEdit. So sánh, phân tích trình tự gen rbcL
phân lập được với một số trình tự rbcL được
công bố trên GenBank (NCBI).
3. Kết quả nghiên cứu và thảo luận
3.1. Đặc điểm thực vật học của lan Hài
Hương lan
Hài Hương Lan là dạng cây cỏ lâu năm, thân
mang 4 - 7 lá xếp thành 2 dãy. Lá có hình
thuôn dài đầu lá hơi bầu dục. Lá dài khoảng
15 đến 20 cm và rộng từ 3 đến 5 cm. Lá của
Hài Hương lan rất giống P. hangianum, mặt
trên lá có màu xanh lục, bóng hơn lá Hài
Hằng và có chứa những vân đậm nhạt xen kẽ,
mặt dưới lá màu xanh nhạt. Phát hoa màu
xanh sáng, cao từ 15 đến 20 cm mang lông
mịn. Cụm hoa gồm 1 đến 2 hoa mọc trên đỉnh
phát hoa. Lá bắc hình bầu dục rộng, cỡ 2,8 - 3
x 1,2 - 2 cm hình ô van, bao phủ bởi lớp lông
ngắn, màu xanh trắng (Hình 1).
2 cm6 cm
4 cm
A B C
D E
F G
I
Hình 1. Cây lan Hài Hương lan, hình thái thân, lá
và hoa của lan Hài Hương lan (P. Emersonii).
A,B,C. Hoa của Hài Hương lan; B. Phát hoa mang
bầu được bao bởi lá bắc; D. Các bộ phận tách rời
của phát hoa, bầu và lá bắc; E,F. Mặt trước và sau
của cây; H,G. Mặt trước và sau của lá
Hoa của P. emersonii thơm dịu. Hoa mọc
đứng trên phát hoa, hoa to cỡ 8 – 8,5 cm; lá
đài và cánh hoa mỏng, màu trắng, có lông
mịn ở cả 2 mặt; Giống P. hangianum và đa số
các loài Hài, đài hoa của P. emersonii cũng
chỉ có hai lá đài gồm một lá đài sau và một lá
đài dưới. Lá đài sau hình bầu dục với đầu
thuôn nhọn hơi vểnh ra sau, cỡ 2,5 - 3,5 x 2,4
- 3,5 cm. Mặt trong và mặt ngoài của lá đài
được bao phủ bởi lớp lông ngắn và thưa.
Toàn bộ lá đài giống như cái nắp và ngả về
Nguyễn Thị Hải Yến và Đtg Tạp chí KHOA HỌC & CÔNG NGHỆ ĐHTN 225(11): 18 - 25
Email: jst@tnu.edu.vn 21
phía trước. Lá đài dưới hình bầu dục - trứng,
cỡ 3 - 4,5 x 2 - 3 cm nhưng có phần tròn hơn
đài sau, đầu nhọn, mặt sau lá đài có hai gân
song song nổi rõ ở mặt lưng (Hình 2A). Tràng
hoa bao gồm 3 cánh (2 cánh hoa và cánh hoa
thứ ba biến dạng thành cái túi – môi). Cánh
hoa hình bầu dục rộng, đầu cánh hơi tròn.
Cánh hoa dài 4 đến 5,5 cm, rộng 2,5 đến 3,5
cm, mặt trong có gân mờ màu trắng. Các cánh
hoa hơi úp về phía trước và hơi rủ xuống.
Màu của cánh hoa là màu trắng trong mang
các đường gân mờ chạy từ cuống rồi tỏa ra
phía ngoài (Hình 2C).
