Sử dụng thí nghiệm mô phỏng để tạo tình
huống có vấn đề
Sau đây là ví dụ minh họa thí nghiệm để tạo tình
huống có vấn đề của bài 1 - Trao đổi nước ở thực vật
(Sinh học 11, Nâng cao):
Vận dụng 4 bước của quy trình, quá trình trên được
thực hiện theo tiến trình sau:
- Nghiên cứu nội dung bài học và mục đích sử
dụng, có thể thấy rằng thí nghiệm về áp suất rễ là thỏa
mãn với yêu cầu.
- Thí nghiệm áp suất rễ được tiến hành như sau: Cắt
ngang đoạn thân cây cà chua ở phần gần gốc thấy có
một dòng nước rỉ ra từ phần thân cây bị cắt. Sau đó bịt
phần được cắt và nối với một dụng cụ gọi là áp kế,
người ta đo được 8 at.
- Trong quá trình tổ chức hoạt động dạy học, giáo
viên tiến hành mô tả thí nghiệm thông qua hình vẽ minh
họa (Xem Hình 4) hoặc xem phim thí nghiệm mô phỏng
áp suất rễ trên kênh youtube (TutorVista, n.d.).Từ đó,
đưa ra tình huống sau:
Trong thực tế muốn bơm nước từ vùng thấp đến vùng
cao người ta phải dùng đến động cơ. Đối với cây xanh,
nước vận chuyển nước theo ngược chiều trọng lực tạo nên
một áp suất lớn và cụ thể đo được ở cây cà chua là 8 at.
Vậy động cơ nào bên trong để giúp cây có thể thực hiện
quá trình vận chuyển nước từ đất qua rễ lên thân?
Kết luận
Sử dụng thí nghiệm mô phỏng kết hợp với thí
nghiệm thật để để tổ chức dạy học Sinh học vừa là biện
pháp và cũng là giải pháp. Biện pháp vận dụng trong
dạy học như một lẽ tất yếu mang tính đặc thù của môn
học và cũng phản ánh được logic phát triển của kiến
thức khoa học. Trong vai trò giải pháp, thí nghiệm mô
phỏng khắc phục được những hạn chế mà thí nghiệm
thật gặp trở ngại. Cách làm này không chỉ mang lại hiệu
quả trong việc chuyển tải kiến thức đến người học mà
còn giúp người học có sự chuyển biến sâu sắc về mặt
thái độ. Đó chính là sự nhìn nhận đúng đắn, thấu đáo về
mặt khoa học, đồng thời tạo niềm tin và đam mê với
môn học. Đây chính là giá trị sư phạm của việc hỗ trợ
thí nghiệm thật cũng như sự kết hợp với thí nghiệm mô
phỏng trong dạy học Sinh học.
7 trang |
Chia sẻ: hachi492 | Lượt xem: 5 | Lượt tải: 0
Bạn đang xem nội dung tài liệu Sử dụng thí nghiệm mô phỏng trong dạy học phần sinh học cơ thể, sinh học Trung học Phổ thông, để tải tài liệu về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
UED Journal of Social Sciences, Humanities & Education – ISSN 1859 - 4603
TẠP CHÍ KHOA HỌC XÃ HỘI, NHÂN VĂN VÀ GIÁO DỤC
95 | Tạp chí Khoa học Xã hội, Nhân văn & Giáo dục, Tập 10, số 2 (2020), 95-101
* Tác giả liên hệ
Trịnh Đông Thư
Trường Đại học Sư phạm – Đại học Huế
Email: trinhdongthu@gmail.com
Nhận bài:
22 – 02 – 2020
Chấp nhận đăng:
25 – 03 – 2020
SỬ DỤNG THÍ NGHIỆM MÔ PHỎNG TRONG DẠY HỌC PHẦN SINH HỌC CƠ
THỂ, SINH HỌC TRUNG HỌC PHỔ THÔNG
Trịnh Đông Thư
Tóm tắt: Sử dụng thí nghiệm trong dạy học là thể hiện tính đặc trưng của các môn học thực nghiệm nói
chung và môn Sinh học nói riêng. Tuy nhiên, sử dụng thí nghiệm thật gặp phải một số hạn chế về thời
gian, đối tượng và điều kiện thí nghiệm... đã làm cản trở đến việc vận dụng vào dạy học. Sự hỗ trợ bằng
thí nghiệm mô phỏng được xem là giải pháp tối ưu đáp ứng được yêu cầu của môn học và mang lại hiệu
quả cao trong dạy học.
