Sự hiểu biết về bệnh lao ở những bệnh nhân lao/HIV‐AIDS tại bệnh viện Nhân ái năm 2014

KẾT LUẬN Kiến thức về phòng ngừa phát hiện bệnh lao là yếu tố quan trọng cho bệnh nhân HIV/AIDS mắc lao để giúp họ thực hành tốt trong việc điều trị bệnh lao. Tuổi đời, giới tính, trình độ học vấn, nghề nghiệp và thời gian điều trị là các yếu tố liên quan đến kiến thức và thực hành trong việc phòng ngừa và phát hiện bệnh lao ở bệnh nhân HIV/AIDS mắc lao tại bệnh viện Nhân Ái. KIẾN NGHỊ Cần tăng cường hơn nữa công tác thông tin giáo dục truyền thông về phòng, chống lao, xây dựng các loại hình truyền thông phù hợp cho từng đối tượng, phân bổ thời lượng và thời điểm phát thanh thích hợp để người bệnh có thể tiếp cận và nắm bắt được thông tin thường xuyên liên tục. Đẩy mạnh công tác tư vấn hướng dẫn cho bệnh nhân thực hành đúng tuân thủ điều trị là phải uống đúng thuốc, đúng thời gian của phác đồ điều trị và uống đều đặn mỗi ngày không được quên uống thuốc. Hướng dẫn cho bệnh nhân áp dụng đúng biện pháp phòng lây lan cho người khác.

pdf7 trang | Chia sẻ: hachi492 | Ngày: 28/01/2022 | Lượt xem: 32 | Lượt tải: 0download
Bạn đang xem nội dung tài liệu Sự hiểu biết về bệnh lao ở những bệnh nhân lao/HIV‐AIDS tại bệnh viện Nhân ái năm 2014, để tải tài liệu về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 18 * Phụ bản của Số 5 * 2014  Nghiên cứu Y học Chuyên Đề Điều Dưỡng Kỹ Thuật Y Học 225 SỰ HIỂU BIẾT VỀ BỆNH LAO Ở NHỮNG BỆNH NHÂN   LAO/HIV‐AIDS TẠI BỆNH VIỆN NHÂN ÁI NĂM 2014   Lê Văn Học*, Nguyễn Thành Long*, Nguyễn Thị Đức Giang*, Lê Văn Hợp*  TÓM TẮT    Mở đầu: Bệnh lao và HIV/AIDS đang là thảm họa kép của nhân loại, hằng năm hàng triệu người bị mắc và  chết do lao, sự kết hợp giữa lao và HIV là mối quan tâm trên toàn thế giới.  Mục tiêu: Mô tả sự hiểu biết về bệnh lao ở những bệnh nhân HIV/AIDS mắc lao đang điều trị tại bệnh viện  Nhân Ái‐TP. Hồ Chí Minh.  Thiết kế nghiên cứu: Mô tả cắt ngang, 67 bệnh nhân HIV/AIDS mắc lao điều trị tại bệnh viện Nhân Ái.  Các số liệu được thu thập bằng cách phỏng vấn với bộ câu hỏi có cấu trúc.  Kết quả: 67 bệnh nhân lao/HIV‐AIDS đang điều trị tại bệnh viện Nhân Ái: bệnh nhân ở độ tuổi từ 18 đến  45 chiếm 90,9%, tỉ lệ nam mắc bệnh lao 79,1%, trình độ bậc tiểu học chiếm 80,6%. Kiến thức chung đúng chiếm  70,1% (47/67) và thực hành chung đúng chiếm 73,1% (49/67). Mối liên quan có ý nghĩa thống kê giữa kiến thức  và thực hành với đặc điểm nhân khẩu xã hội học trong việc phòng ngừa phát hiện bệnh lao của bệnh nhân HIV‐ AIDS đang điều trị tại bệnh viện Nhân Ái.  Kết luận: Cần đẩy mạnh chương trình giáo dục sức khỏe trong phòng ngừa và phát hiện bệnh lao ở bệnh  nhân HIV‐AIDS.  Từ khóa: Kiến thức, thực hành, lao, HIV/AIDS.  ABSTRACT  KNOWLEDGE OF TUBERCULOSIS IN THE TUBERCULOSIS/HIV‐AIDS PATIENTS   AT THE NHAN AI HOSPITAL IN 2014  Le Van Hoc, Nguyen Thanh Long, Nguyen Thi Duc Giang, Le Van Hop   * Y Hoc TP. Ho Chi Minh * Vol. 18 ‐ Supplement of No 5‐ 2014: 225 ‐ 231  Introduction: Tuberculosis and HIV‐AIDS are the double disaster of human. Every year, millions of people  suffering and die from tuberculosis.  