Môi màu vàng hay da cam nhạt, kích thước
3,5 - 4,5 x 2 - 3 cm, chia làm ba thùy, hai
thùy bên cuộn vào trong, thùy giữa tạo thành
một cái túi giống với chiếc hài. Khác với P.
hangianum, mặt ngoài của môi không phẳng
mà gồ gề phần lưng, có rãnh nông chia túi
thành 2 thùy. Môi có màu vàng nhạt hơi cam
in các chấm nâu mờ từ phía trong, phần dưới
nhạt hơn. Mặt trong túi có nhiều chấm nhỏ
màu nâu đậm nổi rõ (Hình 2D). Khiên đậy trụ
hoa hình tam giác hơi dài, kích thước chừng
1,5 cm x 0,8 cm, mặt trên màu vàng có gân đỏ
phía đỉnh giống như các mắt lưới (Hình 2E).
Mặt dưới khiên đậy trụ hoa chứa bao phấn
hình cầu, màu vàng nhạt, kích thước khoảng 2
mm. Nhụy lớn màu vàng bóng, hình bầu dục
đến hình trứng-elip kích thước khoảng 6 mm
(Hình 2E).
Hình 2. Cấu tạo hoa của P. emersonii.
A. Mặt trong và mặt ngoài của lá đài dưới; B. Mặt trong và mặt ngoài của lá đài sau; C. Mặt trong và mặt
ngoài của cánh hoa; D. Hình ảnh cánh môi; E. Khiên đậy trụ hoa chứa bao phấn và nhụy
Quả của P. emersonii được phát triển từ bầu,
quả thuộc dạng quả nang hình trụ dài, hẹp,
gân, có mỏ ngắn, quả dài khoảng 4 - 6 cm và
rộng 5 - 7 mm. Lá bắc dài 1,8 đến 2,5 cm,
hình ô-van, phủ lớp lông ngắn, có sống gân,
mặt ngoài và mặt trong gần như giống nhau,
có màu xanh sáng (Hình 1E).
Giống như các giống lan hài lá xanh quanh
năm, rễ của Hài Hương lan được bao phủ bởi
một lớp vỏ lụa mang nhiều lông hút, làm cho
rễ có khả năng hấp thụ độ ẩm trong không
khí. Đầu rễ non của cây P. emersonii có màu
trắng ngà, còn màu của những rễ già trở nên
sậm và nhiều lông hơn. Rễ chính xuất phát từ
thân, chỗ bắt đầu phân lá, rồi phân ra các rễ
phụ (Hình 1F, G). Rễ của P. emersonii rất
dài, gấp nhiều lần chiều dài lá.
Sử dụng đặc điểm hình thái từ xưa đến nay đã
được xem là một tiêu chí quan trọng để nhận
dạng, phân loại thực vật. Có rất nhiều khóa
định loại thực vật đã được xây dựng và phát
triển nhằm phục vụ cho việc phân loại được
dễ dàng hơn. Đối với họ Lan (Orchidaceae),
hầu hết những công bố loài mới đều dựa trên
các mô tả về hình thái thực vật [8], [9]. Ngoài
ra, hình thái còn đóng vai trò quan trọng trong
Nguyễn Thị Hải Yến và Đtg Tạp chí KHOA HỌC & CÔNG NGHỆ ĐHTN 225(11): 18 - 25
Email: jst@tnu.edu.vn 22
xác định mối quan hệ họ hàng giữa các loài
và hỗ trợ nghiên cứu về sự sinh trưởng, sinh
sản để giúp bảo tồn các loài phong lan quý
hiếm. Việc phân tích và so sánh hình thái của
quả và phấn hoa làm cơ sở cung cấp thông tin
trong nghiên cứu quá trình thụ phấn, qua đó
có thể làm tăng hiệu quả thụ phấn của một số
hoa lan [10]. Phân tích hình thái chức năng
các cơ quan sinh dưỡng có thể suy đoán được
điều kiện sinh trưởng và phát triển của cây
trong tự nhiên. Đối với lan Hài, những nghiên
cứu quan sát hình thái và sinh trưởng đã chỉ ra
rằng, các loài Hài có lá đồng màu thường sinh
trưởng thích nghi với vùng khí hậu lạnh, còn
những loài lá có vân thường chịu nóng tốt hơn
và thích nghi với biên độ nhiệt độ rộng hơn.