Từ khóa: thí nghiệm; thí nghiệm thật; thí nghiệm mô phỏng; dạy học sinh học.
1. Đặt vấn đề
Tổ chức học tập thông qua thí nghiệm trên lớp là
một cách hiệu quả để chuyển từ học tập thụ động đến
học tập tích cực (Bergstrom và Miller, 1999). Trong đó,
sử dụng thí nghiệm mô phỏng khắc phục được những
trở ngại về thời gian, đối tượng và điều kiện thí
nghiệm... mà thí nghiệm thật không đáp ứng được. Một
số nghiên cứu đã chỉ ra rằng, việc áp dụng thí nghiệm
mô phỏng trong dạy học là được xem là một kĩ thuật tối
ưu cho các phong cách học tập khác nhau của học sinh
(Pasher, H., Mc Daniel, M., Rohrer, D. và Bjork, R.,
2009). Thông qua thí nghiệm mô phỏng, học sinh sẽ
hiểu và nhận thức vấn đề tốt hơn khi họ tích cực tham
gia vào việc phân tích, thảo luận, giải quyết vấn đề hoặc
làm việc cùng nhau để tìm hiểu một khái niệm
(Bransford, J. D., Brown, A. L và Cocking. R. R. Eds.,
2000). Thí nghiệm mô phỏng cũng được sử dụng để tiếp
cận với kiến thức mới hay để làm rõ hơn một số vấn đề
khó mà học sinh thường gặp phải trong học tập (Ball,
Eckel và Rojas, 2006) (Department of Education and
Science, 2006), (Irish Science Teachers’ Association,
2000), (Pashler et al., 2008).
Với những ưu việt trên, vấn đề khai thác, sử dụng
thí nghiệm đang được quan tâm và phát triển theo nhiều
hướng khác nhau. Trong đó, có thể kể đến 3 hướng
chính: Một là hiện đại hoá các thiết bị thí nghiệm; hai là
khai thác và sử dụng các thí nghiệm đơn giản, thí
nghiệm mô phỏng và ba là kết hợp với công nghệ thông
tin và các phương tiện dạy học khác. Với ba hướng đó,
hướng thứ hai tỏ ra hiệu quả và phù hợp với điều kiện
cơ sở vật chất còn hạn chế trong nhà trường phổ thông
hiện nay.
Mặt khác, không phải lúc nào thí nghiệm cũng có
thể tiến hành trên các mẫu vật thật để học sinh dễ dàng
quan sát trực tiếp bằng các giác quan mà trong thực tế
việc tiến hành trên đối tượng sống gặp phải không ít khó
khăn (do hạn chế về thời gian, phương tiện và tâm lí của
giáo viên...). Vì vây, trong dạy học việc triển khai và
vận dụng thí nghiệm thật hầu như rất hạn chế. Tuy
nhiên, từ thực tiễn dạy học cho thấy những hạn chế của
thí nghiệm thật có thể khắc phục bằng cách kết hợp với
thí nghiệm mô phỏng một cách nhịp nhàng và khoa học.
Vì vậy, sự lựa chọn thí nghiệm mô phỏng là một giải
pháp kết hợp tối ưu.
2. Thí nghiệm mô phỏng và một số định hướng
vận dụng vào dạy học sinh học ở trung học
phổ thông
2.1. Đính nghĩa thí nghiệm mô phỏng
Thí nghiệm mô phỏng là một hệ thống thí nghiệm
phức tạp được sử dụng để bắt chước theo một hệ thống
Trịnh Đông Thư
96
thực hay một hệ thống điển hình nào đó. Hoặc cũng có
thể được thiết kế từ những mô hình đơn giản để bắt
chước với các hệ thống phức tạp (Peck, 2004).
Theo định nghĩa này, bản chất của mô phỏng không
phải là một thí nghiệm thật hoặc thay đổi một hệ thống
thực hay cũng không phải là mô hình mẫu. Đối với thí
nghiệm mô phỏng, các mô hình được góp nhặt từ những
thông tin mà hệ thống quan tâm, sau đó phát triển thành
các phương trình và thuật toán để mô phỏng theo một hệ
thống thực đồng thời thực nghiệm với mô hình đó nhằm
mục đích tìm hiểu về hoạt động của hệ thống thực.