Objective: Describe the understanding of tuberculosis in patients HIV / AIDS with tuberculosis were  treatmenting at Nhan Ai hospital in Ho Chi Minh City.  Study design: cross‐sectional description, 67 patients HIV / AIDS with tuberculosis are being treated at  Nhan Ai hospital in Ho Chi Minh City. Data were collected by interviews with a structured questionnaire.  Results: 67 patients HIV / AIDS with tuberculosis are being treated at Nhan Ai hospital in Ho Chi Minh  city: Percentage of age 18‐45 are 90.9%; rate of men with tuberculosis disease are 79.1%; primary level are  80.6%; Percentage of patients have correct knowledge 70.1% (47/67 patients) and have correct practice 73.1%  (49/67 patients). There are relationship between knowledge and practice with ethnicity characteristics in the  prevention and detection tuberculosis of HIV‐AIDS patients are being treated at Nhan Ai hospital in Ho Chi  Minh City.  Conclusions: the health education programs should strengthen in the prevention and detection of  tuberculosis in HIV‐AIDS patients.  Keywords: knowledge, practice, tuberculosis, HIV‐AIDS. * Bệnh viện Nhân Ái ‐ Sở Y tế TP. Hồ Chí Minh  Tác giả liên lạc: CN Lê Văn Học  ĐT: 0972690585  Nghiên cứu Y học  Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 18 * Phụ bản của Số 5 * 2014 Chuyên Đề Điều Dưỡng Kỹ Thuật Y Học 226 ĐẶT VẤN ĐỀ  Bệnh lao và HIV/AIDS đang là thảm họa kép  của nhân loại. Sự phối hợp mật thiết giữa lao và  HIV/AIDS gây chết người do bệnh này  là  điều  kiện  cho  bệnh  kia  phát  triển,  hằng  năm  hàng  triệu  người  bị mắc  và  chết do  lao,  sự  kết  hợp  giữa lao và HIV là mối quan tâm của toàn cầu. Tỉ  lệ mắc  lao  ở  những  người HIV(+)  khoảng  20‐ 70%. Tiến triển của nhiễm lao trở thành bệnh lao  biểu hiện  lâm sàng ở mỗi cá thể phụ thuộc vào  hệ  thống miễn dịch  của  cá  thể  đó  và  tỉ  lệ  lưu  hành bệnh lao trong công đồng(3,16,19).  Theo  báo  cáo  của WHO  năm  2012,  ít  nhất  một phần ba trong số 34 triệu người nhiễm HIV  trên  toàn  thế giới bị nhiễm  lao(17). Đại dịch HIV  làm  cho  tỉ  lệ  bệnh  lao  tăng  3  lần  kể  từ  năm  1990(20). Châu Á  chịu  tác  động nặng nề  của hai  dịch với 8,4 triệu người bị nhiễm HIV và trên 2  triệu người đồng nhiễm  lao/HIV(18). Theo WHO  ước tính Việt Nam đứng thứ 12 trong số 22 nước  có  tỉ  lệ  người mắc  bệnh  lao  cao  nhất  thế  giới.  Hàng  năm  có  khoảng  180.000  người  mắc  lao  mới, gần 6.000 người bệnh  lao kháng  đa  thuốc  và hơn 21.000 người chết vì bệnh lao(7).  Tại Việt Nam, đến 6/2012 cả nước có 204.019  trường hợp nhiễm HIV hiện  đang  còn  sống(14);  40%  trong  số  đó  cũng  nhiễm  vi  khuẩn  lao  và  nhiều  người  trong  số  họ  đã  phát  triển  thành  bệnh lao. Việt Nam được WHO đánh giá cao về  chất  lượng  phòng,  chống  lao  nhưng  số  người  bệnh lao vẫn tăng không ngừng. Tỉ lệ tử vong ở  người bệnh lao/HIV(‐) khoảng 1‐2% và 20‐25% ở  người  bệnh  lao/HIV(+)(1,6,13).  Theo  kết  quả  điều  tra dịch  tễ  lao  toàn quốc năm 2006 và 2007 của  Chương trình Chống  lao Quốc gia cho biết tình  hình bệnh lao cao hơn ước tính của WHO 1,6 lần  và đặc biệt sự gia tăng bệnh ở lứa tuổi 15‐24 tuổi.  