Đặc biệt, hình thái, cấu tạo rễ có liên quan chặt
chẽ với điều kiện môi trường sống [11].
Khi sử dụng đặc điểm hình thái để phân loại
họ Lan nói chung và lan Hài nói riêng thì cấu
trúc hoa là tiêu chí xác định loài chính xác
nhất [3], [12], [13] bởi vì hoa của các loài lan
có đặc điểm rất riêng biệt, đặc trưng từ màu
sắc đến tạo hình, ngay cả các loài rất gần gũi
trong chi [12], [14]. Kết quả bài báo đã mô tả
chi tiết cấu trúc hoa của Hài Hương lan với
tên khoa học là P. emersonii. Tuy nhiên,
trong thực tế, hầu hết các loài lan Hài thời
gian ra hoa rất ngắn, chỉ khoảng 15 - 20
ngày/năm, vì vậy để nhận diện nhanh và
chính xác các loài lan khi còn nhỏ hoặc lúc
không có hoa thì cần phải phát triển các
phương pháp định loại phân tử. Do đó chúng
tôi tiếp tục phân tích trình tự gen rbcL để
nhận diện lan Hài Hương lan.
3.2. Phân tích trình tự gen rbcL
3.2.1. Nhân bản và xác định trình tự gen rbcL
của cây Hài Hương lan
Lá Hài Hương lan được thu thập, tách chiết
DNA tổng số và kiểm tra độ tinh sạch bằng đo
quang phổ. Kết quả kiểm tra tỷ số
OD260nm/OD280nm nằm trong khoảng 1,86
– 2,0, đảm bảo yêu cầu cho thí nghiệm nhân
gen rbcL. Điện di sản phẩm PCR thu được một
phân đoạn DNA có kích thước khoảng 700bp
rất đặc hiệu, hoàn toàn phù hợp với tính toán lý
thuyết. Vì vậy phân đoạn này được sử dụng để
xác định trình tự nucleotide. Tiến hành xác
định trình tự bằng máy xác định trình tự tự
động ABI PRIMS®3100 Avant Genetic
Analyzer, sau đó sử dụng BLAST của NCBI
để so sánh các trình tự thu được. Kết quả
khẳng định phân đoạn DNA nhân bản được là
trình tự đoạn gen rbcL với độ dài phân tích
được là 683 nucleotid (Hình 3).
Hình 3. Trình tự gen rbcL của mẫu Hài Hương lan trong nghiên cứu
Nguyễn Thị Hải Yến và Đtg Tạp chí KHOA HỌC & CÔNG NGHỆ ĐHTN 225(11): 18 - 25
Email: jst@tnu.edu.vn 23
3.2.2. So sánh trình tự gen rbcL của một số loài lan Hài khác nhau
Kết quả so sánh trình tự vùng gen rbcL của mẫu nghiên cứu với 14 trình tự vùng gen rbcL của các
loài thuộc chi Paphiopedilum đã được công bố trên Genbank thấy có tỷ lệ tương đồng cao (độ
tương đồng dao động từ 99,13% đến 99,98%) (Bảng 1). Sự sai khác dao động từ 0,02 – 0,77). Trong
đó, trình tự vùng gen rbcL của mẫu cây Hài Hương lan có độ tương đồng 99,85% so với vùng
rbcL mã số JQ182212.1 (P. vietnamense) và NC_041309.1 (P. delenatii) trên GenBank. Kết quả
đã khẳng định đối tượng nghiên cứu là thuộc họ lan Hài (Paphiopedilum).