Thí nghiệm mô phỏng phù hợp để minh họa đối với
các quá trình phức tạp, đặc biệt là trong Sinh học. Nên
để đi sâu vào cơ chế thì lựa chọn thí nghiệm mô phỏng
là một giải pháp tối ưu. Bên cạnh đó, thí nghiệm mô
phỏng còn có thể sử dụng một cách linh động và mềm
dẻo trong các khâu khác nhau của quá trình dạy học.
2.2. Vai trò của thí nghiệm mô phỏng
Trong dạy học, khi sử dụng thí nghiệm mô phỏng
thì phương pháp quan sát và thí nghiệm được xem là
chủ đạo để tổ chức hoạt động dạy học cho học sinh. Lúc
đó, thí nghiệm có thể sử dụng trong cả 3 khâu của quá
trình dạy học đó là: Trong nghiên cứu nội dung mới;
Củng cố - hoàn thiện kiến thức và kiểm tra, đánh giá.
Bài viết sẽ tập trung đề cập đến vai trò của thí
nghiệm trong khâu nghiên cứu nội dung mới. Trong
khâu này, thí nghiệm có thể được sử dụng như một biện
pháp để xác định nhiệm vụ nhận thức với nhiều mục
đích khác nhau như: Đặt vấn đề vào bài học, tìm hiểu
một khái niệm; Giới thiệu vấn đề, quá trình, hiện tượng
hay cơ chế sinh học; Minh họa hoặc giải thích cho một
số kiến thức sinh học; Thí nghiệm dùng để tạo tình
huống có vấn đề trong tiết học.
2.3. Quy trình sử dụng thí nghiệm mô phỏng
trong dạy học Sinh học
Để sử dụng thí nghiệm mô phỏng có hiệu quả, giáo
viên cần có kế hoạch cũng như xây dựng kịch bản sao
cho việc tổ các hoạt động phù hợp với logic cấu trúc bài
học. Sau đây là quy trình sử dụng thí nghiệm mô phỏng
trong dạy học bao gồm 4 bước sau:
Bước 1: Nghiên cứu nội dung chương trình môn
học và bài học. Đặc biệt chú trọng đến kiến thức về quá
trình, hiện tượng và cơ chế sinh học để triển khai và vận
dụng thí nghiệm mô phỏng.
Trong bước này, giáo viên cần xác định nội dung
chương trình, vị trí và mục tiêu bài học mà học sinh cần
đạt. Đặc biệt, bài học chứa đựng kiến thức về các hiện
tượng và quá trình sinh học khó tư duy trực tiếp bằng
các giác quan.
Bước 2: Tuyển chọn thí nghiệm liên quan đến nội
dung bài học.
Đây là bước rất quan trọng, thí nghiệm được lựa
chọn phải thỏa mãn nội dung bài học nhưng đồng thời
cũng phù hợp với trình độ nhận thức của người học.
Ngoài ra, cần xem xét về mặt chất lượng, tính thẩm mĩ
và yếu tố thời gian.
Bước 3: Thiết kế và biên tập lại thí nghiệm phù hợp
với mục đích sử dụng.
Bước này giáo viên cần có sự gia công về mặt khoa
học và sư phạm một cách công phu. Có thể sử dụng một
số phần mềm tin học đơn giản để đồ họa hay tạo hiệu
ứng sao cho phù hợp với nội dung bài học và kịch bản
tổ chức hoạt động của giáo viên.
Bước 4: Đưa thí nghiệm vào bài học và tổ chức
hoạt động nhận thức cho học sinh.
Ở bước này, thí nghiệm được đặt trong một kịch
bản tổng thể của bài học. Tùy mục đích sử dụng cụ thể
từng thí nghiệm (Xem mục 2.2) để gắn với các hoạt
động tương thích theo logic tiến trình tổ chức các hoạt
động dạy học.