Tỉ  lệ mới  phát  hiện  bệnh  lao  phổi  trong  cộng  đồng  thấp, chỉ đạt 55% do việc phát hiện bệnh  chủ yếu dựa  trên  triệu  chứng ho khạc kéo dài  hơn 2 tuần(1). Tỉ lệ đồng nhiễm lao thể hoạt động  ở người bệnh HIV(+) có sự khác nhau giữa các  tỉnh/thành phố: cao nhất là An Giang 23,1%; Hải  Phòng 10,6%; Quảng Ninh 7,6%; Hà Nội 7,1%;  thành  phố Hồ  Chí Minh  6,5%  và  Đồng  Tháp  5,5%(4). Tỉ lệ nhiễm HIV trong nhóm người bệnh  lao tăng từ 3,6% năm 2009(2) đến 8% năm 2011(5).  Một số khu vực tỉ lệ này cao hơn hẳn như: thành  phố Hồ  Chí Minh  là  9,3%; Hải  Phòng  11,8%,  Bình Dương  là  14%(2).  Tại  bệnh  viện Nhân Ái  qua khảo sát bước đầu cho thấy đa số bệnh nhân  lao/HIV‐AIDS trình độ học vấn thấp; có tiền sử  tiêm chích ma túy lâu năm  nên sự hiểu biết về  bệnh  lao ở những người bệnh này còn hạn chế  nguy cơ  tái phát  lao cao. Nhu cầu về  thông  tin  chưa  được  đáp  ứng một  cách  đầy  đủ,  sự phối  hợp giữa người bệnh, gia đình người bệnh, nhân  viên  y  tế,  các  cấp  chính  quyền  đoàn  thể  chưa  được  đồng bộ,  còn  tâm  lý mặc  cảm  của người  bệnh và  sự kỳ  thị  của  cộng  đồng. Nghiên  cứu  kiến  thức và  thực hành về bệnh  lao/HIV‐AIDS  trong bối cảnh bệnh viện chưa có. Sự hiểu biết về  bệnh  lao của bệnh nhân  lao/HIV  tại cộng đồng  chưa  được  quan  tâm  đúng mức. Xuất  phát  từ  những lý do trên.   Do đó, chúng tôi thực hiện nghiên cứu đề tài  “Sự hiểu biết về bệnh  lao  ở những bệnh nhân  lao/HIV‐AIDS tại bệnh viện Nhân Ái năm 2014”  với mục tiêu  ‐ Xác định tỉ  lệ bệnh nhân  lao/HIV‐AIDS có  kiến  thức  và  thực  hành  đúng  về  phòng  ngừa  phát hiện bệnh lao.  ‐  Xác  định muối  liên  quan  giữa  đặc  điểm  nhân khẩu xã hội học với kiến thức và thực hành  về bệnh  lao  ở những bệnh nhân  lao/HIV‐AIDS  điều trị tại bệnh viện Nhân Ái năm 2014.   ĐỐI TƯỢNG ‐ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU  Đối tượng của nghiên cứu  67 bệnh nhân lao/HIV‐AIDS điều trị tại bệnh  viện Nhân Ái.  Phương pháp nghiên cứu  Thiết kế nghiên cứu  Cắt ngang mô tả và phân tích.  Tiêu chí chọn mẫu  Bệnh  nhân HIV/AIDS mắc  lao  đang  điều  trị  tại  bệnh  viện  Nhân  Ái  trong  thời  điểm  Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 18 * Phụ bản của Số 5 * 2014  Nghiên cứu Y học Chuyên Đề Điều Dưỡng Kỹ Thuật Y Học 227 nghiên cứu.   Tiêu chí loại trừ  Gồm  những  bệnh  nhân  rối  loạn  tâm  thần,  câm  điếc, mù,  bệnh  nặng  có  nguy  cơ  tử  vong  hoặc từ chối hợp tác với nhóm nghiên cứu.   Kỹ thuật thu thập thông tin bằng bộ câu hỏi  chuẩn bị trước để phỏng vấn.  Dữ liệu thu thập được nhập liệu và phân tích  bằng phần mềm  Stata  12.0. Phân  tích mối  liên  quan giữa kiến thức đúng và thực hành đúng về  phòng  ngừa  phát  hiện  bệnh  lao  với  đặc  điểm  dân  số  xã  hội  của  những  bệnh  nhân  lao/HIV‐ AIDS điều trị tại bệnh viện Nhân Ái.  Phép kiểm Chi bình phương và kiểm  định  Fisher được sử dụng để xác định mối liên quan  giữa biến số độc lập với biến số phụ thuộc. mức  độ kết hợp được đo bằng tỉ số tỉ lệ hiện mắc (PR)  và khoảng  tin  cậy 95%  (KTC 95%) với ý nghĩa  thống kê ở mức p<0,05.  Vấn đề y đức  Bệnh nhân  được  chọn vào nghiên  cứu  đều  được giải thích về mục đích nghiên cứu và đồng  ý tham gia nghiên cứu. Tất cả thông tin mà bệnh  nhân cung cấp được bảo mật.   KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU  Bảng 1. Đặc điểm chung của đối tượng tham gia  nghiên cứu (n = 67)  Dân số xã hội Tần số Tỷ lệ (%) Nhóm tuổi 18-29 19 28,3 30 - 45 42 62,6 >45 6 9,1 Trung bình=33,4 Trung vị=32 Độ lệch chuẩn=7,8 Tuổi thấp nhất=18; Tuổi cao nhất=64 Giới tính Nam 53 79,1 Nữ 14 20,9 Trình độ học vấn < Cấp 2 54 80,6 > Cấp 2 13 19,4 Nghề nghiệp CC-VC nhà nước, HS-SV 1 1,5 Làm ruộng, buôn bán, nội trợ 15 22,4 Mất sức lao động, thất nghiệp 3 4,5 Lao động tự do 48 71,6 Thời gian điều trị < 2 tháng 54 19,4 > 2 tháng 13 80,6 Bảng 2: Biết các nguồn thông tin về phòng, chống  bệnh lao từ truyền thông (n = 67)  Biết các nguồn thông tin Tần số Tỷ lệ (%) Phương tiện truyền thông (radio, ti-vi, báo chí, sách vở,) 54 80,5 Gia đình, bạn bè, hàng xóm 41 61,2 Cán bộ y tế (TYT, BV, TTYT) 39 58,2 Cộng tác viên y tế tại địa phương (thôn, xóm, ấp, ) 20 29,8 Bảng 3: Phân bố kiến thức bệnh lao của bệnh nhân  lao/HIV‐AIDS (n = 67)  Nội dung Kiến thức Đúng Sai Tần số (%) Tần số (%) Kiến thức nguy hiểm của bệnh lao 59 (80,5) 8 (19,5) Kiến thức điều trị khỏi của bệnh lao 62 (92,5) 5 (7,5) Kiến thức nguyên nhân gây bệnh lao 44 (65,3) 23 (34,7) Kiến thức về lây truyền bệnh lao phổi 51 (76,2) 16 (23,8) Kiến thức về dấu hiệu, biểu hiện nghi ngờ bị lao 49 (55,2) 18 (44,8) Kiến thức thời gian điều trị bệnh lao 38 (56,7) 26 (43,3) Kiến thức chi phí điều trị bệnh lao 66 (98,5) 1 (1,5) Kiến thức biện pháp ngăn ngừa bệnh lao 23 (34,3) 44 (65,7) Kiến thức chung 47 (71,1) 20 (29,9) Bảng 4: phân bố thực hành bệnh lao của bệnh nhân  lao/HIV‐AIDS (n = 67)  Nội dung Thực hành Đúng Sai Tần số (%) Tần số (%) Thực hành uống thuốc đúng, đủ, đều 55 (82,8) 11 (17,2) Thực hành về tác dụng phụ của thuốc 66 (98,5) 1 (1,5) Thực hành uống thuốc trong ngày 66 (98,5) 1 (1,5) Không tự ý mua thuốc chữa bệnh lao khác 59 (88,5) 7 (11,5) Thực hành không uống rượu bia 58 (86,5) 9 (13,5) Thực hành đưa trẻ đi tiêm ngừa BCG 58 (86,5) 9 (13,5) Thực hành lấy khăn che miệng khi ho 49 (73,1) 18 (26,9) Thực hành có xử lý đàm khi ho, khạc 39 (58,2) 28 (41,8) Không sử dụng chung đồ dùng cá nhân 50 (74,6) 17 (24,4) Thực hành chung 49 (73,1) 18 (26,9) Bảng 5. Mối liên quan giữa kiến thức chung với các  yếu tố dân số xã hội của mẫu nghiên cứu (n = 67)  Dân số xã hội Kiến thức chung P Sai Đúng Nghiên cứu Y học  Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 18 * Phụ bản của Số 5 * 2014 Chuyên Đề Điều Dưỡng Kỹ Thuật Y Học 228 n % n % Nhóm tuổi < 30 5 26,4 14 73,6 0,69 > 30 15 30,5 33 69,5 Giới Nam 12 29,2 41 70,8 0,01 Nữ 8 57,1 6 42,9 Học vấn ≤ cấp 2 16 29,7 38 70,3 0,008 > cấp 2 4* 35,7 9 63,2 Nghề nghiệp Lao động tự do 13 26,9 35 73,1 0,43 Khác 7 36,8 12 63,2 Thời gian điều trị của bệnh nhân < 2 tháng 5 38,5 8 61,5 0,44 > 2 tháng 15 27,8 39 72,2 * Kiểm định Fisher  Bảng 6. Mối liên quan giữa thực hành chung với các  yếu tố dân số xã hội của mẫu nghiên cứu (n = 67).  