Bảng 1. Mức độ tương đồng của vùng rbcL của mẫu P. hangianum nghiên cứu với một số trình tự trên Genbank
Mã số tra cứu trên Genbank Loài Giá trị E Độ tương đồng (5%)
NC_045278.1 Paphiopedilum micranthum 0,0 99,85
KT388109.1 Paphiopedilum armeniacum 0,0 99,85
NC_041309.1 Paphiopedilum delenatii 0,0 99,85
MK161066.1 Paphiopedilum purpuratum 0,0 99,27
MF983795.1 Paphiopedilum dianthum 0,0 99,27
KJ524105.1 Paphiopedilum niveum 0,0 99,27
AB176547.1 Paphiopedilum haynaldianum 0,0 99,13
JQ182212.1 Paphiopedilum vietnamense 0,0 99,85
JN181467.1 Paphiopedilum wardii 0,0 99,27
JN181466.1 Paphiopedilum hirsutissimum 0,0 99,27
JN181465.1 Paphiopedilum bellatulum 0,0 99,27
JQ182209.1 Paphiopedilum adductum 0,0 99,13
JN181468.1 Paphiopedilum primulinum 0,0 99,13
AF074209.1 Paphiopedilum sukhakulii 0,0 98,98
Sơ đồ phân loại hình cây dựa trên kết quả so
sánh trình tự nucleotide của đoạn gen rbcL
(Hình 4) cho thấy, 15 loài thuộc chi
Paphiopedilum được chia thành 2 nhóm
chính. Nhóm thứ nhất chỉ gồm loài P.
sukhakulii và nhóm thứ 2 gồm 13 loài còn lại,
trong đó có Hài Hương lan. Cây phân loại di
truyền dựa trên trình tự gen rbcL cho thấy,
Hài Hương lan có quan hệ gần gũi với Hài
Hồng (P. delenatii), hài Mốc vàng (P.
armeniacum), Hài Mốc hồng (P. micranthum)
và Hài Việt (P. vietnamense).
Như vậy, kết quả phân tích dựa vào trình tự
gen rbcL đã chỉ ra sự sai khác giữa các loài
lan Hài khác nhau. Điều này cho thấy vùng
gen rbcL là trình tự DNA mã vạch có tiềm
năng để nhận diện loài nhanh và chính xác
loài lan Hài Hương lan. Kết hợp giữa phân
tích DNA mã vạch và đặc điểm hình thái sẽ
cung cấp thông tin chính xác hơn trong định
danh cũng như đánh giá đa dạng của các loài
lan Hài.
Sử dụng mã vạch DNA có vai trò quan trọng
trong việc nhận diện các mẫu thực vật. Đối với
họ Lan (Orchidaceae), mã vạch DNA cũng đã
được áp dụng để nhận diện nhiều loài trong các
chi Dendrobium [15], [16], Phalaenopsis [3],
[12], [17], Cypripedium [18],
Grammatophyllum, Cymbidium [14], Vanda
[19] và Spathoglottis [20]. Đối với chi Lan Hài,
nghiên cứu nhận dạng các loài dựa vào mã vạch
lần đầu được tiến hành bởi nhóm tác giả
Parveen và cs (2012). Thí nghiệm trên tám loài
Paphiopedilum của Ấn Độ, sử dụng năm mã
vạch tiềm năng (rpoB, rpoC1, rbcL, matK, và
ITS) [21]. Khi nghiên cứu về DNA barcode ở
thực vật, Hollingsworth và cs 2009 đã xác
nhận rbcL và matK có hiệu quả phân biệt tốt
khi sử dụng đơn lẻ [6]. rbcL có ưu điểm dễ
dàng khuếch đại tuy nhiên lại khá bảo thủ;
trong khi đó, matK có sự biến đổi rộng nhưng
khuếch đại kém [6]. Tại Việt Nam, các nghiên
cứu về sử dụng mã vạch DNA trong nhận
diện lan Hài cũng đã được tiến hành với một
số chỉ thị khác nhau như ITS, LEAFY, ACO,
matK, trnL, rpoB, rpoC1, trnH-psbA [22].