2.4. Ví dụ minh họa
2.4.1. Sử dụng thí nghiệm mô phỏng để đặt vấn
đề vào bài học
Sau đây là ví dụ minh họa cho phần đặt vấn đề của
bài 1 - Trao đổi nước ở thực vật (Sinh học 11, Nâng cao):
Quy trình nêu trên được thực hiện theo tiến trình sau:
- Sau khi nghiên cứu nội dung chương trình và mục
tiêu bài học. Có thể thấy rằng, kiến thức của bài học liên
quan đến các hiện tượng và quá trình sinh học nên cần
phải làm sáng tỏ bằng thực nghiệm.
- Với mục đích sử dụng thí nghiệm mô phỏng để
đặt vấn đề vào bài. Nghiên cứu thí nghiệm về dinh
dưỡng của Van Helmont thỏa mãn được ý tưởng đặt
người học vào một “trạng thái” có tính vấn đề. Đó là
mâu thuẫn về trọng lượng đất và trọng lượng cây.
- Tiến hành chọn lựa đoạn phim có thời lượng phù
hợp với nội dung bài học trên kênh youtube
(Photosynthesis and Van Helmont Experiment, 2020)
ISSN 1859 - 4603 - Tạp chí Khoa học Xã hội, Nhân văn & Giáo dục, Tập 10, số 2 (2020), 95-101
97
hoặc hình vẽ mô phỏng cho thí nghiệm của Van
Helmont (1577-1644). Vì thí nghiệm được Van Helmon
tiến hành ở những năm cuối thế kỷ XVI nên khi chọn
thí nghiệm minh họa cần lưu ý đảm bảo tính chân xác
về mặt hình thức (Xem Hình 1).
- Trong quá trình tổ chức hoạt động dạy học, giáo
viên tiến hành mô tả thí nghiệm thông qua đoạn phim
mô phỏng hay hình ảnh minh họa. Sau khi mô tả thí
nghiệm, giáo viên nêu vấn đề bằng câu hỏi: Tại sao sau
5 năm cây liễu có trọng lượng tăng lên đáng kể nhưng
trọng lượng của đất thì hầu như không đổi? Phải chăng
thực vật lớn lên chỉ nhờ nước? (Xem Hình 1).
Cách đặt vấn đề thông qua thí nghiệm không những
có ý nghĩa về mặt sư phạm mà còn cung cấp luận cứ
khoa học để dẫn dắt học sinh đi theo con đường tư duy
của các nhà khoa học. Từ đó, mở ra các ý tưởng để tiếp
tục thảo luận nội dung bài học.
Hình 1. Thí nghiệm về dinh dưỡng của Van Helmont (Ongzi, 2010)
2.4.2. Sử dụng thí nghiệm mô phỏng để giới thiệu
về một vấn đề, quá trình, hiện tượng sinh học
Với mục đích này, thí nghiệm có nhiệm vụ đưa
người học trở về tìm hiểu nguồn gốc của vấn đề khoa
học. Mặc dù, thí nghiệm dạng này thường bị hạn chế về
mặt khoa học, tức các lí luận hoặc minh chứng của các
nhà khoa học đi trước chưa hoàn chỉnh hoặc chưa đủ
sức thuyết phục nhưng đó là xuất phát điểm quan trọng
cho những phát hiện mới về sau. Vì vậy, thông qua thí
nghiệm sẽ thấy được sự hoàn thiện về mặt khoa học của
kiến thức bằng con đường thực nghiệm. Từ đó, kích
thích sự tìm tòi khám phá của người học.
Sau đây là ví dụ minh họa cho phần giới thiệu về
hoocmôn kích thích sinh trưởng trong bài 35 - Hoocmôn
thực vật (Sinh học 11, Nâng cao):
Quy trình trên được thực hiện theo logic sau:
- Phân tích bài học trên cho thấy, có một số thí
nghiệm liên quan trực tiếp đến nội dung bài học. Đó là:
+ Thí nghiệm nghiên cứu sự di chuyển ở thực vật
(Theo Charles Darwin trong cuốn: “The power of the
movement in plants”) (Darwin & Darwin, 2009).
+ Thí nghiệm phát hiện auxin của Charles Darwin
và Peter Boysen-Jensen.
Nghiên cứu nội dung bài học cho thấy, thí nghiệm của
Charles Darwin và Peter Boysen-Jensen là sự kế thừa của
nhiều công trình nghiên cứu trước đây. Trong đó, phải kể
đến công trình của nhà khoa học cùng tên là Chales
Darwin (Theo: “The Power of Movement in Plants”).