Dân số xã hội Kiến thức chung P Sai Đúng n % n % Nhóm tuổi < 30 6 31,6 13 68,4 0,009 > 30 12 25 36 75 Giới Nam 13 24,5 40 75,4 0,004 Nữ 5 35,8 9 64,2 Học vấn ≤ cấp 2 14 29,9 40 70,1 0,003 > cấp 2 4* 30,9 9 69,2 Nghề nghiệp Lao động tự do 16 33,4 32 66,6 0,00 Khác 2* 10,6 17 89,4 Thời gian điều trị của bệnh nhân < 2 tháng 1* 7,7 12 92,3 0,001 > 2 tháng 17 31,5 37 68,5 * Kiểm định Fisher   BÀN LUẬN  Về nhóm tuổi  Trong 67 bệnh nhân lao/HIV‐AIDS thì người  thấp  tuổi  nhất  là  18  tuổi,  cao  nhất  là  64  tuổi,  nhóm  18‐45  tuổi  chiếm  90,9%,  nhóm  >  45  tuổi  chiếm 9,1%, nhóm từ 18‐45 tuổi cao gấp 9,9  lần  so  với  nhóm  từ  45  tuổi  trở  lên. Nguyễn  Việt  Cồ(13) thì nhóm từ 15‐34 tuổi chiếm 69,7%; Hỷ Kỳ  Phóong(8) thì tuổi từ 15‐34 tuổi chiếm 84,3%; Lưu  Thị Liên(11)  thấy  lứa  tuổi  từ 15‐44  chiếm 98,2%;  Hoàng Văn Cảnh(7) cho biết lứa tuổi 15‐44 chiếm  92,3%; Nguyễn Minh Lương(15) cho thấy lứa tuổi  15‐44  chiếm  95,2%. Mặc  dù  tỉ  lệ  nhóm  tuổi  bị  bệnh tuy khác nhau, nhưng số liệu của WHO(20)  cũng như nghiên cứu ở các nước khác nhau điều  cho  thấy  đa  số  bệnh  nhân  lao/HIV(+)  còn  trẻ  trong độ tuổi lao động.  Sự khác biệt này phản ánh kết quả chăm sóc  bệnh  nhân HIV/AIDS  hoặc  tuổi  đời  bị  nhiễm  HIV  tại  nơi  đó. Nơi  nào mà  chăm  sóc  người  nhiễm HIV càng tốt hay tuổi bị nhiễm HIV càng  cao  thì số bệnh nhân HIV/AIDS mắc  lao sẽ  tập  trung vào nhóm  tuổi cao, nếu chăm  sóc không  tốt hoặc  tuổi nhiễm HIV  thấp  thì người nhiễm  HIV mắc  lao  tập  trung  ở nhóm  tuổi  thấp. Mặt  khác điều này cũng lý giải là do độ tuổi trẻ là lao  động chính của gia đình và nguồn nhân lực làm  ra của cải vật chất để cống hiến cho xã hội, cho  nên các đối tượng ở độ tuổi lao động này phải đi  làm  việc,  lao  động,  học  tập  thường  xuyên  với  môi  trường bên ngoài có khả năng tiếp xúc với  nhiều người nên dễ bị phơi nhiễm với các yếu tố  nguy cơ vi trùng  lao cao hơn so với nhóm > 45  tuổi trở lên.  Về giới tính  Trong  nghiên  cứu  này  tỉ  lệ  bệnh  nhân  lao/HIV‐AIDS  là nam giới chiếm ưu  thế 79,1%.  Kết  quả  này  so  với  nghiên  cứu  của  Hỷ  kỳ  Phóong(8) nam là 69,1% thì cao hơn nhưng so với  các nghiên  cứu: Nguyễn Việt Cồ(13) nam  chiếm  96,1%; Lưu Thị Liên(11) nam chiếm 96,4%; Hoàng  Văn Cảnh(7) nam chiếm 86,1% và Nguyễn Minh  Lương(15) nam chiếm 90,5% thì thấp hơn. Kết quả  của  chúng  tôi  so  với  nghiên  cứu  của  Lê  Văn  Nhị(9); Lộc Thị Quý(10) thì phù hợp.  Về trình độ học vấn  Nghiên cứu này có 80,6% bệnh nhân nhiễm  HIV/AIDS mắc lao có trình độ học vấn từ cấp 2  trở xuống, 19,4%  từ cấp 3  trở  lên. Trình độ học  vấn có thể ảnh hưởng đến các hành vi của người  nhiễm HIV mắc  lao và chúng  ta biết rằng  trình  độ học vấn có  thể gúp can  thiện  thiệp để ngăn  ngừa bệnh lao. Lưu Thị Liên(11) nghiên cứu bệnh  Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 18 * Phụ bản của Số 5 * 2014  Nghiên cứu Y học Chuyên Đề Điều Dưỡng Kỹ Thuật Y Học 229 lao  thấy  học  vấn  trên  cấp  2  tỉ  lệ  chiếm  29,7%;  Hoàng  Văn  Cảnh(7)  60,4%  học  vấn  trên  cấp  2;  Nguyễn Minh  Lương(15)  trình  độ  học  vấn  trên  cấp 2 chiếm 47,6%. Đem so sánh kết quả nghiên  cứu của chúng tôi với các nghiên cứu trên thì đối  tượng nghiên cứu của chúng tôi có tỉ lệ trình độ  học vấn thấp hơn.  