Tuy nhiên, thông tin về trình tự gen rbcL của
lan Hài cũng như ứng dụng chỉ thị rbcL trong
nhận diện lan Hài vẫn chưa được công bố.
Trong nghiên cứu này, chúng tôi xác định
trình tự rbcL trên mẫu Hài Hương lan và phân
tích khả năng nhận diện lan Hài của chỉ thị
này. Kết quả nghiên cứu này nhằm đóng góp
thêm vào cơ sở dữ liệu về trình tự DNA mã
vạch trong nghiên cứu các loài lan Hài của
Việt Nam.
Nguyễn Thị Hải Yến và Đtg Tạp chí KHOA HỌC & CÔNG NGHỆ ĐHTN 225(11): 18 - 25
Email: jst@tnu.edu.vn 24
Hình 4. Sơ đồ phân loại hình cây được xây dựng dựa trên trình tự gen rbcL của Hài Hương lan phân lập
được với một số loài thuộc chi Paphiopedilum công bố trên GenBank
4. Kết luận
Lan Hài Hương lan (P. emersonii) thu thập tại
Thái Nguyên, Việt Nam đã được mô tả chi
tiết. Kết hợp trình tự đoạn gen rbcL cho thấy
tiềm năng sử dụng DNA mã vạch này với đặc
điểm hình thái trong định danh chính xác cây
hoa Hài Hương lan của nước ta.
TÀI LIỆU THAM KHẢO/ REFERENCES
[1]. L. Averyanov, P. Cribb, K. L. Phan, and T. H.
Nguyen, Slipper Orchids of Vietnam. Bird
Life, Royal Botanic Gardens KEW; World
Bank: Ho Chi Minh City, Vietnam, 2004, p.
308.
[2]. U.C.N. The IUCN, Red List of Threatened
Species, IUCN: Gland, Switzerland, 2019.
[3]. L. C. De, D. R. Singh, and R. K. Singh,
“Morphological characterization in Mokara
Orchids,” Int. J. Biosci., vol. 15, pp. 31-41,
2019.
[4]. P. D. Hebert, A. Cywinska, S. L. Ball, and J.
R. deWaard, “Biological identifications
through DNA barcodes,” Proc Biol Sci, vol.
270, pp. 313-321, 2003.
[5]. S. V. Shekhovtsova, I. N. Shekhovtsovad, and
S. E. Peltek, “DNA Barcoding: Methods and
Approaches,” Biology Bulletin Reviews, vol.
9, pp. 475-483, 2019.
[6]. P. M. Hollingsworth, L. L. Forrest, and J. L.
Spouge, “A DNA barcode for land plants,”
Proc Natl Acad Sci USA, vol. 106, pp. 12794-
12797, 2009.
[7]. G. G. Collins, and R. H. Symons, “Extraction
of nuclear DNA from grape vine leaves by
modified procedure,” Plant Mol Bio Rept, vol.
10, pp. 233-235, 1992.
[8]. V. L. Averyanov, O. Gruss, C. X. Canh, P.
K. Loc, B. X. Dang, and N. T. Hiep,
“Paphiopedilum canhii - a new species from
Northern Vietnam,” Orchids, vol. 79, no. 5,
pp. 289-290, 2010.
[9]. O. Gruss, V. L. Averyanov, C. X. Canh, and
N. H. Tuan, “A new variety of a natural
hybrid of the genus Paphiopedilum from
Vietnam: Paphiopedilum × aspersum var.
trantuananhii,” Die Orchidee, vol. 4, pp. 52-
54, 2018.
[10]. R. B. Singer, and M. Sazima, “Flower
Morphology and pollination mechanism in
three sympatric goodyerinae orchids from
Southeastern Brazil,” Annals of Botany, vol.
88, pp. 989-997, 2001.