Năm 1880, Charles Darwin đã tiến hành một số thí
nghiệm với hiện tượng hướng quang và đã phát hiện ra
một hoocmon thực vật quan trọng ở các cây mầm họ
Lúa.
Năm 1913, Nhà thực vật người Đan Mạch Peter
Boysen-Jensen tiếp tục thí nghiệm từ ý tưởng của
Darwin. Thí nghiệm được bố trí như hình vẽ sau (Xem
Hình 2):
Trịnh Đông Thư
98 | Tạp chí Khoa học Xã hội, Nhân văn & Giáo dục, Tập 10, số 2 (2020), 95-101
Hình 2. Thí nghiệm phát hiện auxin của Darwin và Peter Boysen-Jensen (Hauxin, n.d.)
1. Nguồn sáng; 2. Cây đối chứng; 3. Cây bị cắt
đỉnh; 4. Đỉnh cây chụp mũ chắn sáng; 5. Đỉnh cây chụp
mũ trong suốt; 6. Gốc cây được bao phủ bằng vòng
chắn sáng; 7. Cây bị cách ly bởi khối gelatin; 8. Đỉnh
cây bị cách li bởi phiến mica.
Sau khi trình bày thí nghiệm được bố trí như hình
vẽ, giáo viên lần lượt đặt câu hỏi theo các đặc điểm của
cây như sau:
Cây 2 (Cây đối chứng): Uốn cong về phía có ánh sáng.
Cây 3 (Cây bị cắt đỉnh bao lá mầm): Không uốn
cong về phía ánh sáng.
Cây 4 (Cây có chụp mũ chắn sáng): Không uốn
cong về phía có ánh sáng.
Cây 5 (Cây có đỉnh chụp mũ trong suốt): Uốn cong
về phía có ánh sáng.
Cây 6 (Cây có gốc được phủ vòng chắn sáng): Uốn
cong về phía có ánh sáng.
Cây 7 (Cây có đỉnh được cách li bởi khối gelatin):
Uốn cong về phía có ánh sáng.
Cây 8 (Cây có đỉnh bị cách li bởi miếng mica):
Không uốn cong về phía có ánh sáng. Tiếp tục định
hướng cho học sinh nhận xét:
- Các cây mầm chỉ hướng về phía ánh sáng khi còn đỉnh.
- Nhóm cây số 7 có mẩu gelatin đặt vào giữa đỉnh
và phần dưới của bao lá mầm làm ngăn cách sự tiếp xúc
tế bào giữa hai phần của cây, nhưng do các hóa chất
khuếch tán nên bao lá mầm có mẩu gelatin vẫn uốn
cong về phía có ánh sáng.
- Mica là vật cản không thấm nước nên nhóm cây
mầm với lớp mica không hướng về phía có ánh sáng.
Phản ứng của các nhóm cây trên chứng tỏ có một
tín hiệu hóa học nào đó được sinh ra ở đỉnh bao lá mầm
gây nên hiện tượng hướng quang.
Trong dạy học, việc sử dụng thí nghiệm để minh họa
cho một quá trình có nhiều mức độ khác nhau tùy thuộc
vào trình độ nhận thức của người học. Cùng một thí
nghiệm, nhưng có thể có nhiều biến dạng khác nhau phụ
thuộc vào “nghệ thuật” sư phạm của người giáo viên.
Sau đây là ví dụ minh họa về hiện tượng rỉ nhựa và
ứ giọt trong bài 1 - Trao đổi nước ở thực vật (Sinh học
11, Nâng cao):
Quy trình trên được thực hiện theo tiến trình sau:
- Sau khi nghiên cứu nội dung bài học, có thể thấy
rằng với hai hiện tượng rỉ nhựa và ứ giọt, học sinh có
thể quan sát được trong thực tế hoặc giáo viên cũng có
thể minh họa bằng thí nghiệm thật minh họa trực tiếp
ngay trên lớp học. Tuy nhiên, hai hiện tượng trên là kết
quả của quá trình vận chuyển của nước từ dung dịch đất
vào lông hút vận chuyển đến mạch gỗ của rễ và vận
chuyển lên thân nhưng các quá trình này học sinh không
thể quan sát được. Vì vậy, để hiểu được bản chất của
hiện tượng rỉ nhựa và ứ giọt, giáo viên có thể sử dụng
phim hoặc thí nghiệm mô phỏng con đường vận chuyển
của nước. đường đi của nước.