Về nghề nghiệp  Bệnh nhân lao động tự do chiếm tỉ lệ 53,8%;  kế đến là làm ruộng, buôn bán tự do chiếm tỉ lệ  22,4% và thấp nhất là học sinh‐sinh viên chiếm tỉ  lệ 1,4%. Theo nghiên cứu của các tác giả: Hoàng  Văn Cảnh(7) đối tượng không nghề nghiệp chiếm  tỉ lệ 61,2%, làm nông nghiệp chiếm 4%; Lưu Thị  Liên(11)  đối  tượng  thất  nghiệp,  lao  động  tự  do  chiếm tỉ  lệ 70,9%, nghề nghiệp nông dân chiếm  7,3%. Nhiều  nghiên  cứu  trong  nước  cũng  cho  thấy  90%  bệnh  nhân  lao/HIV  là  những  người  không có nghề nghiệp.  Về thời gian điều trị  Nghiên cứu của chúng tôi cho thấy thời gian  điều trị bệnh lao > 2 tháng chiếm tỷ lệ là 80,6%,  cũng khá cao, vì giai đoạn duy trì kéo dài đến 6  tháng, gấp 4  lần giai đoạn tấn công. Bệnh nhân  đang điều trị < 2 tháng chỉ chiếm tỷ lệ 19,4%.  Thông tin về bệnh lao  Trong  nghiên  cứu  này  thì  phương  tiện  truyền thông (radio, ti‐vi, báo chí, sách vở, pa nô,  áp phích, tờ rơi) chiếm tỉ lệ 80,5%; tiếp theo là gia  đình, bạn bè, hàng xóm với tỉ lệ 61,2%; cán bộ y  tế  với  tỉ  lệ  58,2%  và  cộng  tác  viên  y  tế  tại  địa  phương chiếm tỉ lệ thấp nhất là 29,8%.  Kết quả nghiên cứu cho  thấy bệnh nhân có  kiến thức đúng chiếm tỷ  lệ cao ở các nội dung:  về chi phí điều trị bệnh lao chiếm tỉ lệ cao nhất là  98,5%, kế đến kiến thức về điều trị khỏi của bệnh  lao chiếm 92,5% và sự nguy hiểm và tử vong của  bệnh lao chiếm tỉ lệ là 80,5%. Bệnh nhân có kiến  thức đúng có tỉ lệ thấp nhất là: biện pháp phòng  lây nhiễm bệnh  lao với tỉ  lệ  là 43,3%. Tỉ  lệ kiến  thức chung đúng của bệnh nhân biết về bệnh lao  chiếm 71,1%. Mặc dù bệnh nhân  lao/HIV‐AIDS  tại  bệnh  viện  có  những  hiểu  biết  cơ  bản  về  phòng ngừa  lây nhiễm  và phát hiện  bệnh  lao,  nhưng tỉ lệ kiến thức chung đúng về bệnh lao so  với nghiên  cứu  của Nguyễn Minh Lương(15)  tại  Bà Rịa‐Vũng Tàu (56,4%) thì kết quả nghiên cứu  của chúng tôi cao hơn nhưng so với nghiên cứu  của tác giả Jittimanee tại Thái Lan (77%)(12) có tỉ lệ  thấp hơn.  Kết quả nghiên cứu cho thấy bệnh nhân thực  hành đúng chiếm ưu thế ở các nội dung về “tác  dụng  phụ  của  thuốc”  và  “uống  thuốc  trong  ngày”  chiếm  98,5%;  “không  tự  ý  mua  thuốc  chữa bệnh  lao khác”  chiếm 88,5% và  tỉ  lệ  thấp  nhất  là “thực hành có xử  lý đàm khi ho, khạc”  chiếm 58,2%.  Nghiên cứu cho  thấy bệnh nhân  thực hành  chung đúng chiếm  tỉ  lệ 73,1%. Kết quả này cao  hơn so với nghiên cứu của Nguyễn Minh Lương  71,8%(11). Có thể đối tượng trong nghiên cứu của  chúng tôi được: tư vấn tốt, điều trị nội trú nên họ  biết làm theo hướng dẫn thực tế của nhân viên y  tế nhiều  lần,  cho nên  có  tỉ  lệ  thực hành  chung  đúng cao hơn của các tác giả trên.  Mối liên quan giữa kiến thức với đặc điểm  dân số xã hội của mẫu nghiên cứu  Sự khác biệt  có ý nghĩa  thống kê giữa giới  tính với kiến thức chung đúng về bệnh lao với p  = 0,01<0,05 PR=0,2; KTC 95% 0,05‐0,90.  Sự khác biệt có ý nghĩa thống kê giữa trình  độ  học  vấn  với  kiến  thức  chung  đúng  về  phòng ngừa  lây nhiễm và phát hiện bệnh  lao  của bệnh nhân với p= 0,008<0,05; PR=0,18; KTC  95% 0,03‐0,80.  Sự  khác  biệt  không  có  ý  nghĩa  thống  kê  giữa nhóm tuổi, nghề nghiệp và thời gian điều  trị với kiến  thức chung về bệnh  lao của bệnh  nhân (p > 0,05).  