[11]. H. Einzmann, N. Schickenberg, and G. Zotz,
“Variation in root morphology of epiphytic
orchids along small-scale and large-scale
moisture gradients,” Acta Brasilica Botanica,
vol. 34, pp. 66-73, 2020.
[12]. S. Tsiftsis, “Morphological variability of
Himantoglossum s.s. (Orchidaceae) in
Greece,” Phytotaxa, vol. 245, pp. 17-30,
2016.
[13]. F. P. Zhang, J. L. Huang, and S. B. Zhang,
“Trait evolution in the slipper orchid
Nguyễn Thị Hải Yến và Đtg Tạp chí KHOA HỌC & CÔNG NGHỆ ĐHTN 225(11): 18 - 25
Email: jst@tnu.edu.vn 25
Paphiopedilum (Orchidaceae) in China,”
Plant Signaling & Behavior., vol. 11, p.
e1149668, 2016.
[14]. P. Siripiyasing, K. Kaenratana, P.
Mokkamul, T. Tanee, R. Sudmoon, and A.
Chaveerach, “DNA barcoding of the
Cymbidium species (Orchidaceae) in
Thailand,” Afr J Agric Res, vol. 7, pp. 393-
404, 2012.
[15]. A. L. Dian, G. Perwitasari, S. Rohimah, T.
Ratnasari, B. Sugiharto, and M. Su’udi,
“DNA Barcoding of Medicinal Orchid
Dendrobium discolor Lindl. Tanimbar Using
rbcL and ITS genes,” Buletin Penelitian
Tanaman Rempah dan Obat, vol. 31, no. 1, p.
8, 2020.
[16]. L. Ludan, Y. Jiang, L. Yuanyuan, N. Zhitao,
X. Qingyun, L. Wei, and D. Xiaoyu, “The
large single-copy (LSC) region functions as a
highly effective and efficient molecular
marker for accurate authentication of
medicinal Dendrobium species,” Acta
Pharmaceutica Sinica B, 2020,
https://doi.org/10.1016/j.apsb.2020.01.012.
[17]. P. Cribb, The genus Paphiopedilum: A kew
magaine monograph. The Royal Botanic
Gardens, Kew/Timber Press, 1987.
[18]. J. S. Kim, H. T. Kim, S. W. Son, and J. H.
Kim, “Molecular identification of endangered
Korean lady’s slipper orchids (Cypripedium,
Orchidaceae) and related taxa,” Botany, vol.
93, pp. 603-610, 2015.
[19]. G. S. W. Khew, and T. F. Chia, “Parentage
determination of Vanda Miss Joaquim
(Orchidaceae) through two chloroplast genes
rbcL and matK,” AoB Plants, vol. 2011,
plr018, pp. 1-12, 2011, PMID: 22476488, doi:
10.1093/aobpla/plr018
[20]. F. C. Ginibun, M. R. M. Saad, T. L. Hong,
R. Y. Othman, N. Khalid, and S. Bhassu,
“Chloroplast DNA Barcoding of Spathoglottis
Species for Genetic Conservation,” Acta
Hortuc, vol. 878, pp. 453-460, 2010.
[21]. I. Parveen, H. K. Singh, S. Malik, S.
Raghuvanshi, and S. B. Babbar, “DNA
barcoding of endangered Indian
Paphiopedilum species,” Mol Ecol Resour,
vol. 12, pp. 82-90, 2012.
[22]. H. T. Vu, Q. L. Vu , T. D. Nguyen, N. Tran,
T. C. Nguyen, P. N. Luu, D. D. Tran, T. K.
Nguyen, and L. Le, “Genetic Diversity and
Identification of Vietnamese Paphiopedilum
Species Using DNA Sequences,” Biology,
vol. 9, no. 1, p. 9, 2020, PMCID:
PMC7168009; doi: 10.3390/biology9010009.
Các file đính kèm theo tài liệu này:
su_dung_dac_diem_hinh_thai_va_ma_vach_dna_de_dinh_danh_lan_h.pdf