- Có thể chọn đoạn phim trên kênh youtube có thời
gian và hình ảnh đẹp phù hợp với nội dung bài học. Có
thể tham khảo đoạn phim (Xem thêm (Elearnin, n.d.)
hoặc sử dụng kết hợp thí nghiệm mô phỏng để mô tả lại
quá trình vận chuyển của nước từ đất vào rễ và lên thân
(Xem Hình 3).
Trịnh Đông Thư
99 | Tạp chí Khoa học Xã hội, Nhân văn & Giáo dục, Tập 10, số 2 (2020), 95-101
Hình 3. Sự vận chuyển của nước ở thực vật
Nguồn: (Lý Thuyết Sinh Học 11 Bài 2: Vận Chuyển Các Chất Trong Cây, n.d.)
- Trong quá trình tổ chức hoạt động dạy học, giáo
viên tiến hành mô tả thí nghiệm thông qua đoạn phim
trên kênh youtube hoặc thí nghiệm mô phỏng hay hình
ảnh minh họa. Đồng thời xây dựng các tình huống hoặc
hệ thống câu hỏi để học sinh thảo luận. Sau đây là một
số câu hỏi để tổ chức thảo luận: Trong tự nhiên khi nào
quan sát được hiện tương rỉ nhựa và ứ giọt? Tại sao có
hiện tượng rỉ nhựa và ứ giọt? Phân biệt hiện tượng ứ
giọt và giọt sương.
Trình bày hiện tượng thông qua thí nghiệm giúp
học sinh hiểu sâu bản chất của vấn đề khoa học. Từ đó
có thể giải thích được các hiện tượng liên quan.
2.4.3. Sử dụng thí nghiệm mô phỏng để tạo tình
huống có vấn đề
Sau đây là ví dụ minh họa thí nghiệm để tạo tình
huống có vấn đề của bài 1 - Trao đổi nước ở thực vật
(Sinh học 11, Nâng cao):
Vận dụng 4 bước của quy trình, quá trình trên được
thực hiện theo tiến trình sau:
- Nghiên cứu nội dung bài học và mục đích sử
dụng, có thể thấy rằng thí nghiệm về áp suất rễ là thỏa
mãn với yêu cầu.
- Thí nghiệm áp suất rễ được tiến hành như sau: Cắt
ngang đoạn thân cây cà chua ở phần gần gốc thấy có
một dòng nước rỉ ra từ phần thân cây bị cắt. Sau đó bịt
phần được cắt và nối với một dụng cụ gọi là áp kế,
người ta đo được 8 at.
- Trong quá trình tổ chức hoạt động dạy học, giáo
viên tiến hành mô tả thí nghiệm thông qua hình vẽ minh
họa (Xem Hình 4) hoặc xem phim thí nghiệm mô phỏng
áp suất rễ trên kênh youtube (TutorVista, n.d.).Từ đó,
đưa ra tình huống sau:
Trong thực tế muốn bơm nước từ vùng thấp đến vùng
cao người ta phải dùng đến động cơ. Đối với cây xanh,
nước vận chuyển nước theo ngược chiều trọng lực tạo nên
một áp suất lớn và cụ thể đo được ở cây cà chua là 8 at.
Vậy động cơ nào bên trong để giúp cây có thể thực hiện
quá trình vận chuyển nước từ đất qua rễ lên thân?
Hình 4. Thí nghiệm chứng minh áp suất rễ (N. K.
Nguyễn, 2011)
Trịnh Đông Thư
100
3. Kết luận
Sử dụng thí nghiệm mô phỏng kết hợp với thí
nghiệm thật để để tổ chức dạy học Sinh học vừa là biện
pháp và cũng là giải pháp. Biện pháp vận dụng trong
dạy học như một lẽ tất yếu mang tính đặc thù của môn
học và cũng phản ánh được logic phát triển của kiến
thức khoa học. Trong vai trò giải pháp, thí nghiệm mô
phỏng khắc phục được những hạn chế mà thí nghiệm
thật gặp trở ngại. Cách làm này không chỉ mang lại hiệu
quả trong việc chuyển tải kiến thức đến người học mà
còn giúp người học có sự chuyển biến sâu sắc về mặt
thái độ. Đó chính là sự nhìn nhận đúng đắn, thấu đáo về
mặt khoa học, đồng thời tạo niềm tin và đam mê với
môn học. Đây chính là giá trị sư phạm của việc hỗ trợ
thí nghiệm thật cũng như sự kết hợp với thí nghiệm mô
phỏng trong dạy học Sinh học.