Mối liên quan giữa thực hành với đặc điểm  dân số xã hội của mẫu nghiên cứu  Sự khác biệt có ý nghĩa thống kê giữa nhóm  tuổi với thực hành chung đúng về bệnh lao với p  0,009<0,05; PR=0,15; KTC 95% 0,03‐0,56.  Sự khác biệt  có ý nghĩa  thống kê giữa giới  tính với thực hành chung đúng về phòng ngừa  Nghiên cứu Y học  Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 18 * Phụ bản của Số 5 * 2014 Chuyên Đề Điều Dưỡng Kỹ Thuật Y Học 230 lây  nhiễm  và  phát  hiện  bệnh  lao  với  p=0,004<0,05; PR= 0,18; KTC 95% 0,04‐0,74.  Sự khác biệt có ý nghĩa thống kê giữa trình  độ học vấn với thực hành chung đúng về phòng  ngừa  lây  nhiễm  và  phát  hiện  bệnh  lao  với  p=0,003<0,05; PR=0,15; KTC 95% 0,03‐0,68.  Sự khác biệt có ý nghĩa thống kê giữa nghề  nghiệp với  thực hành chung  đúng về bệnh  lao  với p=0,000<0,05; PR=0,05; KTC95% 0,006‐0,30.  Sự khác biệt  có ý nghĩa  thống kê giữa  thời  gian điều trị của bệnh nhân với thực hành chung  đúng về hiện bệnh lao với p=0,001<0,05; PR=0,03;  KTC95% 0,008‐0,31.  KẾT LUẬN  Kiến thức về phòng ngừa phát hiện bệnh lao  là yếu  tố quan  trọng cho bệnh nhân HIV/AIDS  mắc lao để giúp họ thực hành tốt trong việc điều  trị bệnh lao.  Tuổi  đời,  giới  tính,  trình  độ học  vấn, nghề  nghiệp  và  thời  gian  điều  trị  là  các  yếu  tố  liên  quan  đến  kiến  thức  và  thực  hành  trong  việc  phòng ngừa và phát hiện bệnh lao ở bệnh nhân  HIV/AIDS mắc lao tại bệnh viện Nhân Ái.  KIẾN NGHỊ  Cần tăng cường hơn nữa công tác thông tin  giáo dục truyền thông về phòng, chống lao, xây  dựng  các  loại  hình  truyền  thông  phù  hợp  cho  từng đối tượng, phân bổ thời lượng và thời điểm  phát thanh thích hợp để người bệnh có thể tiếp  cận  và  nắm  bắt  được  thông  tin  thường  xuyên  liên tục.  Đẩy mạnh  công  tác  tư vấn hướng dẫn  cho  bệnh nhân  thực hành đúng  tuân  thủ điều  trị  là  phải uống đúng thuốc, đúng thời gian của phác  đồ  điều  trị  và  uống  đều  đặn mỗi  ngày  không  được  quên  uống  thuốc. Hướng  dẫn  cho  bệnh  nhân áp dụng đúng biện pháp phòng lây lan cho  người khác.   TÀI LIỆU THAM KHẢO  1. Bộ Y tế (2009), Báo cáo kết quả Chương trình Chống lao Quốc  gia, Chương trình Chống lao Quốc gia, tr.02‐04,07,12.  2. Bộ Y Tế (2012), Quyết định số 2494: Về khung kế hoạch phối  hợp  giữa  chương  trình  mục  tiêu  quốc  gia  phòng  chống  HIV/AIDS  và  dự  án  phòng  chống  bệnh  lao  thuộc  chương  trình mục tiêu quốc gia y tế, giai đoạn 2012‐2015.  3. Bệnh viện Phạm Ngọc Thạch (2009), Chương trình chống lao  TP.  Hồ  Chí  Minh,  Báo  cáo  hoạt  động  chống  lao  2008  –  Phương hướng hoạt động 2009.  4. Cục phòng chống HIV/AIDS  (2009), Kết quả giám sát  trọng  điểm năm 2008, Bộ Y tế, tr.06,12.  5. Đỗ Hoài Thanh (2005), Nghiên cứu tình hình Lao/HIV(+) tại 6  tỉnh có tỉ lệ nhiễm HIV/100.000 dân cao, tr.19‐27.  6. Hoàng Thị Quý và  cs  (2006), “Kháng  sinh  đồ &  tình  trạng  nhiễm HIV và kết quả điều trị ở bệnh nhân lao phổi AFB(+)  tại TP. Hồ Chí Minh”, Việt Nam. Int J Tuberc Lung Dis 10(1),  tr.45‐51.  7. Hoàng Văn Cảnh (2009), Nghiên cứu sự tuân thủ điều trị lao  và hiểu biết  của người bệnh  lao  có HIV về bệnh  lao  tại 14  Quận huyện thành phố Hà Nội, luận án thạc sĩ y học, Đại học  Y Hà Nội.  8. Hỷ Kỳ Phoóng, Nguyễn Thu Hà, Lưu Sinh Cơ (2002), Nghiên  cứu một số đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng và điều trị lao  nhiễm HIV tại Hà Nội (1999‐2000‐2001).  9. Lê Văn Nhi (2003), “Nghiên cứu dịch tễ và các hình thái lâm  sàng lao/HIV(+) tại thành phố Hồ Chí Minh, năm 1993‐1998”,  Luân án tiến sỹ y học, Đại học Y Dược TP. Hồ Chí Minh, năm  2003.  10. Lộc Thị Qúy  (2003),  “Hiệu  quả  điều  trị  lao  ở  nhóm  người  lao/HIV(+)  trong  chương  trình  chống  lao  tại  thành phố Hồ  Chí Minh 1995‐1999”, Luân án tiến sỹ y học, Đại học Y Dược  TP. Hồ Chí Minh.  11. Lưu Thị Liên (2007), “Nghiên cứu đặc điểm dịch tễ học bệnh  lao và lâm sàng, cận lâm sàng Lao/HIV tại Hà Nội”, Luận án  tiến sĩ y học, Học viện quân y năm 2007, tr8‐9.  12. Ngowi  BJ,  Mfinanga  SG,  Bruun  JN,  Morkve  O.  (2008),  “Pulmonary  tuberculosis  among  people  living  with  HIV/AIDS  attending  care  and  treatment  in  rural  nothem”,  Tanzania BMC Public Health., 30(8), pp.341.  13. Nguyễn Việt Cồ và CS (2000), “Tình hình bệnh lao trên người  nhiễm HIV/AIDS ở Việt Nam. Một số nhận xét về đặc điểm  lâm sàng và điều trị” kỷ yếu công trình nghiên cứu khoa học  về HIV/AIDS quốc gia Hà Nội năm 2000, tr.132‐135.  14. Nguyễn Việt Cồ và CS  (2002), “Đại  cương bệnh  lao”, Bệnh  học lao, nhà xuất bản Y học, tr.5‐7.  15. Nguyễn Minh Lương, (2009), “Tỉ lệ lao phổi và các yếu tố liên  quan ở người nhiễm HIV tại Trung tâm Giáo dục Lao động  xã hội  tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu năm 2009”, Luận án bác  sỹ  chuyên khoa cấp 2, Chuyên ngành Quản  lý Y  tế, Đại học Y  Dược TP. Hồ Chí Minh năm 2009.  16. Phan Trọng Khánh (2011), Đổi mới phương thức hành động  để  tiến  tới  thanh  toán  bệnh  lao,  ‐moi‐ phuong‐thuc‐hanh‐dong‐de‐tien‐toi‐thanh‐toan‐benh‐lao‐ 2040292/  17. Phạm Long Trung (1999), “Lao và HIV”, Bệnh học lao – Bệnh  phổi, tập 2, Nhà xuất bản Đà Nẵng, tr.25‐31, 54‐88, 248‐253.  18. Trần Viết Tiến (2004), Biểu hiện lâm sàng, thay đổi một số chỉ  tiêu miễn dịch và tác dụng hổ trợ điều trị của Angala ở bệnh  nhân nhiễm HIV/AIDS  tại Hà Nội. Luận  án  tiến  sỹ y học‐ 2004, tr.55‐64.  19. Trịnh Minh Hoan, Nguyễn Văn Cử, Định Ngọc Sỹ (2006), “Tỷ  lệ đồng nhiễm lao/HIV qua phát hiện chủ động ở bệnh nhân  lao tại tỉnh Khánh Hòa, Quản Ninh, Thái Nguyên, Thái Bình‐ Quý  II và  IV năm 2005”. Bộ Y  tế‐Dự án phát  triển công  tác  Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 18 * Phụ bản của Số 5 * 2014  Nghiên cứu Y học Chuyên Đề Điều Dưỡng Kỹ Thuật Y Học 231 phòng chống  lao trong khu vực dân cư có nguy cơ mắc  lao  cao,  vùng  sâu,  vùng  xa  và  nhóm  người HIV/AIDS.  Tháng  7/2006.  20. WHO  (2007), Chiến Lược Ngăn Chặn Bệnh Lao, Kế Hoạch  Toàn Cầu Kiểm  Soát  Bệnh  Lao  2006‐2015  và  các mục  tiêu  kiểm soát bệnh lao.  Ngày nhận bài báo:        05/9/2014  Ngày phản biện nhận xét bài báo:    29/9/2014  Ngày bài báo được đăng:  20/10/2014 

Các file đính kèm theo tài liệu này:

  • pdfsu_hieu_biet_ve_benh_lao_o_nhung_benh_nhan_laohivaids_tai_be.pdf
Tài liệu liên quan