Tài liệu tham khảo
Board on Behavioral, Cognitive, and Sensory Sciences,
& Division of Behavioral and Social Sciences and
Education. (1999). How People Learn: Brain,
Mind, Experience, and School (p. 6160). National
Academies Press. https://doi.org/10.17226/6160
Darwin, C., & Darwin, F. (2009). The Power of
Movement in Plants. Cambridge University Press.
https://doi.org/10.1017/CBO9780511693670
Department of Education and Science. (2006). Safety in
School Science and Safety in the School
Laboratory—Disposal of Chemicals. Department of
Education and Science.
Elearnin. (n.d.). Transport of Water and Salts in
Plants—Science. Retrieved September 18, 2020,
from
https://www.youtube.com/watch?v=rK2DIF_tgCg
Hauxin. (n.d.). Benjamin Cummings. Retrieved
September 18, 2020, from
https://www2.mcdaniel.edu/Biology/botf99/hormw
eb/hauxin.htm
Irish Science Teachers’ Association. (2000). Leaving
Certificate Biology Practicals—A manual for
teachers and students (ISTA). Irish Science
Teachers’ Association.
Lý thuyết Sinh học 11 Bài 2: Vận chuyển các chất trong
cây. (n.d.). VietJack.Com. Retrieved September 18,
2020, from https://vietjack.com/giai-bai-tap-sinh-
hoc-11/ly-thuyet-van-chuyen-cac-chat-trong-
cay.jsp
Nguyễn, N. K. (2011). Sinh học 11 (Tái bản lần 4) (T.
Đ. Nguyễn & Đ. T. Lê, Eds.). Giáo dục Việt Nam.
Ongzi. (2010, September 15). Ongzi’s SecretGarden:
Plant Growth : once a mystery. Ongzi’s
SecretGarden. https://ongzi-
secretgarden.blogspot.com/2010/09/plant-growth-
1.html
Pashler, H., McDaniel, M., Rohrer, D., & Bjork, R.
(2008). Learning Styles: Concepts and Evidence.
Psychological Science in the Public Interest, 9(3),
105–119. https://doi.org/10.1111/j.1539-
6053.2009.01038.x
Peck, S. L. (2004). Simulation as experiment: A
philosophical reassessment for biological modeling.
Trends in Ecology & Evolution, 19(10), 530–534.
https://doi.org/10.1016/j.tree.2004.07.019
Photosynthesis and Van Helmont Experiment. (2020,
March 28).
https://www.youtube.com/watch?v=wXLqTn6gggs
The National Commission for the Teaching of Biology.
(1986). Teachers’ Handbook of Biology Practicals
for Leaving Certificate Classes.
TutorVista. (n.d.). Root pressure 1. Retrieved
September 18, 2020, from
https://www.youtube.com/watch?v=nFL2YNgNb6
8
USING THE SIMULATION EXPERIMENT
IN TEACHING ORGANISM BIOLOGY FOR HIGH SCHOOL
Abstract: Experiment in teaching is a way to show the feature of experimental subjects in general and biology in particular.
However, there are a few of obstacles and difficulties in using the real experirence, specifically time, object and conditions of
ISSN 1859 - 4603 - Tạp chí Khoa học Xã hội, Nhân văn & Giáo dục, Tập 10, số 2 (2020), 95-101
101
experiment. Therefore, these can prevent the assessment teaching. Correspondingly, Simulation experiments is considered as an
optimal solution to response the requirement of the subject and bring high efficiency in teaching.
Key words: experiment; real experiment; simulation experiment; teaching biology.
Các file đính kèm theo tài liệu này:
su_dung_thi_nghiem_mo_phong_trong_day_hoc_phan_sinh_hoc_co_t.pdf